Sidebar

Thứ Hai
26.09.2022

Chương 20: Sự Trưởng Thành Của Các Xứ Truyền Giáo_Bài Đọc Thêm


BÀI ĐỌC THÊM

VĂN HỌC TRỮ TÌNH KITÔ GIÁO

... Những kẻ sùng bái thần tượng chưa có dịp biết đến niềm hăng say thôi thúc nhiệt tâm của các nhà tông đồ Tin Mừng. Ngay cả những hiền triết cổ thời, đâu có ai dám rời bỏ những con đường hàn lâm (Académus) đầy bóng mát và những khoái lạc say mê của thành Athènes, để lên đường theo tiếng gọi thôi thúc cao cả, ra đi giáo hóa người mọi rợ, dạy dỗ kẻ dốt nát, chữa trị cho bệnh nhân, cho người nghèo có áo mặc, gieo rắc tình thân và hòa bình giữa các quốc gia đang thù nghịch : đó là điều mà những tu sĩ Kitô giáo đã làm và hiện đang làm hằng ngày.

Biển cả, bảo táp, giá rét miền bắc cực, nắng cháy vùng nhiệt đới, không có gì cản được bước chân họ : các vị chung sống với người Es-ki-mô trong túp lều da hải mã của họ; nuôi mình bằng dầu cá mập với người ở Băng đảo ; rong ruỗi trong những vùng hoang quạnh với thỗ dân Tartare hay Iroquois ; cỡi lạc đà một bướu với người Ai Cập; theo chân người Châu Phi (le Cafre) vào những sa mạc khô cằn. Người Trung Hoa, người Nhật, người Ấn Độ đã trở thành những tân tòng ; không còn một hoang đảo hay rẻo đất nào trên đại dương mà chưa có bước chân hăng say của các vị đặt đến; và nếu như xưa kia, nhiều vương quốc bị khuất phục do bạo lực của Alexandre (Đại đế), thì nay địa cầu này được các ngài khuất phục bằng lòng bác ái.
(CHATEAUBRIAND, Tinh hoa Kitô giáo 1802, Phần IV, Tập 4, ch.1.
JC, Để đọc LSGH, II,tr.148)

VIỆC TRUYỀN GIÁO THEO ĐỨC GREGORIO XVI

... Thực vậy, chư huynh phải làm hết sức, đây là một trong những trọng trách quan trọng nhất, để các kitô hữu địa phương được gia nhập hàng giáo sĩ và lãnh chức linh mục (...). Phải khẩn cấp mở ngay những chủng viện để tất cả những thanh niên nào có ơn gọi linh mục, được huấn luyện nghiêm túc trong thời gian cần thiết, học hỏi các Thánh khoa... Có thế người ta hiểu được ước muốn của Tòa Thánh lâu nay là muốn có những linh mục xứng đáng chu toàn được các nhiệm vụ của giáo sĩ (...) và cũng để chuẩn bị cho chức giám mục (...). Ta bác bỏ và chớ gì người ta hủy bỏ thói quen coi giáo sĩ bản xứ vào loại giáo sĩ phụ. Những người thợ làm việc cho Tin Mừng, dù là người Âu Châu hay xứ nào đi nữa, cũng đều bình đẳng (...)

Mong sao các nhà truyền giáo chung sống giữa những người có tư tưởng chính trị khác nhau, đừng pha mình vào việc chính trị phàm trần. Mong sao họ đừng gắn bó với bất cứ đảng phái nào và đừng trở thành nhân tố gây chia rẽ trong nước ...

Mong rằng người ta quan tâm thật sự đến những nỗ lực của các nhà truyền giáo trong việc tìm hiểu hiểu đời sống xã hội của những dân tộc này. Khi rao giảng giáo thuyết của Tin Mừng, các ngài đừng phủ nhận giá trị riêng những công trình lao động và nghệ thuật của các dân tộc này.
(Collectanea S.C Của Bộ Truyền Giáo, Tập I, trang 541-545).

PHÒNG THƯƠNG MẠI HAVRE

... Xét rằng những nhà truyền giáo đồng thời cũng thật sự là những nhà truyền bá cho tư tưởng Pháp ở các miền đất này. Họ mang lại sự trợ giúp quý báu cho những nhân viên thương mại và ngoại giao của chúng ta : nên không thể nào chối cãi được rằng đây là những đại diện của nền văn minh chúng ta qua nhiều thế kỷ, đã làm cho nước Pháp được biết đến và được yêu mến.

Xét rằng hiện nay, chính những nam nữ tu sĩ người Pháp đang đào tạo tầng lớp thượng lưu ở Nhật Bản, Trung Hoa và Thái Lan, ở những nơi đó, họ gần như là những đại diện duy nhất cho ngôn ngữ của chúng ta; đang khi nền giáo dục theo Anh ngữ ngự trị và cuối cùng sẽ thay thế hoàn toàn Pháp ngữ (...).

Xét rằng, một số các thừa sai Pháp này, hiện đã sống tại những khu vực đó từ 40 năm nay, không bao giờ trở về Pháp quốc nữa, bởi vì họ không còn nhà mẹ; vì Hội dòng của họ đã bị giải tán, người ta có thể quả quyết rằng, cùng với những nhà truyền giáo cuối cùng của Hội Dòng này, yếu tố ảnh hưởng của nước Pháp trong những nước đó cũng vì thế mà biến mất.

Xét rằng, nếu như luật lệ liên quan đến những Hội dòng này không thể thay đổi được trong lãnh thỗ của mẫu quốc, thì ít nhất nên cổ võ việc thành lập thêm trong những xứ thuộc địa những tu viện, nghĩa là cho phép việc huấn luyện tại nước Pháp những tập sinh của những Hội dòng đủ loại và đủ tôn giáo, miễn là những Hội Dòng này theo đuổi mục đích truyền đạt tư tưởng Pháp tại các xứ thuộc địa, hoặc tại hải ngoại, ở những nơi đó hoạt động đạo đức của họ cộng tác với hoạt động khai hóa của chính quyền (...).

Nay thỉnh nguyện : Xin chính phủ cho phép những Hội dòng các loại và thuộc các tôn giáo, được phép chiêu mộ tại tập sinh Pháp, nhằm trở thành những người truyền bá trên thế giới tư duy người Pháp và cổ võ cho ảnh hưởng đạo đức cũng như thương mại của Pháp.
Văn bản sau những đạo luật cấm các Hội dòng (1904-14)

HUYỀN THOẠI CHIẾC TÀU HÀNG TẠI TÂN GUINÉE

Từ khởi thủy, Anut (Chúa) đã tạo dựng trời và đất. Trên trái đất, Ngài ban sự sống cho các loài cây cối thảo mộc và động vật, rồi Ngài ban sự sống cho Adam và Evà. Ngài ban cho hai ông bà có quyền trên tất cả mọi vật trên trái đất và thiết lập vườn địa đàng cho hai ông bà sinh sống. Ngài còn bổ túc thêm cho công trình này bằng việc tạo nên và ban cho hai ông bà một chiếc tàu chở hàng : trong đó có chứa nào thịt, nào những vật dụng bằng thép, những bao gạo, hộp thuốc lá, hộp quẹt ... nhưng chưa có loại quần áo bằng vải cô-tông. Trong một thời gian lâu, họ bằng lòng với những thứ ấy, nhưng sau cùng họ lại chống Thiên Chúa bằng cách có những tương quan tình dục với nhau. Thiên Chúa tức giận, đuổi họ ra khỏi vườn địa đàng và kết án họ phải lang thang trong rừng rậm. Ngài thu lại chiếc tàu hàng và bắt họ phải sống quãng đời còn lại với sự trợ giúp tối thiểu (...).

Thiên Chúa chỉ cho Noê cách đóng một chiếc tàu - đó là chiếc tàu chạy bằng hơi nước - như những chiếc tàu chúng ta đang thấy tại cảng Mađang. Ngài cho ông một cái nón, một sơ mi trắng, những quần "soọc", giày và vớ nữa (...). Sau cơn hồng thủy, Thiên Chúa trả lại cho Noe và gia đình ông chiếc tàu hàng, như bằng chứng lòng nhân lành của Ngài với nhân loại (...). Sem và Japhet tiếp tục tôn kính Thiên Chúa và Noe, nên hưởng được những nguồn sung túc của chiếc tàu hàng. Họ đã trở nên tổ tiên giống dân da trắng, là những người đã biết sử dụng sự hiểu biết ngay thật. Nhưng " Cam" thì đần độn : nó khám phá sự trần truồng của cha nó (...). Thiên Chúa rút lại chiếc tàu của nó và gởi nó đến tận miền Tân Guinée, nó trở thành tổ tiên dân bản xứ tại đây.

Thiên Chúa đã phán với các nhà truyền giáo : "Anh em của chúng con ở Tân Guinée đang còn sống trong bóng đêm dầy đặc. Họ không có chiếc tàu hàng vì sự ngu dốt của " Cam". Nhưng nay Ta thương xót và muốn giúp đỡ họ. Chính vì thế, các con, những nhà truyền giáo, các con hãy đến Tân Guinée giúp sửa lại lỗi lầm của Cham. Các con hãy đem con cháu của y về lại chính lộ. Khi nào chúng trở về với Ta, Ta sẽ gởi cho chúng chiếc tàu hàng, cũng một cách như hiện nay, Ta vẫn gởi cho chúng qua những người da trắng (...)".
(Trích Peter LAWRENCE, (Le Culte du Cargo) - Fayard, 1974, trang 85 tt.)

KITÔ HỮU NHẬT NĂM 1865

Thứ sáu, 17-3 khoảng 12 giờ rưỡi trưa, độ 15 người có 3 phụ nữ, đứng trước cửa nhà thờ, tay đặt trên ngực, khẽ nói với tôi : - Lòng của chúng tôi đây, tất cả, không khác gì lòng của các ông đâu.

Một phụ nữ hỏi : "Ảnh Đức Thánh Maria đâu ? " (...). Nhìn thấy tượng Đức Bà ẵm Chúa Hài Nhi Giêsu, họ nói tôi làm họ nhớ lại lễ Giáng Sinh mà họ vẫn cử hành vào tháng 11(...).

Có rất ít người biết công thức rửa tội (...) Họ thánh hóa ngày Chúa Nhật và những ngày lễ. Giai đoạn này họ đang giữ chay (...).Một người làm phép rửa (baptiseur) tên Phêrô, cho chúng tôi biết những chỉ dẫn quý báu nhất. Trước tiên, chúng tôi phải nói rằng, công thức ông ta làm phép rửa xem ra "thành sự" (...). Ông ta còn nói cho chúng tôi về chuỗi Mân Côi mà họ vẫn quen đọc như chúng ta vậy (...).

Sau cùng ông hỏi chúng tôi về vị lãnh đạo tối cao của nước Roma mà ông ta muốn biết tên. Khi chúng tôi cho ông biết vị đại diện chính thức của Chúa Giêsu Kitô, đức Piô IX, sẽ rất hạnh phúc khi được biết những tin vui mà ông và những kitô hữu đồng hương của ông đã cho chúng tôi biết, thì ông Phêrô để lộ ra niềm vui thật lớn lao. Dầu vậy, trước khi rời chúng tôi, Phêrô còn muốn được bảo đảm xem thật sự chúng tôi có phải là những người kế tục thực sự của những người truyền giáo xưa kia chăng. Ông rụt rè hỏi chúng tôi : - Các ngài có con cái gì không ?

- Chính ông và các anh em kitô hữu cũng như lương dân Nhật bản là con cái mà Chúa Nhân Lành đã ban cho chúng tôi. Còn về những người con khác, chúng tôi không có. Linh mục phải như những người truyền giáo trước đây giữ luật độc thân.

Sau khi nghe câu trả lời này, Phêrô và người bạn đi theo ông cúi sâu, trán sát đất hô lớn lên rằng : "Họ sống đồng trinh. Cám ơn ! Cám ơn !"

Hầu như tất cả mọi Kitô hữu đều theo một tổ chức như nhau. Trong đa số các làng, họ có hai vị lãnh đạo chính : vị thứ nhất gọi chủ sự việc kinh nguyện (...), vị thứ hai chuyên làm phép rửa tội (...).
(Trích F.MARNAS, La Religion de Jésus Ressuscités au Japon
1896 Tập I, trang 487 tt.)

GIÁO HUẤN CỦA HỒNG Y LAVIGERIE

(...) Khi một linh mục tình nguyện đến vùng Phi Châu xích đạo, trước hết vị đó phải chấp nhận gánh vác những vất vả không thể tách rời khỏi việc truyền giáo, và không được viết thêm những lời than vãn của tiên tri Giêrêmia vào trong những lá thơ của mình. Để thành công trong việc biến đổi bộ mặt của Phi Châu (...) điều kiện trước tiên là phải đào luyện người Phi châu được tuyển chọn, đào luyện trong môi trường sao cho họ vẫn là người Phi. Nói chung, cho tới nay, người ta chưa thực hiện được điều này, và tôi phải nói điều đó, chúng ta đã sa lầy tại Alger (...).

Cần phải giúp cho những thanh niên Da Đen này, cả những người chúng ta muốn đào tạo làm giáo viên và giảng viên, sống tương đối đầy đủ theo hoàn cảnh Phi Châu, và nếu có thể được, một mức sống xứng đáng, giúp họ có ảnh hưởng tốt, được mọi người chấp nhận mà không chê trách, ngõ hầu họ có thể trợ giúp các nhà truyền giáo cách hữu hiệu, thay vì trở nên gánh nặng cho các ngài.
(Hồng y LAVIGERIE Ecrits d'Afrique
A. Humman sưu tập, Grasset, 1966, trang 177 tt.)

CẦN GẤP HÀNG GIÁO SĨ ĐỊA PHƯƠNG
(Maximum illud, 30-11-1919) Đức Bênêdictô XV

(...) Còn một điểm mà tất cả những vị lãnh đạo việc truyền giáo có bổn phận phải để tâm chú ý đặc biệt. Đó là việc tuyển mộ và huấn luyện hàng giáo sĩ bản xứ (...). Các giáo hoàng nài nỉ điều này để tránh xảy ra tình trạng đáng trách. Có những nơi, đạo Công giáo đã du nhập từ nhiều thế kỷ, thế mà tại đó, vẫn chỉ có hàng giáo sĩ bản xứ hoàn toàn phụ thuộc.

Cũng có nhiều dân tộc đã sớm được ánh sáng Tin Mừng soi chiếu, đã thoát khỏi đời sống man rợ để vươn lên đời sống văn minh, đã sản sinh ra những nhaân vật nổi tiếng, trong các lãnh vực nghệ thuật và khoa học, thế mà vẫn chưa thành công (sau nhiều thế kỷ hoạt động bác ái từ thiện của Phúc Âm và Giáo hội), để làm phát sinh những giám mục và linh mục có uy tín đối với những người đồng hương. Người ta phải nhận ra rằng, có cái gì thiếu sót hay sai lầm trong việc huấn luyện hàng giáo sĩ hoạt động truyền giáo (...).

Nỗi buồn của ta thật to lớn khi thấy trong những năm gần đây, ngành báo chí có những chủ biên tỏ ra ít hăng say với Nước Chúa so với những quyền lợi riêng cho nước họ. Điều làm cho ta ngạc nhiên, đó là họ không còn chút bận tâm để thấy rằng, thái độ như thế có thể làm cho tâm hồn lương dân xa lìa tôn giáo.

(...) Một vị thừa sai Công Giáo, không phải là một thừa sai của nước mình, mà phải là vị thừa sai của Chúa Kitô, các vị phải cư xử cách nào, để những ai đến gặp các vị lần đầu tiên, luôn thấy rõ ràng các vị là thừa tác viên của một tôn giáo không xa lạ đối với bất cứ đất nước nào. Bởi vì, tôn giáo này ôm ấp tất cả những ai "thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý " và bởi vì trong tôn giáo này, "không còn phân biệt Hy lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, dân mọi rợ hay dân Xythar, nô lệ hay tự do nữa, song chỉ có Chúa Kitô là tất cả và ở trong mọi người " (Col 3,11).
(Trích Le Siège apostolique et les Missions, I trang 34 tt.)

LÒNG ÁI QUỐC TẠI TRUNG HOA
Thư gửi đức cha Reynauld, Ningpo, 18-9-1917.

(...) Những người Kitô hữu Trung hoa có quyền, mà hơn thế nữa, có bổn phận yêu nước cùng một cách như những kitô hữu Âu Châu và Mỹ Châu (...). Ấn tượng đã lưu lại trong con, một ấn tượng rõ rệt, sau 17 năm sứ vụ, đó là : trở ngại căn bản -con không nói là duy nhất - cản Nước Chúa hiển trị cho quần chúng tại đây, chính là vấn đề của quốc gia ; vì rằng, nói theo suy tư con người, trừ khi có phép lạ, hàng rào cản trở Giáo hội đó quả không thể vượt qua, mà chỉ có chúng ta mới xóa bỏ được thôi. Thế nên, nếu lòng ái quốc chân chính đáng khen ngợi, đã được ca tụng tại những Giáo hội Âu châu, thì cũng cần phải cổ võ lòng ái quốc như thế trong Giáo hội tại Trung hoa này, đó là một trong những điều kiện nhân bản không thể thiếu để đạo Công giáo đâm rễ trong lòng dân và lôi kéo được đại chúng về với mình.

Thưa đức cha, con quì gối và cúi đầu sát đất để nói điều này : trong 33 năm giám mục, đức cha đã huấn luyện được nhiều linh mục tốt và như người ta cho con biết, có cả những linh mục uyên bác và một vài vị xuất sắc nữa. Đức cha có bao giờ nghĩ đến rằng những người xuất sắc nhất, linh mục Soun chẳng hạn, không thể so sánh được với đức cha Favreau hoặc linh mục Lepers sao ? hoặc như linh mục Zi cũng có thể làm quản hạt lắm chứ ?

Nếu đức cha sợ những cộng sự viên người Âu không thể chấp nhận tuân phục một bề trên thuộc một dân khác chủng tộc, và như thế là coi thường họ sao ? Than ơi, chúng ta là linh mục, phải chăng, chúng ta không thể vì tình yêu Chúa Giêsu Kitô, thực hiện điều những người Âu châu dân sự đã thực hiện, trên những tuyến đường sắt, khu vực hải quan, hay trong trường học chỉ vì lý do kinh tế ? Và như thế, việc chúng ta huấn luyện linh mục bản xứ, mãi mãi cũng chỉ nhằm chuẩn bị một hàng giáo sĩ phụ thuộc thôi sao (...).
Thơ của Cha Lebbe, Casterman, 1960, trang 136 tt.

GIÁO HỘI DUY NHẤT VÀ ĐA DẠNG

Suốt 12 năm lưu trú tại Ấn độ, những cuộc tiếp xúc với bạn bè thuộc Ấn giáo, càng củng cố cho tôi lối nhìn "Ơn Cứu độ toàn thể" của Chúa Kitô, ơn cứu độ ấy vừa phổ quát vừa duy nhất (...)

Có những kitô hữu đồng hóa ít nhiều vận mệnh thế giới với vận mạng của Kitô giáo, như trong 10 hoặc 15 thế kỷ đầu lịch sử Giáo hội. Họ không hề thấy rằng những dân tộc mới gia nhập Công giáo đã giúp Giáo hội gia tăng về số lượng và gia tăng ảnh hưởng rộng lớn hơn về mặt không gian : Sau thánh Tôma, Giáo hội vẫn chẳng học hỏi thêm sao, và sau công đồng Trento, các cơ chế không phải sửa đổi nữa sao ? Giáo hội phải đạt đến tầm vóc trưởng thành và ai bước vào Giáo hội, cũng là bước vào một đền thờ nơi đó không có một viên đá nào là dư thừa lệch lạc (...).

Trên bình diện mạc khải, ngay từ đầu Giáo hội đã có tất cả, nhưng trên bình diện phát triển, Giáo hội theo bình diện nhân loại, hay đúng hơn, đảm nhận và biến đổi nhân loại, thì chẳng có thế hệ nào là kết thúc cả (...) Giáo hội sẽ không chỉ nói như ở thời thánh Augustino rằng : "Ngôn ngữ của tôi là La Tinh,là Hi lạp, nhưng tiếng Syriaque cũng là của tôi". Giáo hội sẽ thêm vào đó tiếng Phạn, tiếng Tamoul, tiếng Hoa... cùng với tất cả những gì mà các ngôn ngữ này mang lại, về tư tưởng cũng như tình cảm, mà đến nay chưa hề du nhập vào thế giới Địa trung Hải, Nhật Nhĩ Man và Slave (...)

Các nền linh đạo vẫn không ngừng triển nở, các cách thức để chiêm niệm, những công thức mới của mầu nhiệm, các dạng tôn kính và đời tận hiến, vẫn còn chờ đợi, và chắc chắn sẽ chờ đợi nhiều thế kỷ, cuộc đăng quang của những nền văn hóa như văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, giữa lòng một Giáo hội duy nhất và đa dạng. Kitô giáo hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời vẫn là (Nước trời) "đang đến". Thánh Linh vĩnh cửu sẽ luôn là Đấng hoàn tất công cuộc sáng tạo này.
(JULES MONCHANIN, 1951, Théologie et Spiritualité Missionaires, Beuchesne, 1985, tr 196-197)


1455