Sidebar

Chúa Nhật

25.09.2022

Chương 6: Sáu Thế Kỷ Âu Châu Kitô hóa_Bài Đọc Thêm


BÀI ĐỌC THÊM

MAN DÂN

Các chủng tộc man dân đến nay là các chủng tộc Âu châu. Nhưng so với văn hóa Roma thời đó, họ bị gọi như vậy. Có ba khối Man Dân chính

a. Tây Âu : Dân German, to lớn, khỏe mạnh, chất phác và ngay thẳng. Có hai ngành :

* Teutonique gồm : Franc, Bourgon, Anglo, Saxon, Alaman
* Goth : Ostrogoth (Đông) và Visigoth (Tây) gồm : Suève, Vandale, Herule, Lombard.

b. Đông Âu : Chủng tộc Slave, tính hăng hái, ưa di động.

Gồm : Russo (Đông), Bulgare ( Nam), Tcheque (Tây).

c. Á châu : thường di dân để tìm đất sống, tàn phá những vùng chống cự, sau đó rút về đồng vắng. Gồm Hung nô, Avar, Magyar, Turco

HỒI GIÁO THẾ KỶ VIII

Hồi Giáo (622) của Đức Mahomet (570-632) đem lại cho người Ả-rập một năng lực mới. Họ tiến quân như vũ bão. Syrie, Ai-Cập muốn thoát ảnh hưởng Constantinople, đón tiếp họ năm 636-641. Giêrusalem thất thủ năm 638, Alexandria 642, Ba-Tư 657, Bắc Phi bị chiếm năm 670, rồi Tây Ban Nha năm 711. Năm 732, dân Pháp bắt họ dừng bước tại Poitiers.

Vì thế, các Giáo hội Kitô kỳ cựu bị Ả-Rập đô hộ.

Tại Đông phương : Các Giáo hội bị tàn lụi chậm, nhưng vẫn tồn tại, nồi tiếng là nhóm Coptes ở Ai Cập và Maronites tại Liban (gọi theo ngôn ngữ Phụng vụ).

Tại Bắc Phi số Giám mục năm 670 là 40, năm 1053 chỉ còn 4 vị. Đầu thế kỷ XII số tín hữu cuối cùng biến mất.

* * *

Sự thống trị của Ả-Rập ở miền Nam đế quốc xưa, khiến việc giao dịch Đông Tây bằng đường biển thêm khó khăn. Đang khi đó các chủng tộc Slaves dần dần định cư ở Đông Âu, tạo nên hàng rào chắn giữa Đông Phương Hy Lạp và Tây Phương La Tinh. Bản đồ Giáo hội có những thay đổi lớn.

Đế quốc Đông Phương bị Ả-Rập chiếm phía Nam, bị dân Slaves chiếm phía Tây và Bắc, nay chỉ còn là đế quốc Byzantin. Thế nhưng, vì các giáo tòa Alexandria, Giêrusalem, Antiokia đã bị chiếm, vai trò giáo chủ Constantinopoli trở thành lãnh tụ Giáo hội Đông Phương, đối đầu với Giám mục Roma.

TỪ THẨM MỸ ĐẾN THẦN THÁNH

(...) Nhưng các bài thuyết pháp, học thuyết và kinh bổn chưa đủ giải quyết vấn đề theo đạo nào. Tai nghe chưa đủ mà cần mắt thấy. Vì vậy, năm 987, theo lời khuyên của các chư hầu, Wladimir cử mười người nhân hậu và lanh lợi đến tận nơi mục kích thực trạng từng tôn giáo ra sao.

Thi hành sứ mạng, các sứ giả thấy tư thế, kiểu cách cầu nguyện của người Hồi Giáo thật kỳ lạ : "Ở họ chẳng thấy có niềm vui nào". Về nghi lễ Latinh, họ nói : "Ở đây chúng tôi không thấy bóng dáng của cái đẹp". Trái lại ở Constantinople, họ được dự những lễ nghi diễm lệ, uy nghi tại đền Sophia, họ kể cho nhà vua rằng :

"Chúng tôi không hiểu mình ở Thiên Đàng hay trần gian nữa, vì ở trần gian không thể nào có sự đẹp đẽ rực rỡ đến như vậy, đến nỗi chúng tôi không biết miêu tả thế nào. Chúng tôi chỉ biết rằng : Ở đó Thiên Chúa hiện diện giữa loài người và những nghi thức phụng tự của họ giá trị hơn bất cứ những nơi khác".Bây giờ nhà vua có thể chọn lựa.
(Thông tin Unesco th.6-1988, trang 9).

TẠI BELEM, GIÊRONIMO NGHE TIN ROMA THẤT THỦ

"Bất ngờ, người ta cho tôi hay Roma bị chiếm, một số lớn bạn hữu tôi đã chết. Tôi thấy rụng rời, ngao ngán phát điên lên...Tôi đau đớn mãnh liệt, lòng tôi bị xáo trộn và tôi cảm thấy như lửa cháy trong mình.

Không có gì lâu dài mà không có tận cùng ; nhiều thế kỉ đã trôi qua và người ta có lý để nói rằng bất cứ cái gì khởi sự đều sẽ phải hư đi, bất cứ cái gì lớn lên đều phải chấm dứt. Chẳng có tạo vật nào không bị già nua rồi biến mất. Thế nhưng, Roma ! Ai có thể nghĩ đến Roma được xây dựng bằng chiến thắng khắp thế giới, lại sụp đỗ trở thành mổ chôn do các dân mà nó là mẹ ?

Khắp các bờ biển Đông phương, Ai cập, Phi Châu giờ đây đầy dẫy những trẻ thơ, nô lệ và tị nạn của nó. Ai có thể nói được thánh địa Giêrusalem mỗi ngày tiếp nhận bao nhiêu người hành khất, những ông bà quí phái và giàu có xưa kia. Than ôi, chúng tôi không thể cứu trợ tất cả, nhưng ít ra chúng tôi cùng hòa nước mắt với họ.
(Giêronimo "Lời tựa chú giải Ezékiel" - JC. Để đọc LSGH. I,p.123)

ĐỊNH HƯỚNG LỊCH SỬ

"Biết đâu ? Có thể nhờ man dân xâm lấn đế quốc, để khắp nơi từ đông sang tây, các nhà thờ Chúa Kitô sẽ có những người Hung nô, Suève, Vandales, Bourgondes và các chủng tộc khác bên cạnh các tín hữu. Nếu nhờ sự hủy hại, bao dân tộc nhận biết chân lý mà họ không có cách nào khác để tiếp xúc, thì phải ca ngợi chúc tụng tình thương của Thiên Chúa biết bao".
(Orose, Lịch Sử Chống Man Dân - JC Để đọc LSGH. I,p125)

VIỆC CLOVIS TRỞ LẠI

Đạo quân của Clovis bắt đầu tan rã, thấy thế, vua Clovis giơ tay lên trời, nước mắt trào ra vì xúc động, và cầu khẩn :

"Lạy Đức Giêsu Kitô mà Clotilda quả quyết là Con Thiên Chúa hằng sống, người ta nói ngài cứu giúp những ai lâm nguy và ban chiến thắng cho những ai tin cậy nơi ngài, vậy tôi tha thiết cầu xin niềm vinh dự được ngài cứu giúp. Nếu ngài ban cho tôi chiến thắng kẻ thù, và chớ gì tôi được cảm nghiệm rõ quyền năng ngài, như dân đã hiến thánh cho ngài nói, rằng họ đã nhận được biết bao bằng chứng, thì tôi sẽ tin vào ngài và rửa tội nhân danh ngài. Vì tôi đã kêu cầu các thần của mình, và thấy rõ họ chẳng giúp gì cho tôi. Vậy tôi kêu cấu ngài, tôi ước ao tin vào ngài, chỉ xin cho tôi thoát tay kẻ thù".

Khi ông nói những lời này, dân Alaman quay lưng lại và bắt đầu tháo chạy...
(Gregorio thành Tours (538-594) Lịch Sử Nước Pháp, - JC Để đọc LSGH. I,p125)

HAI PHƯƠNG THẾ NHẰM HOÁN CẢI LƯƠNG DÂN

Lời khuyên của Giáo hoàng Gregorio cả gởi thánh giám mục Augustin, đan sĩ truyền giáo ở Anh.

"Phá hủy các đền thờ lương dân càng ít càng tốt chỉ hủy các tượng thần, rảy nước thánh trên chúng (đền thờ), lập các bàn thờ, đặt các thánh tích trong các kiến trúc này, để nếu các đền thờ có cấu trúc tốt, ta chỉ thay dụng đích của chúng, xưa là đổ thờ tự ma qủi, thì nay trong đó ta thờ lạy Thiên Chúa đích thực. Như thế, dân chúng thấy các đền thờ của họ không bị phá hủy, họ sẽ quên đi những lầm lạc của họ, và nhờ nhận biết Thiên Chúa đích thực, họ sẽ đến thờ lạy Ngài tại chính nơi tổ tiên họ đã đến hội họp. Và bởi họ đã có thói quen tế nhiều bò cho quỉ thần, ta nên không thay đổi gì trong các phong tục ngày lễ hội của họ. Như thế, vào ngày kỷ niệm cung hiến nhà thờ hoặc ngày lễ các thánh tử đạo có thánh tích đặt trong nhà thờ, cứ để họ dựng các lều đơn sơ bằng cành lá quanh nhà thờ như họ đã làm quanh các đền ngoại giáo ; cứ để cho họ mừng lễ bằng các bữa tiệc có tính tôn giáo.

Khi cho phép họ bộc lộ niềm vui theo cách cũ như thế, ta sẽ dễ dàng dẫn họ đến niềm vui nội tâm ; vì rõ ràng không thể loại tất cả một lúc trong những tâm hồn còn thô sơ như thế. Ta không leo núi bằng cách nhảy vọt lên, nhưng bằng những bước chậm rãi.
(Gregorio Le Grand, Lettres XI,56 - JC. Để đọc LSGH I,t.129)

THÁNH BONIFACIO

Sau khi đặt xong nền móng Giáo hội Hà Lan (Frisa), thánh Bonifacio liền tiến sang xứ Hesse và Thuringia. Việc trước tiên thánh nhân phải làm là sửa lại những thiếu sót trong việc truyền giáo trước mà nay còn lại nhiều vết tích dị đoan.

Với sự đồng ý của Đức Gregorio III, thánh nhân tổ chức hàng Giáo phẩm, phân lãnh thổ Đức thành nhiều Địa phận: mỗi Giám mục mang trách nhiệm một vùng nhất định, và từ nay giáo dân trực thuộc hàng Giáo phẩm địa phương. Vì tại Đức quốc chưa có nhiều đô thị, nên thánh Bonifaciô phải chọn những địa điểm thuận lợi hơn để đặt giáo phủ. Những giáo phủ và đan viện ngài xây dựng chẳng bao lâu sẽ trở thành những trung tâm trọng yếu và đô thị lớn.

Mặc dầu đã được tấn phong Tổng Giám mục, nhưng do đặc ân dành cho một số thừa sai thế kỷ trước, và nhất là để hoạt động truyền giáo đắc lực hơn, thánh Bonifacio không trực tiếp đảm nhận một địa phận nào. Mãi đến năm 745, ngài mới chọn Mainz làm trụ sở. Khi cuộc đời đã về chiều, thánh nhân chỉ còn mong một điều là được qua những ngày cuối cùng tại Đan viện Fulda yêu quí của ngài, để được an nghỉ tại đó. Không ngờ trong một chuyến truyền giáo cuối cùng ở Hòa Lan, ngài lọt vào tay người Thần giáo và được phúc tử đạo ngày 5-6-755
Theo Bùi đức Sinh LSGH I,tr.235-236

CYRILLO VÀ METHODO

Khi các ông hoàng Slaves mới rửa tội là Rastilav, Sviatopolk và hoàng thân Kolsel viết thư cho hoàng đế Constantinople là Michael (842- 876) rằng : quê hương chúng tôi đã được rửa tội nhưng chưa có thày giảng đạo biết dạy và giải thích kinh thánh. Chúng tôi không hiểu tiếng Latinh lẫn HiLạp nên kẻ bảo thế này người nói thế khác. Do đó, xin ngài gửi cho chúng tôi những tôn sư có thể giải thích chữ và tinh thần sách thánh.

Nghe thế, Michael liền triệu tập tất cả các triết gia hỏi ý kiến. Họ đáp : Ở Thessalonica, gia đình ông Lêo có hai người con thông thạo tiếng Slave, thành thạo khoa học và triết học ...

Đến nơi, Cyrillô và Methođô liền sáng lập ra mẫu tự Slave rồi dịch Phúc âm và sách Tông đồ công vụ. Dân Slave rất hân hoan khi được nghe những điều vĩ đại của Chúa bằng ngôn ngữ của mình [...] Nhưng một một số người phản đối tiếng Slave thì nói : không dân tộc nào có quyền có mẫu tự riêng, chỉ trừ tiếng Do thái, Hilạp và Latinh đã được Philatô cho ghi trên Thánh giá.

Giám mục Roma là đức Gioan VIII nghe thế, khiển trách những người chống Kinh Thánh Slave rằng: "Chớ gì Lời Kinh Thánh được hoàn tất, chớ gì mọi ngôn ngữ đều chúc tụng Chúa"
(Chronique de Nestor, bản văn thế kỷ IX - JC,Để đọc LSGH I, p 133)

ĐỨC STEPHANO V KẾT ÁN PHỤNG VỤ SLAVE

Methođô đem lại cho thính giả không phải điều xây dựng hay an bình mà là sự nghi ngờ và chia rẽ (...).

Việc cử hành phụng vụ bằng tiếng Slave chưa từng được ai cho phép (...).

Vì thế nhân danh Thiên Chúa và quyền tông đồ, ta cấm và ra vạ tuyệt thông cho những ai tuyên đọc Phúc âm và Thánh thư bằng tiếng Slave.
(Milot, l'Epopée missionnaire - JC,Để đọc LSGH I,p 134)

CHARLEMAGNE HOÀNG ĐẾ

Việc đức Lêo III đặt vương miện cho hoàng đế Charlemagne trước mộ thánh Phêrô đã đưa ông lên tuyệt đỉnh danh vọng, đánh dấu việc thoát ly chính trị khỏi Byzance. Địa vị Giáo hoàng từ nay không khác một chư hầu. Dù được trọng kính và giàu có, các vị không có thực quyền trên các giám mục, phải tuyên thệ trung thành với hoàng đế và chịu sự kiểm soát của một đại diện hoàng đế.

Giáo hoàng chỉ giữ hai đặc quyền : là quyền xức dầu trao vương miện cho tân hoàng đế và quyền trao Pallium cho các tổng giám mục. Dẫu sao các vị vẫn giữ được những đặc quyền thiêng liêng trong những vấn đề luân lý. Như đức Nicolas I cương quyết phản đối vua Lothaire khi ông đòi li dị vợ để cưới nàng hầu, và ngài truất quyền hai giám mục bênh vực ông. Cuộc tranh chấp kéo dài chín năm ngài mới thành công, nhưng ít ra ngài cũng tỏ ra khá độc lập.

SẮC LỆNH CHARLEMAGNE CHO DÂN SAXE

"... Ai vào nhà thờ dùng sức mạnh đập phá ăn cắp món đổ nào hoặc phá hủy, sẽ bị tử hình.
Ai khinh thường đạo Chúa Kitô, không tôn trọng ngày chay: tử hình.
Ai thiêu xác người chết theo nghi lễ dân ngoại : tử hình.
Tất cả những người Saxon không rửa tội, tụ tập thành nhóm đồng hương, từ chối việc rửa tội : tử hình.
(JC,Để đọc LSGH I,p129)

ĐÔI NÉT VỀ HỒI GIÁO

Mahômét sinh tại La Mecque. Mồ côi cha mẹ, anh đến ở với một người cậu, sau được giới thiệu làm quản gia cho bà Khadija. Trên đường giao dịch thương mại, anh tiếp xúc với các tôn giáo khác gồm Dothái giáo, Kitô giáo và Bái Hỏa Giáo.

Năm 40 tuổi, Mahômét nhận được mạc khải của đức Allah qua trung gian một thiên sứ. Ông bắt đầu giảng đạo và thu phục những môn đệ đầu tiên (Ali, Aboubek, Omar, Othman). Vị tiên tri cao cả cố gắng cải cách tôn giáo và xã hội nhưng không được quí trọng tại quê hương mình. Năm 622, thày trò phải kéo nhau di tản sang lập đạo tại Medina (ngày 16.7.622 khởi đầu kỷ nguyên Hồi Giáo, biến cố Hégire).

Năm 630, ông Hồi hương trong sự đón tiếp nồng hậu của dân La Mecque. Ngày 8.6.632 đức Mahômét từ giã cõi trần để về với đức Allah. Mahômét chỉ nhận mình là tiên tri chứ không phải là Thượng Đế. Aboubek nói : "Tôn thờ đức Allah hãy nhớ ngài hằng sống, tôn thờ đức Mahomét hãy nhớ ngài đã viên tịch".

+ Kinh Thánh của Hồi Giáo

- Sách kinh Coran do các môn sinh ghi lại lời của vị sáng lập. Sách hoàn thành năm 652, chia thành 114 đoạn, xếp theo tiêu chuẩn dài trước ngắn sau, với lối văn vần dễ cảm và dễ nhớ.

- Sách kinh Hadith ghi tiểu sử và công nghiệp đức Mahomét, bổ sung cho sách kinh Coran.

+ Danh xưng Hồi Giáo

- Musulman do chữ Muslim nghĩa là thuận thiên, quy phục Thượng Đế.
- Sarrasin : Phát xuất từ sắc tộc Aragen
- Islam : Do Mahomét xác nhận mình thuộc dòng dõi Ismael con trai Abraham

* Giáo lý

+ Chỉ có một thượng đế Allah
+ Bốn đại tiên tri Abraham, Môisen, Giêsu và Mahomét.
+ Tin phán xét, thiên đàng hỏa ngục.
+ Tin có thiên thần

* Năm giới luật chính

- Tuyên xưng :
"Allah là Thượng đế tối cao và Mahomét là tiên tri ngài gửi đến"
- Mỗi ngày hướng về La Mecque cầu nguyện năm lần.
- Giữ chay suốt tháng Radaman (tháng 9 dương lịch). Những ai trên 14 tuổi sẽ nhịn ăn, nhịn rượu, nhịn đàn bà từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn.
- Hành hương La Mecque ít là một lần trong đời, để kính viếng đá tảng Kaaba.
- Dành 1/10 lợi tức để làm phúc.

Hồi giáo không có bí tích và hàng giáo phẩm. Khá giống đạo Dothái : các đạo hữu tụ họp ngày thứ sáu ở hội đường nghe sách Kinh Coran và cầu nguyện ; Cấm tạc ảnh tượng Allah ; kiêng thịt heo ; chấp nhận đa thê (bốn vợ).

* Năm giai đoạn lịch sử
+ Thời Ảrập : Triều đại Omeyyades (661-750) Thủ phủ tại Damas
+ Thời Batư (750-1258), Thủ đô Bagdad, thời cực thịnh về văn hóa
+ Thời Thổ nhĩ Kì Ottomans, Cực thịnh về chính trị, chiếm Constantinople
+ Thế kỷ XVI-XIX : bị Âu châu chia cắt và đô hộ.
+ Hiện đại (thế kỷ XX)

Các quốc gia đã dành được độc lập nhưng bị các thế lực gây chia rẽ vì vấn đề dầu hỏa...

Thống kê 1988 của Hồi giáo là 992 triệu, bằng với Công Giáo.

Năm 2000. Hồi giáo hơn Công Giáo khỏang 130 triệu người.

Tại Việt Nam chỉ có khoảng 40.000 (Tp HCM có độ 7.000 đạo hữu)


1477