Sidebar

Thứ Tư
17.08.2022

Chương 18: Từ Cách Mạng Pháp Đến vatican I_Bài Đọc Thêm


BÀI ĐỌC THÊM

ĐỨC PIO VI LÊN ÁN CÁC NGUYÊN TẮC CÁCH MẠNG PHÁP
(Đoản sắc Quod Aliquantum 1791)

... Quyền tự do tuyệt đối chẳng những tạo ra quyền khỏi phải bận tâm đến những ý kiến của tôn giáo, lại còn cho phép nghĩ, viết, xuất bản về tôn giáo cách vô tội vạ, bất cứ cái gì do trí tưởng tượng gợi ra. Quyền quái lạ như thế mà Nghị hội dám coi là quyền tự nhiên của con người

Còn gì vô tâm hơn việc thiết lập giữa con người thứ bình đẳng tự do phóng túng này, nó sẽ giết chết lý trí ... Còn gì trái ngược với quyền của Thượng Đế Hóa Công, Đấng hạn chế tự do con người bằng cấm đoán làm điều ác, hơn thứ tự do suy nghĩ hành động, mà quốc hội thuận cho con người trong xã hội, như một thứ quyền tự nhiên không thể hủy diệt !!!
(A.LATREILLE, Giáo hội Công giáo và cuộc Cách Mạng Pháp, I,tr.98)

ĐỨC KITÔ - NHÀ CÁCH MẠNG

Một số linh mục và văn sĩ muốn chứng tỏ điều trên nhưng không được dư luận hưởng ứng bao nhiêu.

Đức Giêsu đích thực là kẻ không quần chẽn, một người Cộng Hòa chính gốc. Ngài đã triển khai tất cả những nguyên tắc về bình đẳng luân lý và chủ nghĩa ái quốc tinh túy nhất. Ngài đương đầu với mọi nguy hiểm : Ngài chống lại bọn quyền thế mà thời nào cũng vậy, đều lạm dụng quyền hành ; Ngài chế diễu bọn giàu có cứng lòng ; Ngài tấn công sự kiêu ngạo của các vua và đám tư tế (...)

Con Thiên Chúa đã đứng lên chống lại giới quí tộc trong nước. Anh em của tôi ơi, hãy suy niệm về chân lý này. Ngài không ngừng làm cho quần chúng phẫn nộ về những bạo chúa trong dân, bọn làm tiền bất chính, những kẻ độc đoán trong tư duy và tất cả những kẻ áp bức . Bọn quý tộc kiêu hãnh đánh lừa đám đông duy nịnh họ, và Thổi vào tâm hồn những kẻ nô lệ chúng sự điên cuồng, chống lại Đấng giải phóng con người. Cuối cùng, thưa anh em, tôi xin vui lòng chết sau khi nói xong lời này: "Chính bọn quí tộc đã đóng đanh Con Thiên Chúa".
(Trích F.P.BOWMAN, Le Christ romantique. Droz, 1973)

GIẢI TRỪ KITÔ GIÁO

Linh mục Bévalet, nguyên cha chính Strasbourg, gửi chủ tịch Quốc Ước Nghị Hội chứng thư linh mục, tỏ ra hết mình với cách mạng.

Ngày 25 tháng Brumaire 1793, năm thứ hai nước Cộng Hòa Pháp duy nhất bất khả phân

Thưa công dân chủ tịch,

Tôi kính gửi ngài chứng thư linh mục của tôi. Tôi xin bày tỏ nơi đây lòng biết ơn của tôi với Hội Quốc Ước. Một giấy chứng nhận yêu nước quả xứng với lòng nhiệt thành tôi đã không ngừng bày tỏ từ thời cách mạng, nhằm ủng hộ quyền con người và ủng hộ vinh quang của chế độ Cộng hòa. Đó là tước vị danh dự duy nhất mà tôi gìn giữ và gắn bó bằng mọi giá.

Là linh mục đầu tiên của Alsace từng được đeo phù hiệu quốc gia, tôi là người tuyên thệ từ ngày đầu tiên ; người đầu tiên đã hiến những vòng bạc làm tặng phẩm yêu nước ; là sáng lập viên hội Belfort, người đầu tiên ở Strasbourg đã xé tấm màn giả hình bao trùm lên thành phố dị đoan và cuồng tín này (...)

Tôi tuyệt đối không cần của cải mà cũng chẳng có lo âu hay tham vọng nào cả, sự công bằng của hội quốc ước làm tôi an tâm. Tuy nhiên, nếu tôi xin Hội Quốc Ước điều gì, tôi xin đừng để tôi ở không, hãy sử dụng tôi sao cho có lợi cho nền cộng hòa.
(Document d'Histoire 1776-1850, I, A. Colin 1944,tr.72)

CÔNG ĐỒNG TOÀN QUỐC PHÁP - 1797

Khi được quyền tự do phụng tự (th 2-1795) giáo hội Dân Hiến đang suy yếu vì nhiều linh mục đã hổi tục. Từ 15-8 đến 12.11.1797 khoảng 30 giám mục, 60 linh mục và nhiều đại biểu trưởng lão và các địa phận về họp ở Paris.

* Sắc lệnh I về phụng vụ
* Điều 1. Cấm cử hành nhiều thánh lễ cùng lúc tại một nhà thờ
* Điều 3. Trong thánh lễ xứ đạo, các mục tử không bao giờ bỏ đọc thánh thư, Phúc Âm cho tín hữu sau lời nguyện đầu lễ cùng đôi lời giải thích (...) Công đồng mong muốn trong mọi thánh lễ đều đọc như thế.
* Điều 4. (...) Trong mọi trường hợp, không thể cho phép linh mục dâng hai thánh lễ một ngày.
* Điều 6. Giáo hữu muốn rước lễ thì rước ngay sau linh mục. Trừ trường hợp khẩn thiết, không được bỏ luật này.
* Sắc lệnh II về phụng vụ
Công đồng quốc gia xét rằng phụng vụ phải cố hết sức liên kết tín hữu với lời kinh của chủ tế bằng cách giúp họ hiểu chúng, tuy nhiên việc áp dụng nguyên tắc này còn tùy thuộc sự khôn ngoan Kitô giáo do hoàn cảnh đòi hỏi, nay quyết định
* Kể từ ngày ban hành sắc lệnh này, lời nguyện đầu lễ được soạn bằng ngôn ngữ bình dân (Pháp) tại mọi nhà thờ công giáo Pháp.
* Trong việc soạn cuốn lễ nghi thống nhất cho giáo hội Pháp, các bí tích cử hành bằng tiếng Pháp, phần mô thức sẽ dùng la ngữ.
* Trong các địa phận quen dùng Thổ ngữ, xin các mục tử nỗ lực gấp đôi để phổ biến tiếng Pháp.
(JC. Để đọc LSGH II,t. 97)

RÚT KINH NGHIỆM TỪ VIỆT NAM

* Chỉ thị về các trùm họ và thầy giảng tận hiến truyền bá đức tin (8-2-1976)

Lm. Linsolas, cha chính địa phận Lyon tổ chức giáo hội theo mẫu giáo hội chịu bách hại ở Bắc Việt Nam.

(...) Chính nhờ lòng sốt sắng và nhiệt thành của các thầy giảng tại Trung Hoa, Bắc Việt và các miền truyền giáo khác ở nước ngoài, các thừa sai giữ vững được giáo hội giữa những lời dụ dỗ hằng ngày, giữa bách hại liên tục của thế gian và ma quỷ hợp sức chống lại sự tiến triển của đức tin. (...) Tại quê hương bất hạnh của chúng ta, tôn giáo đang bị cô lập cũng gặp các khó khăn y như những miền theo ngẫu thần giáo. Việc thiết lập chức Trùm các họ đạo và các thầy giảng, qua kinh nghiệm thành công, nay trở thành một nguồn quý giá và khẩn thiết, có thể gìn giữ ngọn đuốc đức tin sẵn sàng chuyển đến cho các nước khác (...)
(JC.Để đọc LSGH II,t.98)

LẬP TRƯỜNG NAPOLÉON I VỀ TÔN GIÁO

Chính sách của tôi là cai trị người ta theo như đa số họ muốn . Tôi nghĩ đó là cách để biết ý dân. Chính vì là Công giáo, tôi đã kết thúc cuộc chiến Vendée ; chính vì tôi thành Hổi giáo, tôi đã chiếm đóng Ai Cập; nhờ chọn theo Ultramontain (bên kia núi Alpes, ủng hộ giáo hoàng) mà tôi được lòng tại Ý . Nếu tôi cai trị dân Do Thái, tôi sẽ tái thiết đền thờ Salomon. (16-8-1800 au Conseil d'État).

[1801] Tôn giáo là một thứ chủng ngừa hay vaccine, bảo đảm cho ta khỏi đám lang băm và phù thủy, bằng cách thỏa mãn lòng ưa thích điều huyền bí của ta ; các linh mục đáng giá hơn mọi ông Kant và những kẻ mơ mộng bên Đức. Làm sao có trật tự trong một nước mà không có tôn giáo được ? Xã hội không thể tồn tại mà không có sự chênh lệch về của cải, mà chênh lệch của cải không thể tồn tại nếu không có tôn giáo. Một người chết đói ở cạnh người dư dật, nó không thể chấp nhận sự khác biệt ấy nếu ở đó không có một quyền bính nói với nó rằng : "Thiên Chúa muốn như thế, phải có người giàu kẻ nghèo trên thế gian này ; nhưng rồi đây trong cõi vĩnh cửu, việc phân chia sẽ khác hẳn".

[...] Tôi chẳng quan tâm mầu nhiệm nhập thể trong tôn giáo, nhưng là mầu nhiệm trật tự xã hội. Tôn giáo đưa đến ý niệm bình đẳng trên trời cao. Điều đó để ngăn cản người giàu không bị kẻ nghèo tàn sát.
(JC.Để đọc LSGH II,t.99)

THỎA ƯỚC 1801
(Giữa Đức Piô VII và chính phủ Pháp)

Chính phủ nước Cộng Hòa nhìn nhận đạo Công giáo tông truyền và Roma là tôn giáo chiếm đa số công dân.

Đức Thánh Cha cũng nhìn nhận tôn giáo này đã sa sút và hiện vẫn chờ thiện ích lớn nhất, cũng như vinh dự lớn nhất, được tái lập việc phụng tự công giáo tại Pháp và tuyên xưng niềm tin riêng biệt mà các Tổng Tài nước Cộng Hòa đã làm. Vì thế, sau khi hiểu biết lẫn nhau, vì lợi ích tôn giáo cũng như gìn giữ bình yên trong nước, nay thỏa thuận như sau :

1. Đạo công giáo tông truyền và Rôma sẽ được tự do sinh hoạt tại Pháp; việc phượng tự được công khai phù hợp với luật lệ an ninh mà chính phủ xét là cần thiết vì trật tự chung.

2. Việc phân chia mới các ranh giới địa phận tại Pháp sẽ được Tòa Thánh cùng chính phủ thực hiện.

3. Đức Thánh Cha tuyên bố cho những vị có chức Giám Mục ở Pháp rằng Ngài chờ đợi nơi họ với sự tín nhiệm vững chắc, mọi loại hy sinh kể cả tòa giám mục, vì lợi ích hòa bình và hiệp nhất.
(JC.Để đọc LSGH II,t.100)

CÁC KHOẢN VỀ TỔ CHỨC

Những luật lệ an ninh trong khoản một của bản Thỏa Ước, được khai triển vượt quá chính Thỏa Ước. Giáo hoàng không được tham khảo ý kiến về vấn đề này.

1. Bất cứ là sắc chỉ, đoản thư, phúc thư, sắc lệnh, giấy ủy nhiệm, chứng thư, chữ ký bảo chứng hay thứ gì khác do Roma gởi đến, dù chỉ liên hệ một số người đặc biệt, cũng không được nhận, phổ biến, in ấn hay thi hành cách nào cách khác mà không có phép của chính phủ.

2. Không cá nhân nào tự xưng là sứ thần, đặc sứ, đại diện hoặc Ủy viên Tông Tòa hay tự nhận bất cứ danh hiệu nào khác, nếu không được phép, thì không thể hoạt động trên lãnh Thổ Pháp cũng như nơi khác về các việc có liên quan đến giáo hội Gaulois...

24. Những ai được chọn dạy các chủng viện phải ký nhận tuyên ngôn hàng giáo sĩ Pháp đã soạn năm 1682 ... Họ sẽ phải tuân phục dạy trong chủng viện giáo thuyết đã hàm chứa trong đó. (Tuyên ngôn 1682, xc chương XII)
(JC. Để đọc LSGH II, t.100)

QUYỀN GIÁO HOÀNG ĐẦU THẾ KỶ XIX

Joseph de Maistre và Lamenais coi quyền giáo hoàng là nền tảng cho toàn xã hội như vậy họ chống lại Pháo giáo lẫn các giám mục, nhưng lại gần với quần chúng ngày càng ngưỡng mộ giáo hoàng hơn xưa.

* Joseph de Maistre

Không có giáo hoàng thì chẳng còn Kitô giáo nữa, và hậu quả không thể tránh được là trật tự xã hội bị thương tổn ... Giáo hội phải được cai quản như bất cứ hiệp hội bất kỳ nào khác ; bằng không sẽ chẳng còn việc liên kết, tụ họp và thống nhất nữa. Vì thế việc cai trị này tự bản chất thì vô ngộ, nghĩa là tuyệt đối bằng không sẽ chẳng cai quản nữa (...) Giả thuyết mọi đế vương Kitô giáo liên kết trong tình huynh đệ tôn giáo thành một dạng cộng hòa quốc tế dưới quyền thiêng liêng tối thượng, không có gì là chướng cả. (Du pape, 1891)

* Lamenais

Không có giáo hoàng sẽ chẳng có Giáo hội, không Giáo hội thì chẳng có Kitô giáo, mà không có Kitô giáo thì chẳng còn tôn giáo hay xã hội nữa. Như chúng tôi đã nói, đời sống các nước Châu Âu bắt nguồn, một nguồn duy nhất, từ quyền giáo hoàng.

Nếu đạo Công giáo vẫn có ảnh hưởng cả trong những nơi niềm tin không còn giữ vai trò chủ đạo, không chống lại sự phát triển lòng cứng tin của Tin Lành, thì người ta đã không còn thấy dấu vết Kitô giáo nào từ lâu rồi. Và trong những miền đó, nếu còn có cư dân, chúng sẽ là những chủng tộc man di dữ tợn và xấu xa hơn mà thế gian chưa từng thấy ; và số phận toàn Âu Châu sẽ là thế đó nếu đạo Công giáo bị sụp đổ hoàn toàn. Vì thế, mọi tấn công chống lại quyền giáo hoàng là phạm tội khinh khi tôn giáo, đối với người Kitô hữu ngay lành; còn với nhân viên quốc gia, đó là tội phản văn minh và phản xã hội.
(De la religion considérée dans ses rapports
avec l'ordre social, 1825 (JC.Để đọc LSGH II, t.106)

TINH THẦN DÒNG TU THẾ KỶ XIX

Guillaume Chaminade (1761-1850) sáng lập tu hội Marianist gồm hai ngành nam và nữ. Trong lá thư luân lưu 1839 này, cha đã nêu lên lý do thành lập. Đó cũng là nét đặc trưng của khá nhiều hội dòng vào tiền bán thế kỷ XIX.

Mọi lạc giáo đã phải cúi đầu trước Rất Thánh Trinh Nữ... Ngày nay, lạc giáo lớn đang ngự trị chính là sự dửng dưng với tôn giáo, nó sẽ mê hoặc các tâm hồn trong sự ù lì ích kỷ và chán nản của dục vọng. Hố vực thẳm phun lên thành ngọn đám khói đen kịt và hôi thối, đe dọa bao trùm cả địa cầu trong đêm tối mù mịt, vắng bóng điều lành, đầy dẫy điều ác và có thể nói Ánh Dương Chân Lý không sao chiếu vào nổi. Còn ngọn đuốc thần linh của đức tin thì lịm dần và tắt hẳn trong lòng Nước Kitô, khiến nhân đức ngày càng hiếm hoi và nết xấu sổ lồng giận dữ đáng sợ. Dường như chúng ta sống trong giai đoạn tiên báo của thời kỳ rã ngũ toàn diện và như thời kỳ hầu như khắp thế giới đã bỏ đạo trong hành động (...)

Chúng ta, rốt hết sau mọi người, chúng ta tin mình được chính Đức Maria kêu mời để hết sức trợ giúp Mẹ đấu tranh chống lại lạc giáo lớn của thời chúng ta. Chúng ta đã chọn châm ngôn như đã tuyên bố trong Hiến Pháp, những lời sau của Rất Thánh Trinh Nữ nói với những người giúp việc ở Cana : "Người bảo gì cứ làm theo"; xác tín về sứ mạng chúng ta dù chúng ta yếu hèn, là phục vụ tha nhân tất cả những công trình nhiệt tâm và thưong xót, vì thế chúng ta tận dụng mọi phương thế để bảo vệ và chữa lành họ khỏi bị tiêm nhiễm sự ác, dưới khẩu hiệu chung là giáo dục phong hóa Kitô giáo, và theo tinh thần này chúng ta xem đó là đối tượng của một lời khấn riêng biệt.
(JC. Để đọc LSGH II,107)

BÁO AVENIR

(...) Tôi không nghĩ rằng có ai, không mù không điếc, đã sống sáu tháng ở Roma, dù cố gắng đến mấy, lại có thể dấu chính mình về sự thật đáng buồn này : Giáo hội Công giáo hiện đang bị cai trị bởi những người thờ ơ với mọi nguyên tắc, chỉ tìm một mục đích và một luật lệ duy nhất là những quyền lợi trần thế, và về quyền lợi cuối cùng, nghĩa là quyền lợi chính trị vượt trên mọi quyền khác, tôi không loại trừ ai cả.

Càng mở mắt nhìn, tôi càng không thể không thấy Roma ngày nay họa lại chính xác hội đường (Do thái) thời Đức Giêsu. Nhóm Saducê, do phủ quốc vụ khanh đại diện, bận tâm đến lạc thú, tiền tài và thế lực, mang dấu vết của sự dua nịnh bỉ ổi và sự cấu kết hèn nhát với Hêrôđê, tổ chức một triều đình mẫn cán với các Philatô khôn khéo, luôn sẵn sàng đóng đinh Đức Kitô, chỉ vì ngài quấy nhiễu một chút chính sách của họ, hoặc ngài đe dọa sự hỗn độn của họ; và thực tế họ đóng đanh ngài mỗi ngày vì lý do quốc sự (raison d'Etat). Còn đám Pharisiêu, chúng chẳng tin gì cả, tôi không biết họ còn sót lại niềm tin nào mà họ dám bóp méo để phù hợp với dục vọng của họ, thì còn tệ hơn nhiều (...) Do đó tôi kết luận, cần Thiên Chúa phải can thiệp trực tiếp mới cứu được Kitô giáo đích thực (...)

Nhưng điều đã dứt khoát ở trong trí tôi, là tôi sẽ không quan tâm, bất cứ cái gì, đến những chuyện tôn giáo nữa. Những chiến đấu của tôi vì giáo hội đã chấm dứt. Những người khác có thể bảo vệ giáo hội giỏi dang hơn, may mắn hơn, nhưng chưa chắc có lương tâm hơn. Từ nay chính nghĩa của tôi, là chính nghĩa của tổ quốc tôi cũng như của mọi quốc gia, đó là chính nghĩa chung của quyền tự do theo hướng thuần túy chính trị. Chính vì nó, tôi dốc hết tâm lực trong những ngày cuối đời tôi... vì triết học sẽ không gây nên các "thông điệp".
(Lamenais, Correspondance tập V - JC. Để đọc LSGH II,115)

LỜI MỘT TÍN HỮU

Với tập sách này Lamenais đoạn giao với tổ chức Giáo hội. Bằng giọng văn tiên tri và khải huyền ông lên án sự cấu kết giữa Giáo hội với các thế lực chống lại quyền tự do của con người.

* Thị kiến bảy ông vua

Vua thứ nhất cầm bình đầy máu đổ vào cái sọ và uống. Thức uống đó dường như làm ông mạnh hẳn lên. Rồi ngẩng đầu lên, từ lồng ngực thoát ra tiếng kêu đục khàn : "Khốn thay cho ông Kitô Kẻ đã mang tự do đến trên trái đất ! "

Đoạn sáu ông đội vương miện khác đồng loạt đứng lên, và đồng thanh thoát lên cùng tiếng kêu ấy : "Khốn thay cho ông Kitô Kẻ đã mang tự do đến trên trái đất ! "

Khi vị thứ bảy uống trong sọ người như các vị khác, chân đạp trên thập giá ông nói thế này:

Với ông Kitô, sẽ có tử chiến, cuộc chiến đời đời giữa y và chúng ta. Nhưng làm thế nào để tách dân ra khỏi y ? Đó là một cố gắng vô ích. Vậy phải làm gì đây ? Xin hãy nghe tôi: cần phải chiếm bằng được các linh mục của ông Kitô bằng của cải danh vọng và quyền lực. Rồi dù chúng ta làm gì, chúng ta ra lệnh chi, họ sẽ điều khiển dân thuộc về ông Kitô tùng phục chúng ta trong mọi sự (Chương XIII).
(JC. Để đọc LSGH II,t.116)

MỌI NGƯỜI ĐỀU LÀ CỘNG HÒA (1848)

"Hãy nêu gương cho các tín hữu về vâng lời và tùng phục Nhà Nước Cộng Hòa. Anh em vẫn thường khấn xin được hưởng sự tự do đã làm anh em ta ở Hoa Kỳ vui sướng; sự tự do này anh em sẽ có. Nếu chính quyền muốn dựng cờ tổ quốc tại các cơ sở tôn giáo, anh em hãy mau mắn đáp ứng ý muốn của các cấp chính quyền. Lá cờ Cộng Hòa sẽ mãi mãi là lá cờ bảo vệ tôn giáo... Hãy cộng tác bằng mọi cách cải thiện đời sống thợ thuyền. Phải hy vọng rằng người ta sẽ biểu lộ sự quan tâm chân thành và hữu hiệu với giai cấp lao động". (Hồng Y Bonald gửi các linh mục)

Thưa các công dân , Đức Giêsu Kitô là người đầu tiên từ đỉnh cao thập giá, đã công bố cho khắp hoàn vũ những lời tuyệt vời này : Tự do, bình đẳng, huynh đệ... Đấng Thánh, Nhà Cộng Hòa tối cao, Vị Cộng Hòa của mọi thời mọi nước, chính là Đức Kitô chịu chết trên cây tự do vì anh em. Phải, chính từ đổi Canvê mà tự do đã đi xuống.
(Bài giảng của các cha xứ n.1848, JC. Để đọc LSGH II,119)

NHẪN NHỤC NHÂN ĐỨC SỐ MỘT KITÔ GIÁO

Những ngày tháng 6-1848 đẫm máu tại Paris gieo rắc kinh hoàng cho giới cầm quyền và các bậc vị vọng Công giáo. Niềm vui đã tan vỡ. Từ nay để bảo vệ xã hội, họ nhân danh tôn giáo kêu gọi người nghèo sống nhịn nhục.

Giáo hội đã nói với người nghèo : chớ lấy của người. Không những bạn không được lấy cắp mà bạn không còn được ham muốn nó nữa ; nghĩa là bạn chớ nghe theo những lời dạy dỗ gian dối không ngừng Thổi vào lòng bạn ngọn lửa tham lam và ham muốn. Hãy chấp thuận sự nghèo khó, bạn sẽ được ban thưởng và đền bù đời đời. Đó là điều giáo hội đã nói với người nghèo cả ngàn năm qua, và người nghèo đã tin vào điều đó cho đến ngày nay người ta vất bỏ niềm tin ra khỏi lòng họ. (Montalembert, Diễn văn tại quốc hội 20-9-1848)

Hỡi người nghèo, chúng tôi mang cho các bạn những hy vọng của tôn giáo, như sự đền bù tuyệt diệu cho điều mà vận may đã từ chối các bạn, cũng là động lực mạnh mẽ để chấp nhận và kiên nhẫn.
(Tổng Giám Mục Paris : Đức Cha SIBOUR - JC. Để đọc LSGH II, t.121)

LỜI NGUYỆN CỦA HỒNG Y NEWMAN

Hỡi ánh sáng ân huệ giữa vùng tăm tối
Xin hướng dẫn con tiến bước !
Đêm vẫn dày đặc và con còn xa khuất quê nhà
Xin hướng dẫn con tiến bước !
Xin lưu tâm nẻo đường con;
cần gì con phải thấy
tận chân trời xa thẳm ?
Một bước thôi cũng đủ rồi.
Chưa bao giờ con cầu khẩn Ngài như hôm nay
hầu Ngài dẫn dắt con.
Khi con muốn chọn lựa và hiểu biết con đường,
lúc này đây, xin hướng dẫn con.
Con yêu mến tia sáng ban ngày ;
Niềm tự hào dù con còn bao sợ hãi.
Xin hiển ngự trong con;
xin đừng nhớ đến quá khứ nữa
Quyền năng Ngài chúc lành con đã quá lâu rồi,
để nay không còn hướng dẫn con nữa,
giữa lũng sâu, ao đầm và ghềnh thác
bao lâu đêm tối còn kéo dài;
Rồi khi bình minh dậy,
các thiên sứ sẽ cười con
rằng con đã luôn yêu mến
và con đã đánh mất một thời gian.
(Trích Jean Honoré, Itinéraire Spirituel de Newman, năm 1833, Seuil 1946)

MỘT LINH PHỤ CHÍNH THỐNG GIÁO

Như thánh Antôn, Starets là vị thầy hướng dẫn các đan sĩ. Vào thế kỷ XIX, các Startsy ở Nga, thường là cao niên, trở thành người hướng dẫn các phần tử ưu tú của Nga. Nổi tiếng nhất là Séraphin de Sarov (+1833) và các vị ở đan viện Optino. Trong cuốn anh em nhà Karamazov, Starets Zosime được Dostoievski mô tả theo chân dung các Startsy danh tiếng.

Starets là ai ? Starets chính là người thu hút tâm hồn và ý chí bạn. Khi chọn một Starets bạn trút bỏ ý chí mình và trao cho người với sự tuân phục hoàn toàn, với sự từ bỏ trọn vẹn (...)

Những người bình dân lẫn những nhân vật nổi tiếng lũ lượt đến bái quỳ trước các Startsy của đan viện chúng ta và xưng thú với các ngài những nghi nan,tội lỗi, đau khổ của mình, van xin lời chỉ bảo, hướng dẫn...

Nói về Starets Zosime, nhiều người kể lại rằng vì đã đón tiếp từ nhiều năm những người đến Thổ lộ tâm can, và khao khát được ngài chỉ dạy, an ủi, nên cuối cùng ngài đạt được sự sáng suốt lớn lao. Chỉ cần thoáng nhìn một khách lạ, người cũng đoán được vì sao ông ta đến, ngài phải làm gì cho ông ấy và ngay cả điều đang dày vò lương tâm người ấy. Hối nhân rất đỗi kinh ngạc, bối rối đôi khi đâm hoảng sợ vì cảm thấy bị dò thấu cõi lòng trước khi thốt lên lời (...) Thế nhưng Aliosa thấy rằng, những người lần đầu tiên đến thưa chuyện với Starets lòng đầy lo lắng sợ hãi; hầu như tất cả từ nhà ngài về đều hớn hở, và gương mặt ủ dột nhất cũng hân hoan mãn nguyện.
(Anh em nhà Karamazov, 1880 Nxb Văn Học, Hà Nội 1988,tr 61-64)

NƯỚC Ý XÓA SỔ NƯỚC TÒA THÁNH

Nước Ý đơn phương giải quyết nước Tòa Thánh khiến các Giáo hoàng tự giam ở Vatican, không đi ra ngoài.

Vương quốc nhìn nhận quyền tối cao về tôn giáo của giáo hoàng, quyền đặt giám mục Ý, nhà nước không đề cử giám mục và không buộc thề trung thành.

Mỗi năm sẽ cấp dưỡng 3.200.000 bảng Ý. Đức Pio IX nhận hai lần rồi bỏ không nhận nữa.

Giáo hội chỉ làm chủ đồi Vatican, điện Latran và biệt thự Castel Gandolfo trên bờ hổ Albano.

Năm 1874, Đức Pio IX qua sắc lệnh "non expedit" cấm tín hữu tham gia bầu cử tại Ý. Năm 1876 các giáo hoàng mới cho phép bầu cử ở cấp tỉnh và xã.
(Bùi đức Sinh, LSGH II, 215-216)

TRÍCH BẢN SYLLABUS

Đức Pio IX kết án 80 sai lầm thời ngài. Khi kết án, bản văn không xác định học thuyết nào mới đúng, nên giám mục Dupanloup có thể đề ra lối giải thích hòa hoãn hơn.

Những xác quyết sau bị kết án :
55. Giáo hội phải tách rời khỏi Nhà nước và Nhà nước phải được tách rời khỏi Giáo hội.
63. Cho phép từ chối vâng phục các ông hoàng hợp pháp và cho phép nổi dậy chống lại họ
77. Ở thời đại chúng ta, không nên coi tôn giáo như đạo duy nhất của đất nước, loại bỏ mọi tôn giáo khác.
78. Trong một số nước Công giáo, luật pháp nên dự trù cho phép các ngoại kiều đến đây cư ngụ, được cử hành công khai các phụng tự riêng của họ là hợp lý.
79. Quả là sai lầm khi cho rằng quyền tự do phượng tự và việc cho phép mọi người toàn quyền công khai và cởi mở biểu lộ mọi ý tưởng và quan điểm của mình sẽ dễ dàng đưa các dân tộc đến chỗ suy đổi phong hóa và tinh thần, cũng như làm lan tràn cơn dịch của chủ nghĩa dửng dưng.
80. Giáo chủ Roma có thể và phải hòa hiệp, cũng như phải nhân nhượng với sự tiến bộ, với chủ nghĩa tự do và văn minh tân tiến. (JC. Để đọc LSGH II,123)

VATICAN I

* Tương quan lý trí và đức tin
(Một vài định tín trong Hiến chế Dei Filius)

Nếu ai nói bản thể hay yếu tính của Thiên Chúa và tất cả mọi vật là một và đồng nhất, Anathema sit.

Nếu ai rằng Thiên Chúa duy nhất và chân thật, Đấng Sáng Tạo và là Thiên Chúa chúng ta, không thể nào nhận biết cách chắc chắn qua những công trình của Ngài, nhờ vào ánh sáng tự nhiên của lý trí nhân loại, Anathema sit.

Nếu ai nói rằng những tín điều giáo hội đưa ra, đôi khi có thể phải hiểu cách khác, theo như sự tiến bộ của khoa học, với ý nghĩa khác với ý nghĩa mà giáo hội đã hiểu và còn đang hiểu, Anathema sit.
(JC. Để đọc LSGH II,124)

ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ
(Thđ.Humani Generis, đức Pio XII, 12.8.1950)

(....) Các nhà thần học và triết gia Công giáo nhận nhiệm vụ bảo vệ và truyền bá chân lý của Thiên Chúa và con người, không được phép không biết và coi thường các quan điểm mới mẻ ít nhiều xa lạ với đức tin. Trái lại, họ phải biết quan điểm ấy, Bởi vì người ta không thể chữa bệnh nếu không biết bệnh ; vì trong sai lạc vẫn thường ẩn dấu một phần của chân lý, hơn nữa, chính những quan điểm ấy sẽ thúc đẩy người ta nghiên cứu những vấn đề thần học cách cẩn thận và sâu xa hơn.

QUYỀN BẤT KHẢ NGỘ
Trích Hiến chế Pastor Aeternus 18.7.1870

(...) Chúng tôi dạy và tuyên bố rằng Giáo hội Roma, do sự sắp đặt của Thiên Chúa, có quyền tối thượng và năng quyền thường xuyên trên mọi Giáo hội khác, và rằng quyền tài phán của giáo chủ Roma thì trực tiếp như quyền giám mục. Những mục tử các cấp và thuộc mọi nghi lễ cùng mọi tín hữu, từng người và toàn thể đều có bổn phận tùy thuộc do phẩm trật và vâng lời thật sự, không những trong những vấn đề liên hệ đến đức tin phong hóa, mà cả trong vấn đề kỷ luật và quản trị giáo hội trải rộng khắp thế giới (...)

Quyền này của Đức giáo hoàng không hề cản trở quyền tài phán thường xuyên và trực tiếp của các giám mục, qua đó các giám mục, được Thánh Thần thiết lập, kế vị các Tông đồ, để chăm sóc và cai quản đoàn chiên được ủy thác cho các ngài như những mục tử chân thực (...)

Chúng tôi truyền dạy và công bố tín điều đã được Thiên Chúa mạc khải : Đức giáo hoàng Roma khi ngài lên tiếng từ tòa (ex cathedra) nghĩa là chu toàn trách vụ mục tử và thầy dạy mọi Kitô hữu, dùng quyền tông đồ tối cao, để xác định một giáo thuyết về tín lý hay luân lý thì toàn thể Giáo hội phải chấp nhận, vì khi đó ngài được hưởng sự trợ giúp thần linh đã được hứa cho Pherô, về ơn bất khả ngộ mà Chúa Cứu Thế đã muốn ban cho giáo hội để định tín về đức tin và luân lý. Do đó, những định tín của đức giáo hoàng Roma không thể thay đổi, chứ không phải vì sự nhất trí của Giáo hội.
(Trích Histoire des Conciles oecuméniques,t.12 của Roger Aubert, JC. Để đọc LSGH II,124)

ĐIỀU KIỆN BẤT KHẢ NGỘ
(Viết theo Théo-Encyclopédie tr. 544)

Ơn bất khả ngộ dựa vào lời hứa Đấng bào chữa (Ga 14,8-21). Theo Lumen Gentium, Ơn bất khả ngộ giúp xác định những điểm tín lý và luân lý, xác định minh nhiên ý nghĩa của mạc khải. Do đó, ơn này không phải để thêm điều gì mới, mà chỉ nhằm soi sáng, minh định giáo huấn của Đức Kitô.

Ba trường hợp có ơn bất khả ngộ : Mọi tín hữu đều tin như nhau (Lumen Gentium 12); Tập thể giám mục hợp với nhau và với giáo hoàng (LG 25); Đức Thánh Cha tuyên bố từ Tòa (Ex Cathedra, theo Mt 16,18-19 và Ga 21,15-17).


1422