Sidebar

Thứ Sáu
12.08.2022

Chương 21: Giáo Hội Thời Hiện Đại_phần 1


Chương 21: GIÁO HỘI HIỆN ĐẠI
(1939 -1985 )

I. GIÁO HỘI THỜI ĐỨC PIO XII

1,1. Thời đệ nhị thế chiến

Lên ngôi giáo hoàng khi Đức đã chiếm Áo quốc, đức Pio XII đã phải đối phó ngay với thế chiến thứ hai. Ngài chọn đường lối trung lập vì tín hữu của mình có mặt trong cả hai phía và vì muốn độc lập để có thể làm trung gian hòa bình. Tuy không chấp nhận chủ trương của Hitler, nhưng đức Pio XII tin tưởng vào đường lối ngoại giao hơn là những lời tuyên bố long trọng. Quả thật, nhờ ngài mà Moussolini chậm tham chiến. Ngài đã thiết lập một văn phòng thông tin và trao đồi tù nhân dưới quyền giám mục Montini, đã cứu trợ được khoảng 5.000 người Do Thái trú ẩn tại các thánh đường hoặc tu viện và cứu Roma khỏi những cuộc oanh tạc tàn phá vào cuối thế chiến.

Một vấn đề tế nhị trong thế chiến là việc tiêu diệt người Do Thái. Trong sứ điệp truyền thanh đêm Noel 1942, đức Pio XII kêu gọi nhân loại quan tâm đến "hàng trăm ngàn người chỉ vì lý do chủng tộc đang bị tiêu diệt dần".

Ngày 2-6-1943 trong diễn văn trước Hồng y đoàn, ngài bày tỏ quan điểm phải bênh vực, trợ giúp những người bị đau khổ vì lý do chủng tộc, nhưng cũng tâm sự "Tôi phải cân nhắc từng lời...kẻo tình trạng họ lại bi đát hơn". Trong thư gửi giám mục Von Preysing (30-4-1943) ngài mong mỏi các giám mục tại mỗi nước can thiệp nhưng căn dặn các vị thận trọng "vì có nguy cơ kéo theo những cuộc trả thù".

Chính vì thế thư chung các giám mục Đức tháng 9-1943 nói về "Mười điều răn", không kết án trực tiếp lãnh tụ Hitler, chỉ kêu gọi lương tâm người tín hữu tránh những vi phạm đạo đức và nhân quyền. Giám mục Von Gallen thì lên tiếng kết án việc giết những người bệnh nạn, tàn tật. Một vài linh mục (như Lichtenberg) và nhóm "Bông Hổng Trắng" đã bị giết vì chính kiến can đảm. Giám mục Pháp Saliège ( Toulouse) nói với tín hữu mình : "Những người Do Thái nam hay nữ.... cũng là thành phần nhân loại, họ cũng là anh em chúng ta. Xin đừng quên điều đó". Trong số những nạn nhân ở trại tập trung Ba Lan, người ta không thể quên linh mục Maximilien Kolbe (+1941, Ofm) đã hy sinh chết cho một bạn tù.

1,2. Giáo hội thời hậu chiến

Ngoài những biến chuyển về thần học và phong trào Công giáo tiến hành mà chúng ta đã nghiên cứu (chương XIX, XX), tình hình Âu châu thời hậu chiến có nhiều thay đồi về biên giới, bước vào thời chiến tranh lạnh và có nhiều tiến triển trong vấn đề đại kết.

a/ Tình thế mới cho các Kitô hữu

Những thỏa ước Yalta (tháng 2-1945) xác định các vùng ảnh hưởng cho những nước đồng minh khác nhau. Liên Xô mở rộng về phía Tây, sáp nhập các nước vùng Baltique ( Estonia, Lettonia, Lithuania). Ba Lan dành lại phần lãnh địa trên nước Đức còn Đức quốc thì bị chia đôi.

Tại Tây Âu, người Kitô hữu chiếm được vị thế quan trọng trong lãnh vực chính trị qua các đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo tại Ý, Đức, Bỉ... Ở Pháp phong trào Cộng Hòa Bình Dân (MRP), chứng tỏ người tín hữu đã vượt ra khỏi thứ "Ghetto" của đầu thế kỷ khi chọn một danh xưng không liên hệ đến niềm tin. Trong chính phủ lâm thời 1944-45 tại Pháp có 6 vị xuất thân từ phong trào Thanh Niên Công giáo (ACJF). Những đảng Dân chủ Tây Âu thường được lập trong thời kháng chiến và đứng ngoài sự giám hộ của các Giám mục. Họ đã vận động giúp người Công giáo không còn do dự với nền dân chủ và chế độ quốc hội. Tại Pháp còn cò trào lưu một số tín hữu nghi ngờ những đảng phái nhân danh niềm tin tôn giáo.

b/ Cuộc chiến tranh lạnh

Trong vài năm sau cuộc chiến, tại các nước Đông Âu, những đảng cộng sản dựa vào thế lực của Liên Xô dần dần nắm được chính quyền : Albanie, Hung (1944), Nam Tư, Bungari (1945), Rumani Ba Lan (1947), Tiệp Khắc (1948). Nói chung, tại những nơi này, đều xảy ra việc tục hóa : giải tán hội đoàn tôn giáo, tịch thâu trường học, bệnh viện, cấm dạy giáo lý ngoài nơi chỉ định. Những người Công giáo gốc Hy Lạp tại các nước vùng Baltique và Rumani bị áp lực buộc trở về trong bàn tay bà mẹ Chính Thống. Hồng y Slipyi sẵn sàng chịu cầm tù thay vì được Thượng phụ Alexis đặt làm Trưởng giáo vùng Ukraina.

Tại mỗi quốc gia Đông Âu đều xảy ra những vụ án liên lạc với kẻ thù... Hồng y Mindszenty tại Hungari, đức cha Béran tại Tiệp Khắc, đức cha Stepinac tại Nam Tư, hồng y Wiszynski tại Ba Lan. Từ năm 1956, phong trào cải Tổ ở Liên Xô đã cải thiện tình hình tôn giáo Ba Lan (cho xuất bản báo chí có đại biểu trong quốc hội), nhưng tại Hungari, hồng y Mindszenty còn phải tự giam mình trong sứ quán Hoa Kỳ đến 1970.

Các nước Tây Âu qui tụ thành một khối quanh Hoa Kỳ : Minh ước Bắc Đại Tây Dương OTAN, 1949. Cũng năm đó đức Pio XII ban hành một sắc lệnh cấm người tín hữu cộng tác với cộng sản. Sắc lệnh đã gây nên những bi kịch lương tâm với nhiều tín hữu trong bối cảnh xã hội riêng biệt của mình, đặc biệt tại những nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa. Cho đến khi xuất hiện một người, người ấy có tên là Gioan, đức Gioan XXIII.

c/ Con đường nối giữa Đông và Tây

"Không còn Giáo hội thầm lặng nữa". Đó là lời đức Gioan Phaolô II tuyên bố ngày 9-11-1978 tại Assisis trước một nhóm thanh niên. Con đường nối kết Đông Tây đã được đức Gioan XXIII khai mở trước đó gần hai thập niên, qua thông điệp Hòa Bình trên thế giới, qua việc triệu tập Công Đồng Vatican II, và khởi từ việc giải quyết cuộc khủng hoảng ở Cuba cuối tháng 10 năm 1962. Ngày 7-3-1963, ngài tiếp ông bà Adjoubei, con rể và con gái chủ tịch Khroutchev. Đức Giáo hoàng xây dựng quan hệ với các nước cộng sản, tức là đã chính thức xác nhận quyền hợp pháp thực tế của các chính quyền tại đây.

Con đường đã mở ấy được đức Phaolô VI và hồng y Casaroli tiếp nối. Nhờ những biến chuyển thần học và tinh thần cởi mở của Vatican II : phân biệt điều cốt yếu và phụ thuộc trong sinh hoạt tôn giáo, Giáo hội chỉ yêu cầu những nội dung căn bản về tự do Tổ chức sinh hoạt nội bộ của mình, gồm : việc bổ nhiệm giám mục, việc giám mục được quan hệ đều đặn với Roma, việc mở chủng viện đào tạo giáo sĩ, việc dạy giáo lý trong gia đình và quyền tự do tế tự một cách bình đẳng như mọi công dân và những tôn giáo khác.

Thế là chiếc cầu nối lại với Đông Âu đã được hình thành, Nam Tư ký với Tòa Thánh một thỏa hiệp năm 1966 và đặt quan hệ cấp đại sứ năm 1970. Tại Ba Lan, Tòa Thánh nâng những "Tổng đại diện" các vùng tái chiếm của Đức lên cấp "Giám quản tông tòa" (1967), cử đức cha Poggi làm trung gian trao đồi từ 1974. Quan hệ đôi bên ngày càng tốt đẹp hơn khi chủ tịch Gierek đến thăm đức Phaolô VI (1-12-1977) và nhất là ngày 22-10-1978 khi hồng y Wojtyla, người Ba Lan trở thành giáo chủ Gioan Phaolô II. Tại Hungari, thỏa ước đầu tiên được ký năm 1964, hồng y Mindszenty được trả tự do về đến Vatican (1971). Quan hệ đôi bên được củng cố dưới thời đức cha Lékai (từ 1975) và nhất là sau cuộc gặp gỡ của đức Phaolô VI với chủ tịch J. Kadar ngày 9-6-1977. Vị lãnh tụ này nhắc đến chuyện bà Loth hóa thành tượng để nói "chúng ta đừng nhìn lại đằng sau".

Quan hệ với Liên Xô cũng ngày càng sáng sủa. Ngoại trưởng Andrei Gromyko đến Tòa Thánh nhiều lần (1966, 1970, 1974, 1975, 1979), ngược lại hồng y Casaroli được chính thức đón tiếp tại Mascơva vào tháng 2-1971 và tháng 6-1988. Dĩ nhiên, các mối quan hệ này dã bước sang một giai đoạn mới, trong bối cảnh thay đổi chính thể của các nước Đông Âu năm 1989 và của Liên Xô cũ năm 1991.

d/ Phong trào đại kết

Việc dành lại tự trị của các quốc gia Đông Âu sau Đệ nhất thế chiến đã nâng số Giáo hội Chính Thống độc lập (Autocéphales) lên đến 15 Giáo hội : không kể Hy lạp (1850), nay có thêm Giáo hội Georgia (Ba Lan, 1917), Ukraina (Kiev) và Nam Tư (1921), rổi đến Albani (1922) và Bucarest (Rumani 1925). Tòa Mascơva cũng được tái lập năm 1917.

Trong thế giới Tin Lành, số hệ phái ngày càng nhiều, đáng kể nhất có phong trào Thánh Linh (Pentecotism) manh nha từ 1876 và thành lập năm 1901 tại Hoa Kỳ. Nếu cuối thế kỷ XIX, Tin Lành từng Tổ chức các buỗi gặp gỡ những nhóm cùng phái rải rác khắp nơi, như Liên Hội các Giáo hội cải cách, hội Luther, hội Baptism... Thì hội nghị 1910 tại Edimbourg đã qui tụ được 1.200 đại biểu nhiều hội truyền giáo Tin Lành. Ý tưởng đại kết ra đời. Nhờ gợi ý của một đại biểu Viễn Đông "Xin các ngài chỉ giảng Tin Lành và để cho Đấng Christ thiết lập hội thánh phát xuất từ dân tộc chúng tôi...một Hội thánh thoát khỏi mọi thứ "phái, hội" (isme) mà các ngài kèm theo khi rao giảng".

Hưởng ứng lời kêu mời của hội nghị Edimbourg, mục sư Soderblom nước Đức khởi xướng phong trào "Sống và Hành động" (Life and Work) với đại hội lần thứ nhất năm 1925 tại Stockholm : gồm 600 đại biểu thuộc 27 quốc gia về dự. Phong trào thứ hai xuất phát từ Anh giáo là "Đức Tin với Luật Lệ" (Faith and Order) nhằm mục đích nghiên cứu sâu về Tín Lý ; với đại hội đầu tiên ở Lausanna 1927, có 400 đại biểu của 108 Giáo hội tham dự. Hai phong trào đều Tổ chức đại hội lần hai, năm 1937, tại Oxford và Edimbourg với số thành viên đông hơn. Một số người tham dự cả hai phong trào đã vận động nối kết chúng lại qua quyết định Utrech 1938, nhưng do chiến tranh, mãi đến năm 1948 Hội đồng đại kết các Giáo hội được thành lập tại Amsterdam, Hà Lan.

Về phía Công giáo, từ 1890 cha Portal dòng Lagiarist cổ động cho việc hợp nhất với Anh giáo. Sau khi Roma tuyên bố việc phong chức của Anh giáo vô hiệu (1896) và dù bị kết án năm 1908, ngài vẫn nỗ lực cổ võ cho việc hiệp nhất này. Từ 1921-25, hồng y Mercier đứng ra Tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ với Anh giáo tại Malines. Thế nhưng đức Pio XI năm 1928 trong Thông Điệp "Mortalium Animos" lại cấm người tín hữu tham gia các phong trào Tin Lành vì sợ những thay đồi về "chân lý mạc khải". Tuy nhiên, trong Giáo hội, phong trào đại kết thiêng liêng qua việc cầu nguyện vẫn được cổ động tích cực.

Tuần lễ cầu cho hiệp nhất từ 18-25 tháng 01 bắt đầu có từ năm 1908 do hai mục sư Anh giáo J. Spencer (Anh) và L.Wattson (Mỹ) khởi xướng tại các tu viện nói tiếng Anh. Năm sau đức Pio X gặp mục sư Wattston và cổ võ chương trình này (vị mục sư trở lại Công giáo năm 1910). Tại Bỉ năm 1925 linh mục L. Bauduin, thành lập một tu viện chuyên cầu nguyện cho việc hợp nhất với Giáo hội Đông phương, nơi đây được cử hành phụng vụ theo hai nghi lễ Latinh và Byzantin. Nhưng ý tưởng căn bản đến lúc này vẫn là cầu nguyện cho "những người ngoài Công giáo trở lại với vị cha chung, ngài sẽ tiếp đón họ với lòng trìu mến".

Cha P. Couturier địa phận Lyon là người canh tân hẳn lối nhìn về đại kết. Ngài cổ võ các mục sư và linh mục gặp nhau tĩnh tâm đại kết tại đan viện Trappist ở Dombes từ 1937. Ngài chủ trương cầu nguyện cho "sự hiệp nhất mà Chúa Kitô mong muốn và bằng những phương tiện người muốn". Tháng 3-1950 một huấn thị của Tòa Thánh nhìn nhận phong trào đại kết là công trình tuyệt tác, và là hoa quả của Thánh Thần. Các Giám mục có quyền cho phép tín hữu hợp mặt với những phái khác, và tín hữu có thể đọc kinh Lạy Cha chung với mọi người.

Đến thời đức Gioan XXIII, ngày 29-1-1959 ngài tuyên bố rằng : "Chúng ta không lập phiên tòa xét lịch sử, không xem xét ai đúng ai sai. Mọi người đều có phần trách nhiệm. Tôi chỉ nói : Hãy cùng nhau ngổi lại, hãy thôi đừng chia cắt nửa...". Bởi vì "Xét cho cùng những gì đoàn kết chúng ta lại vẫn lớn hơn những gì chia cắt chúng ta".

Ngày 5-6-1960, văn phòng "Hiệp nhất Kitô-hữu" được thành lập và năm 1964 sắc lệnh "Đại kết" của Vatican II được chấp thuận (2137 / 2148 thuận), cổ võ đối thoại để hiểu giáo lý của nhau, cầu nguyện chung và hợp tác trong những việc hợp với lương tâm như việc bác ái. Ngày 7-12-1965 đức Phaolô VI và Thượng phụ Athenagoras cùng tuyên bố hủy những vạ tuyệt thông trong quá khứ. Từ nay Đức Kitô trở thành cốt lõi nối kết các Kitô hữu.

d/ Đức Pio XII

Nói đến đức Pio XII, người ta thường nhắc đến việc ngài kết án các trào lưu thần học, phong trào xã hội chủ nghĩa và linh mục thợ. Tuy nhiên phải nhìn nhận dưới thời đại ngài, sinh hoạt Giáo hội cũng có nhiều thay đồi : trước tiên là phụng vụ (nghi thức bí tích bằng tiếng địa phương, cho dâng lễ buỗi chiều, việc giữ chay Thánh Thể chỉ còn ba giờ, cải Tổ nghi lễ tuần thánh và giản dị hóa kinh thần vụ); Ngoài ra, ngài tích cực cổ võ phong trào tông đồ giáo dân, mở hai đại hội giáo dân thế giới 1951 và 1957 tại Roma (trên 2.000 đại biểu thuộc 92 quốc gia); quốc tế hóa Hồng y đoàn (2/3 không phải người Ý), và cổ võ đặc biệt cho việc lập hàng giáo phẩm các xứ truyền giáo. Ngày 01-11-1950, đức Pio XII công bố tín điều "Đức Mẹ Hồn xác lên trời".

NB - Thống kê đầu năm 1989 : 154 hồng y, 4.000 giám mục, 410.136 linh mục trên thế giới, báo CGDT số ngày 30-4-1989

II. CÔNG ĐỒNG VATICAN II

2,1. Giai đoạn chuẩn bị

Hồng y Roncalli đắc cử giáo hoàng ngày 28-10-1958, lấy hiệu Gioan XXIII, khi đã 77 tuổi. Tuy xuất thân từ nông thôn, ngài từng làm đại diện Tòa Thánh ở Bungari, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, là sứ thần Tòa Thánh tại Paris trong "mùa xuân thần học" (1944-53), rổi thượng phụ thành Venise. Ngài nổi tiếng về lòng trung hậu nhân từ. Nhiều người nghĩ ngài chỉ là Giáo hoàng chuyển tiếp, nhưng ngay sau đó người ta đã thấy nơi ngài một nhân cách độc đáo, khi thấy ngài rời cung điện xuống phố, đi thăm khám đường, đi hành hương Lorette và Assise. Ngỡ ngàng hơn nữa, ngày 25-1-1959, vị Giáo hoàng 78 tuổi tuyên bố sẽ triệu tập Công Đồng chung đưa ra hai ý hướng rộng rãi : cập nhật hóa Giáo hội và đại kết. Trong thông điệp 11.9.1962, trước công đồng một tháng, ngài nói tới việc : "quét sạch bụi bặm trên khuôn mặt Giáo hội" và khẳng định "Giáo hội phải là Giáo hội của người nghèo".

Mười hai ủy ban chuẩn bị được thành lập đã soạn thảo tất cả 70 lượt đồ. Trong số 3.070 nghị phụ được mời, thì 2.427 vị thuộc 134 quốc gia đã có mặt ngày khai mạc 11-10-1962 (49 vị thuộc các nước Xã hội Chủ Nghĩa) ngoài ra còn có 460 chuyên viên Thần học. Số quan sát viên các Giáo hội Kitô khác ban đầu có 31 sau lên đến 93 vị vào cuối công đồng. Số giáo dân dự thính là 36 trong đó có 7 phụ nữ.

2,2. Diễn biến Công đồng

Trong kỳ họp thứ nhất, theo ý kiến hồng y Liénart, các Hội đồng Giám mục cử thành viên vào những ủy ban, thay vì bầu cử. Các ủy ban Công đồng làm việc khá gay gắt, vì có hai khuynh hướng trái ngược nhau : cố bảo tồn kho tàng đức tin (Ý, Tây Ban Nha), hay thích nghi trong tinh thần đại kết và về nguồn. Khóa họp I kết thúc ngày 8-12 nhưng chưa quyết định văn bản nào. Số lược đồ được xếp lại còn 20.

Năm 1963, Đức Thánh Cha công bố thông điệp "Hòa Bình trên thế giới" (9-4) và nhận giải thưởng hòa bình Balzan. Suốt một tháng, toàn thế giới cảm động theo dõi cơn hấp hối của đức Gioan XXIII, cho tới khi ngài tạ thế ngày 3-6. Ngày 21-6-1963, hồng y Montini Tổng Giám mục Milan lên kế vị lấy hiệu là Phaolô VI. Ngày đăng quang, đức Phaolô VI xác định theo đuỗi công đồng. Nỗ lực phục vụ công lý hòa bình và cổ võ việc đại kết. Kỳ họp II (từ 29-9 đến 4-12-1963) kết thúc bằng việc công bố Hiến Chế Phụng Vụ và sắc lệnh Truyền Thông xã hội.

Năm 1964, đức Phaolô VI đi thăm Thánh địa (4 đến 6-1), gặp gỡ Thượng phụ Athenagoras thành Constantinople. Tháng 5-1964 văn phòng cho những người "ngoài Kitô giáo" được thành lập. Số lược đồ giảm xuống còn 17. Kỳ họp III (14-9 đến 21-11-1964), kết thúc bằng việc công bố Hiến Chế Ánh sáng Muôn dân, hai sắc lệnh về Đại kết và Tôn giáo Đông Phương. Tháng 12 năm đó, đức Phaolô VI du hành Bombay, Ấn Độ.

Năm 1965, trong kỳ họp thứ IV (từ 14-9 đến 8-12-1965) tất cả các bản văn còn lại được công bố gồm Hiến Chế Mạc Khải và Hiến Chế Giáo hội giữa thế giới ; sáu sắc lệnh : Nhiệm vụ các Giám mục, Đời sống Linh mục, Canh tân Dòng tu, Tông đồ giáo dân, Hoạt động truyền giáo và Truyền thông xã hội, và ba tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, Liên lạc các tôn giáo, và về Tự do Tôn giáo. Ngày 4-10, tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở New-York, lời đức Phaolô VI kêu gọi "không bao giờ để xảy ra chiến tranh nữa", được mọi người hưởng ứng. Công đồng bế mạc ngày 8-12 sau bốn năm làm việc, đã hoàn thành được 16 bản văn (04 Hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn).

2,3. Những nét lớn của Vatican II

Cách chung, công đồng ngỏ lời với mọi thành phần trên thế giới và không kết án bất cứ ai. Ta tạm tổng kết ba nét lớn :

* Một nền thần học trở về nguồn : Hiến chế Mạc khải nhấn mạnh tính duy nhất của Mạc khải trong Thánh Kinh lẫn Thánh truyền. Mạc khải không ngừng ở bản văn, nhưng được Dân Chúa lưu giữ và không ngừng khám phá ra những điều mới mẻ phong phú. Việc về nguồn này giúp Giáo hội trở lại những truyền thống trước đây chưa quan tâm đủ như tập đoàn tính của Giám mục, chức tư tế cộng đồng của tín hữu, việc học hỏi Kinh Thánh, Giáo hội là Dân Chúa và Nhiệm Thể hơn là cơ chế pháp lý. Từ đó ta thấy xuất hiện các hội đồng giám mục miền, quốc gia; Thượng hội đồng các Giám mục Thế giới (1967, 1971, 1974, 1977, 1980, 1983, 1985, 1987, 1990); Việc cải tổ hiến pháp các dòng tu, việc biên soạn lại Giáo luật (hoàn tất năm 1983), và nhất là việc cải Tổ phụng vụ (dùng tiếng địa phương, đề cao phụng vụ lời Chúa, lễ đồng tế)...

* Cởi mở với các Kitô giáo và tôn giáo khác: theo tuyên ngôn về tự do tôn giáo các nghị phụ không cứu xét đạo nào có chân lý duy nhất và chân thật nữa, nhưng nhấn mạnh lương tâm con người được tự do nhận thức và chọn lựa. Kể cả trường hợp thiểu số không Công giáo sống trong vùng Công giáo. Tuyên ngôn liên lạc các tôn giáo cho thấy phải nỗ lực khám phá Thiên Chúa tiềm ẩn trong mọi tôn giáo. Còn sắc lệnh đại kết thì kêu gọi hướng đến những điểm chung của các Giáo hội đó là Đức Kitô và Tin Mừng.

* Đồng hành và đối thoại với thế giới: Trong Hiến chế Giáo hội giữa thế giới, Giáo hội chia sẻ với mọi nổi vui buổn, lo âu hy vọng của con người, lưu tâm đến mọi biến chuyển của thế giới, đến hôn nhân gia đình, văn hóa, kinh tế, xã hội, chính trị, và kiến tạc hòa bình. Bởi vì trong Hiến chế Ánh sáng Muôn Dân, Giáo hội nói về mình như một dấu chỉ của huyền nhiệm "Dân Thiên Chúa" . Chính vì thế văn phòng liên lạc với những người vô tín được thành lập vào tháng 4-1965, và Mục lục các sách cấm được bãi bỏ vào tháng 4-1966.

III. GIÁO HỘI SAU VATICAN II

Vatican II đã cho nhiều người cảm tưởng một kỷ nguyên mới được khởi đầu, chấm dứt thời đại Trento. Người ta sẽ nói trước Công đồng và sau công đồng như sự phân định hai não trạng, hai quan điểm và Tổ chức khác nhau.

Giáo hội dường như đã tìm lại được chiều kích thế giới. Những chuyến công du của đức Phaolô VI gây được thiện cảm của những Kitô hữu lẫn những người không tin Đức Kitô. Năm 1965 ngài đến Hoa Kỳ và Đồ Đào Nha, năm 1966 ngài gặp Giáo chủ Hồi Giáo Rouhani, gửi trả lá cờ đã tịch thu tại trận Lepanto (1571), năm 1967 Ngài đến Istamboul và gặp gỡ Thượng phụ Athenagoras, năm 1968 ngài đến châu Mỹ Latinh, năm sau ngài đến Genève và Ouganda, năm 1970 ngài đi Đông Á. Năm 1966, ngài gặp Tổng giám mục Cantorbery (Anh giáo). Ngài quốc tế hóa giáo triều Roma, từ nay các hồng y người Ý trong Hồng y đoàn chỉ còn là thiểu số.

Thông điệp "Phát triển các Dân Tộc" (1967) của đức Phaolô VI xác định vấn đề xã hội phải là vấn đề chung của thế giới; việc phát triển cho đúng phải có tính toàn diện từ kinh tế, văn hóa đến đời sống thiêng liêng; cần có những Tổ chức quốc tế để bảo vệ các nước yếu và nghèo chống lại sự cạnh tranh bất chính. Thông điệp được khai triển kỹ hơn tại các hội đồng Giám mục miền và Thượng Hội Đồng 1971.

3,1. Những diễn biến bất ngờ (1968)

Trong đường hướng của Vatican II, chấp nhận dị biệt và mở ngỏ cho những suy tư, năm 1968 nhiều sự kiện xảy ra khá bất ngờ. Khắp nơi rộ lên những phong trào "vào đời", Giáo hội trên đường phố... Nhiều người đòi đặt lại vấn đề xã hội dựa vào niềm tin, hoặc tố cáo các giáo sĩ ủng hộ cho trật tự hiện hành. Nhiều người thúc ép phải thực hiện Công đồng cho nhanh hơn. Ngày càng có nhiều linh mục tu sĩ muốn hội nhập chức vụ linh mục vào bối cảnh chung của nhân loại như hôn nhân, lao động dấn thân hoạt động chính trị... Thông điệp "Sự Sống Con người" (tháng 7-1968) của đức Phaolô VI, bác bỏ mọi cách ngừa thai trái tự nhiên, không được mọi tín hữu hưởng ứng như xưa.

Tháng 8-1968, đức Phaolô VI đến Colombia ( Bogota và Medellin) nhân dịp hội nghị Giám mục Châu Mỹ Latinh (CELAM). Ngài công bố : "Hòa bình có tên gọi là phát triển". Cũng trong hội nghị Medellin, các Giám mục Nam Mỹ Châu đã chọn đứng hẳn về phía người nghèo trong lục địa, kêu gọi một cuộc giải phóng toàn diện (như Maisen cứu dân khỏi nô lệ Ai cập), chiến đấu cho Công lý, cho sự phát triển chân thực để mọi người có điều kiện sống hợp với nhân phẩm hơn... Đây là bước khởi đầu của thần học giải phóng.

Dù bản văn Vatican II cho nhiều người có cảm tưởng Giáo hội sẽ lôi cuốn và hấp dẫn hơn. Nhưng thực tế phong trào tục hóa đã quá sâu rộng trong thế giới Âu châu. Nên ngay sau Công đồng, người ta vẫn thấy sự thụt lùi rõ rệt về việc thực hành tôn giáo. Đan cử trường hợp nước Pháp : số người dự lễ chủ nhật năm 1950 là 30 (trên 100), năm 1966 còn 23, 1972 còn 17 và sau 1980 chỉ còn 12; số trẻ em dưới 7 tuổi rửa tội hàng năm giảm 1,7%. Số linh mục triều năm 1965 là 40.000, 1975 là 36.000 và 1985 chỉ còn 28.000, số tân linh mục mỗi năm trước trên một ngàn, giảm xuống 500 (1985 chỉ trên 100) chưa kể số linh mục bỏ tác vụ để kết hôn hoặc dấn thân vào chính trị (gần 6000). Hôn nhân theo lễ nghi tôn giáo cũng giảm thiểu. Việc ly dị từ 1/10 vào 1963, tăng lên 1/5 năm 1979 và 1/3 năm 1985.

Một số người như nhóm bảo thủ của đức cha Lefèbvre đổ lỗi tất cả những xáo trộn trên Vatican II, họ từ chối tuyệt đối Công đồng đã thay đổi phụng vụ, và đường lối cổ truyền. Trong khi đó những nhà thần học của Công đồng thì cắt nghĩa rằng : người ta đã giải thích công đồng sai, việc áp dụng đôi khi quá vội vã, sử dụng cơ chế tự do mà lại chưa chuẩn bị những Kitô hữu chín chắn.

Dẫu sao, năm 1985, các giám mục thế giới họp thượng hội đồng kỷ niệm 20 năm Vatican II, đã kết thúc bản tuyên ngôn như sau : "Thượng hội đồng hết lòng tạ ơn Thiên Chúa Cha, nhờ Con Một Ngài và trong thần khí về ơn huệ lớn lao nhất của thế kỷ nàyđã lãnh nhận,đó là công đồng Vatican II... Chúng tôi cam kết tìm hiểu thấu đáo hơn và đưa vào thực hành".

3,2. Trên những nẻo đường mới của Vatican II

Tuy có nhiều dấu hiệu bất ngờ trên, người ta phải công nhận Giáo hội đã bước qua một khúc ngoặt của lịch sử :

a/ Một Giáo hội phục vụ con người

Đức Phaolô VI tại Liên Hiệp Quốc đã khẳng định : "là chuyên gia về nhân loại, chúng tôi tôn trọng con người". Con người cụ thể nay trở thành điểm gặp của Giáo hội với mọi phong trào tổ chức trên thế giới. Qua các chuyến du hành, ngài và đức Gioan Phaolô II không ngừng lên tiếng bênh vực cho nhân quyền. Ủy ban "Công lý và Hòa bình" được thiết lập năm 1967 có văn phòng tại nhiều quốc gia. Người kitô hữu được kêu gọi hiện diện và hoạt động trong mọi lãnh vực của đời sống qua việc dấn thân xã hội và chính trị của họ. Nhiều phong trào Công giáo tiến hành mong muốn có một chọn lựa về chính trị rõ rệt. Tuy nhiên chủ trương đa dạng về dấn thân gây nên một số căng thẳng do dị biệt giữa các Kitô hữu.

d/ Phong trào đại kết

Công đồng đã khai mở những nẻo đường rộng rãi cho phong trào đại kết. Giáo luật về hôn nhân dị giáo được giảm nhẹ. Giáo hội đã cử quan sát viên tham dự những cuộc họp lớn của Hội đồng Đại kết và qua đó, Giáo hội chú ý theo dõi, hiệp thông với những ưu tư của Hội đồng này.

Ở nhiều cấp độ và trong nhiều quốc gia, các bản văn chung được soạn thảo. Bản dịch Kinh Thánh đại kết (TOB, 1972) gặt hái nhiều thành công lớn lao. Nhóm Dombes (của hồng y Mercier) phỗ biến hàng loạt những tài liệu thần học do trao đồi giữa người Công giáo và Tin Lành : như nghi lễ Tạ Ơn (1972), các tác vụ (1973), tác vụ Giám mục (1976) Chúa Thánh Thần, Giáo hội và Bí tích (1979)... Năm 1973 ban thường trực Hội đồng Giám mục Pháp và Hội liên hiệp Tin Lành Pháp đã cùng phỗ biến những suy tư về việc buôn bán vũ khí... Dầu vậy, với một số người thì cần cổ võ hoạt động chung trước khi nghĩ đến chuyện thống nhất về tín lý.

c/ Trước bối cảnh phục hồi cảm thức tôn giáo

Từ 1970, trên thế giới bổng xuất hiện phong trào trở về đời sống tâm linh. Có lẽ vì những khoa học, triết lý, các ý thức hệ và cả các tôn giáo lớn vẫn chưa tìm ra giải đáp cho những âu lo của con người. Nhiều tôn giáo mới đang xuất hiện, hoạt động bói toán, chiêm tinh... vẫn tạo được nhiều ảnh hưởng mới. Có những phong trào nhân danh đức Giêsu mà chẳng liên hệ gì đến các giáo hội, như trình diễn nhạc Opéra-Rock về Giêsu, Jésu Super Star, Godspels; những khẩu hiệu đa dạng và phổ biến tùy tiện để trang hoàng theo "mốt" như in trên áo "Giêsu cứu độ", "Giêsu thương bạn"....

Ngoài ra, do ảnh hưởng phái Pentecotism của Tin Lành, trong Giáo hội cũng xuất hiện phong trào Thánh Linh với các hiện tượng phi thường như nói tiếng lạ, ơn chữa bệnh và những cuộc hoán cải đông đảo (?). Tích cực hơn ta thấy sự hưởng ứng của nhiều bạn trẻ với phong trào Taizé (từ 1974), phong trào tham dự cầu nguyện tại các đan viện và nhất là tầm quan trọng của một số nhân vật tôn giáo trên các phương tiện truyền thông xã hội như : Martin Luther King, Mẹ Têrêxa Calcutta, đức Gioan Phaolô II. Những cuộc hành hương (tuy đôi khi chỉ là du lịch đạo đức) cũng thấy gia tăng ngày càng đông.

3,3. Tổ chức Giáo hội hôm nay

a/ Những chuyển hướng đa dạng

Giáo hội Phương Tây mất dần sự thống trị tuyệt đối trong Giáo hội của những thế kỷ trước. Phân nửa tín hữu hiện nay ở Châu Mỹ Latinh, Brasil nay là nước đông tín hữu nhất. Sự tăng vọt của dân số Phi châu đang gia tăng vị trí của Giáo hội này... Hơn nữa, mỗi vùng lớn của Giáo hội lại có những ưu tiên riêng biệt :

* Tây Âu bận tâm về vấn đề tục hóa, việc tìm kiếm một hệ thống giá trị và cải Tổ đạo đức luân lý.

* Châu Mỹ Latinh ưu tiên giải quyết việc nghèo đói, những bất công kinh tế và cách mạng xã hội.

* Tại vùng Trung Đông có vấn đề Tôn giáo Đông Phương, liên lạc với Hồi giáo.

* Nam Phi có phong trào chống kỳ thị chủng tộc...

Trong tình hình chấp nhận đa dạng, các văn kiện tòa thánh như thông điệp, tông thư thường tìm những ngôn ngữ có thể áp dụng cho mọi người. Ngôn ngữ này bị nhiều người phê phán là không đáp ứng bối cảnh cụ thể. Ngay các Giáo hội địa phương cũng gặp khó khăn tương tự, vì chấp nhận các chủ trương thần học hoặc chính trị khác nhau.

b/ Quốc tế hóa giáo triều

Hồng y đoàn được quốc tế hóa. Những chức vụ lớn trong giáo triều không còn dành riêng cho người Ý. Hồng y Villot người Pháp đã là quốc vụ khanh, hồng y Etchegaray là chủ tịch văn phòng Công lý Hòa bình. Giới hạn về tuổi của các vị có trọng trách (tuổi hưu 75) xác định rõ hơn khía cạnh phục vụ của các chức vụ này. Những hội đồng Giám mục và Thượng hội đồng Giám mục nói lên tập đoàn tính của các ngài và làm thăng bằng sự tập quyền của Roma. Hai cuộc bầu cử giáo hoàng gần đây cho thấy bầu khí mới đó. Đức Gioan Phaolô I (2 đến 29-9-1978) tuy vẫn là người Ý, nhưng là mẫu người hòa giải và không ở trong giáo triều (ngài là thượng phụ Venise). Việc bầu hồng y Wojtyla ngày 16-10-1978 người Ba Lan, rõ rệt là hậu quả việc quốc tế hóa các hồng y, khẳng định ý muốn giảm bớt ảnh hưởng quá lớn của Ý và các Giáo hội phương Tây. Hoạt động của ngài, chúng ta có thể theo dõi trên các phương tiện thông tin hằng ngày.

GIÁO HỘI NĂM 2000

Để kết thúc, xin trích dẫn một đoạn viết về "Giáo hội năm 2000 " của hồng y Koenig tháng 12.1974 (Jean Comby, sđd II, tr. 230).

"Giáo hội trong tương lai sẽ đơn giản hơn trong nhiều điểm. Giáo hội sẽ không phê phán hay quyết định gì về những vấn đề Giáo hội không thông thạo (...) Trong tương lai, người ta sẽ có một tôn giáo của tự do, không hạn chế những đặc điểm riêng của con người, vì nơi nào có Thánh Thần của Chúa hoạt động, nơi đó phải có tự do (...).

Giáo hội của tương lai sẽ tự làm cho mình nên nhẹ nhàng để trở thành linh động. Giáo hội đó không tự trang bị cho mình những bộ máy nặng nề, như những loại xã hội chỉ có thể dựa vào sức mạnh của cơ chế... Một Giáo hội truyền giáo đòi hỏi tính sáng tạo, Giáo hội đó không để chết cứng vào cơ chế quá khứ, như thể sống chết cũng phải lệ thuộc vào nó, nhưng Giáo hội sẽ sáng tạo nên những cơ chế mới theo lời mời gọi của Thánh Thần và những nhu cầu của thời đại ; tin tưởng vào cuộc đời và dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần, Giáo hội dám liều loại bỏ cơ cấu nếu việc phục vụ Tin Mừng đòi hỏi.

Là Giáo hội truyền giáo, Giáo hội sống cộng sinh với khung cảnh văn hóa và xã hội, Giáo hội chấp nhận những chân lý và giá trị của cộng đồng xã hội đó; Giáo hội không dựng nên những pháo đài, không đào hào để tự vệ, và cũng không vũ trang để xâm chiếm.

TOÁT YẾU

Trong vài thập niên gần đây, Giáo hội đã phải đương đầu với những thay đồi biến chuyển lớn của thế giới. Trong đệ nhị thế chiến, đức Pio XII giữ đường lối trung lập, có nhiều nỗ lực để giảm bớt những thảm họa do chiến tranh gây ra. Thế nhưng, sau thế chiến, trong bối cảnh cuộc phân rẽ Đông-Tây : khi các tín hữu tại Tây Âu đã khẳng định được vị trí mình trong cộng đồng dân tộc thì ngược lại tín hữu Đông Âu gặp nhiều khó khăn do các phong trào tục hóa và hiểu lầm. Thế nhưng, Giáo hội thời đức Gioan XXIII và Phaolô VI đã có nhiều nỗ lực ngoại giao để nối lại quan hệ với những quốc gia này ngày càng tốt đẹp hơn.

Trong bối cảnh đó Giáo hội đã tiến hành công đồng Vatican II (1962-1965) vừa tự duyệt xét lại sinh hoạt của mình dưới ánh sáng Tin Mừng vừa đúc kết những tiến triển của thần học trong tiền bán thế kỷ XX. Nhờ Vatican II, Giáo hội từ bỏ độc quyền về chân lý, về luân lý và về cả tôn giáo để tin tưởng hơn vào Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng sáng tạo đồi mới, Đấng vẫn làm việc nơi mọi người đồng hành với thế giới lắng nghe tiếng Chúa qua các thời điểm và nỗ lực xây dựng Nước Trời ngay từ trần gian. Điều này làm nổi bật vai trò của người tín hữu.

Trên đường trở về nguồn Tin Mừng và Đức Kitô, người tín hữu được kêu gọi trở về với nội tâm để góp phần cách sáng tạo vào sứ vụ Giáo hội : vừa đa dạng theo môi trường văn hóa riêng vừa liên đới trách nhiệm với toàn Giáo hội. Do thiếu chuẩn bị, việc áp dụng Vatican II đã gặp phải nhiều khó khăn bất ngờ, nhất là vào năm 1968, nhưng những nẻo đường mới của đại kết, của việc chọn lựa phục vụ nhân quyền giúp Giáo hội có khả năng hiện diện và phục vụ nhân loại cách hữu hiệu. Cơ chế Tổ chức sau Vatican II đã tạo điều kiện cho hồng y đoàn, cho các hội đồng và Thượng Hội đồng giám mục đáp ứng đúng lúc và phong phú đa dạng trước những vấn đề mới do thế giới đặt ra.


1565