Sidebar

Thứ Ba
16.07.2024

Cổ Võ Việc Học Lời Chúa - Tháng 08 năm 2012

  1. Lời Chủ Chăn
  2. Thư Mục Vụ
  3. Diễn Giải Lời Chúa
  4. Lời Nguyện Chung
  5. Áp Dụng Thực Hành
  6. Học Kinh Thánh
  7. Tìm Hiểu Giáo Luật
  8. Sống Đạo
  9. Trang Linh Mục
  10. Trang Tu Sĩ
  11. Trang Sống Ơn Gọi
  12. Trang Thiếu Nhi
  13. Trang Giới Trẻ
  14. Trang Gia Đình
  15. Trang Giáo Lý Viên
  16. Trang Quới Chức
  17. Sống Đẹp
  18. Chuyện Thường Ngày
  19. Hỏi Đáp Mục Vụ
  20. Một Chút Tâm Tình

 

LỜI CHỦ CHĂN

TOÀ GIÁM MỤC VĨNH LONG
103 đường 3/2
Vĩnh Long

Vĩnh Long, ngày 29.07.2012


V/v  Cổ võ việc học  Lời Chúa


Kính gởi : Các Linh Mục,
                Các Tu Sĩ
                Và Anh Chị Em Giáo Dân

                Địa Phận Vĩnh Long

"Người ta sống không nguyên bởi bánh,
nhưng bởi mọi lời từ miệng Chúa phán ra" ( Mt 4,4)

1.  Mọi tín hữu đều nhận thấy phải trân trọng và học Lời Chúa, vì Dân Chúa chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa (Thư Chung, số 11). Công Đồng Vaticanô II  nói đến  sứ mạng Phục Vụ Lời Chúa. Dân Chúa đuợc quy tụ trước hết là nhờ lời Thiên Chúa hằng sống;  lời nầy phải được đặc biệt tìm thấy nơi môi miệng của các Linh Mục. "Thật vậy, không ai có thể được cứu rỗi nếu trước đó không có lòng tin, do đó các Linh Mục, vì là cộng sự viên của các Giám Mục, nên trước tiên có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa cho mọi người"( P.O. số 4).

Trong hơn hai mươi thế kỷ đã qua Hội Thánh đã thi hành sứ mạng Phục Vụ Lời Chúa như thế nào?

"Từ buổi đầu, Các tín hữu chuyên cần với giáo huấn của  các Tông Đồ  và hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng " (Tđcv 2,42).

2.   Theo  truyền thống nầy  Thánh Lễ cùa chúng ta  được hình thành  với hai phần chính: Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ  Thánh Thể. 

Tông Huấn Lời Chúa Trong Đời Sống Và Trong Sứ Mạng Của Hội Thánh của Đức Bênêđitô XVI (30.09.2010) cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Hội Thánh đối với Lời Chúa.

Nếu có ai đó thắc mắc: Tại sao phải học Lời Chúa, thì câu  trả lời cho họ là: Lời Chúa cần cho  sự sinh tồn của Hội Thánh, cũng giống như người ta phải ăn phải uống để sống còn.

3.  Ngày nay, chúng ta không thiếu những phương tiện để học hỏi Lời Chúa: chúng ta có Thánh Kinh trọn bộ, Thánh Kinh Tân Ước, sách Sống Lời Chúa, Suy Niệm Lời Chúa, Đọc Tin Mừng Theo Thánh Matthêu, Theo Thánh Marcô, theo Thánh Luca, theo Thánh Gioan.

Những chỉ dẫn của Huấn quyền của Hội Thánh cần thiết cho việc học hỏi Lời Chúa. Hội Thánh như người mẹ khôn ngoan biết cách dạy cho các con của mình biết sống Lời Chúa.

Ngoài ra, cần có  những phương pháp giúp học Lời Chúa  và cầu nguyện với Lời Chúa. Phương cách được nói đến rất nhiều  trong những năm gần đây, khi  Đức Hồng Y Carlo Maria Martini làm Tổng Giám Mục Milanô. Ngài dùng Lectio Divina  để  cho cả Tổng Giáo phận học hỏi Lời Chúa.

Đức Gioan Phaolô II  quả quyết  lợi ích của Lectio Divina: Cách đặc biệt, việc lắng nghe Lời Chúa cần phải trở nên một cuộc gặp gỡ  đầy sức sống, theo truyền thống xa  xưa mà vẫn còn  hiện tại (actuelle) của Lectio Divina, cho ta rút ra từ bản văn Kinh Thánh  một lời sống động chất vấn, hướng dẫn và đào luyện cuộc sống (Bước vào thiên niên kỷ mới, số 39).

Đức Bênêđitô XVI  đặc biệt nhắc lại và giới thiệu truyền thống Lectio Divina xa xưa: Việc siêng năng đọc Kinh Thánh, có cầu nguyện kèm theo, thực hiện cuộc trò chuyện thân tình với Thiên Chúa, là Đấng mà chúng ta nghe nói khi đọc, và chúng ta đáp lại khi cầu nguyện với một tâm hồn cởi mở và tín nhiệm. Cách thực hành nầy, nếu phát triển hữu hiệu, sẽ đem lại cho Hội Thánh một mùa xuân thiêng liêng mới (Bài Phát biểu ngày 16.09.2005 trước Hội Nghị Quốc Tế họp tại Roma  về Kinh Thánh trong đời sống Hội Thánh)

4. Lectio Divina là phương pháp đưa mỗi Kitô hữu vào khám phá những chân lý phong phú của Kinh Thánh qua việc: 

-   Đọc,

-   Suy gẫm,

-   Cầu nguyện,

-   Chiêm niệm.

Nhờ Lectio Divina, các chủ chăn  có thể thực thi  huấn dụ của Hội Thánh về sứ mạng Phục Vụ Lời  Chúa trong ngày thụ phong Linh Mục:

Con đã vui mừng lãnh nhận Lời Chúa, con hãy đem ra phân phát cho mọi người. Khi suy gẫm Lời Chúa, con hãy chú tâm tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy.

Giáo lý con dạy phải nên hương thơm nuôi dân Thiên Chúa, hương thơm đời sống con phải nên niềm vui thú cho tín hữu của Chúa Kitô, để lời nói và gương lành của con xây dựng nhà Thiên Chúa là Hội Thánh.

+ Tôma Nguyễn Văn Tân
                 Giám mục của Anh Chị Em

THƯ MỤC VỤ

CHỦ ĐỀ: CỔ VÕ VIỆC HỌC LỜI CHÚA

Được Lời Chúa qui tụ, Dân Thiên Chúa chỉ có thể được xây dựng vững vàng trên nền tảng Lời Chúa.  Được lắng nghe với lòng chân thành và kiên nhẫn, Lời Chúa sẽ trở thành nguồn sống dưỡng nuôi, ánh sáng soi đường và sức mạnh củng cố đức tin của các tín hữu trong mọi hoàn cảnh. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam cho thấy các hình thức sống Lời Chúa qua những việc đạo đức truyền thống như Đàng Thánh Giá, Kinh Truyền Tin, Kinh Mân Côi, Kinh cầu nguyện sớm tối, v.v... đã nuôi dưỡng và củng cố đời sống đức tin của bao thế hệ. Những việc đạo đức ấy thật đáng trân trọng và cần bảo tồn cũng như đổi mới và phát huy. Đồng thời, các tín hữu Việt Nam cần làm quen với Lời Chúa hơn nữa. Do đó Giáo Hội tại Việt Nam phải "phát động chương trình mỗi gia đình một cuốn Kinh Thánh được đặt nơi xứng hợp, cổ võ đọc và cầu nguyện với Lời Chúa",  khuyến khích học thuộc lòng những đoạn Kinh Thánh cốt yếu.  Mọi thành phần Dân Chúa, giáo dân, chủng sinh, tu sĩ và các mục tử, cần tập thói quen đọc và suy niệm Lời Chúa hằng ngày,  đặc biệt theo phương thức Lectio divina (Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 20-10, số 11).

DIỄN GIẢI LỜI CHÚA

Được dựng nên "theo và giống hình ảnh Thiên Chúa" (St 1,26) là Tình Yêu (X.1 Ga 4,16), con người chỉ có thể đích thực là chính mình khi  gắn bó với Thiên Chúa  và sống theo cách thế của Ngài: "Một khi được tạo dựng nên theo hình ảnh giống với Thiên Chúa tình yêu, chúng ta chỉ có thể hiểu được chính mình khi biết đón nhận Ngôi Lời và tác động của Chúa Thánh Thần. Chính nhờ ánh sáng của Mạc Khải do Ngôi Lời Thiên Chúa thực hiện mà bí ẩn trong thân phận con người được sáng tỏ trọn vẹn." (Tông Huấn Lời Thiên Chúa (Verbum Domini) số 6)

Để thực hiện điều ấy: "Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn ngỏ lởi với nhân loại, để mời gọi và đón nhận họ hiệp thông với Ngài. (Hiến chế Mạc Khải (Verbum Dei) số 2).

Và qua Kinh Thánh, nhất là qua Lời Thiên Chúa là chính Con Một Người, Thiên Chúa đã trải lòng ra để con người được nạh6n biết và hiệp thông với Người: "Nhưng để con người hiểu biết, đón nhận và đáp trả lời mời gọi của Ngài, Thiên Chúa đã ngỏ lời với họ bằng chính ngôn ngữ của nhân loại, cũng như sau nầy lời của Chúa Cha hằng hữu đến với con người bằng cách trở nên giống như loài người, mang vào mình nổi yếu đuối của xác thịt nhân loại" (MK số 13).

Như vậy, Kinh Thánh là Lời Chúa và là chính Chúa. Vì thế Hội Thánh "luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân Thể Chúa" (MK  số 21).

Để gặp được Chúa chúng ta cần đọc, suy gẫm, cầu nguyện và chiêm niệm Lời Chúa trong Kinh Thánh (Lectio Divina), hầu mưu lấy sự sống đời đời. Vì "những chân lý mà Thiên Chúa muốn Kinh Thánh ghi lại là vì phần rỗi chúng ta" (MK 11). Do đó, ai "không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô" (Thánh Hiêrônimô).

Việc đọc Kinh Thánh không chỉ như đọc một một câu chuyện về lịch sử cứu độ hay như lời thánh nhân, mà là động chạm đến chính Chúa Kitô. Chính Chúa Kitô, qua Lời của Ngài là  Kinh Thánh, biến đổi tâm hồn chúng ta, sửa đổi, uốn nắn và làm cho chúng ta nên thánh, để được cứu độ. Lời có sức biến đổi.

Thiên Chúa dùng quyền năng và Thánh Thần của Người - khi ta đón nhận Chúa Kitô, qua lời Kinh Thánh -   để tái tạo tâm hồn chúng ta trong ân sủng: "Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát, mà do hạt giống bất diệt, nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mãi mãi"  (1Pr 1,23). Hơn nữa, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của con người cần được ánh sáng Chúa Kitô dọi chiếu: "Không phải chỉ là vấn đề rao giảng sự an ủi, nhưng đúng hơn một lời gây phiền nhiễu, lời mời gọi hoán cải và mở đường cho sự gặp gỡ với Đấng mà qua Ngài, một nhân loại mới sẽ trổ sinh" (Verbum Domini số 93). Công Đồng Vaticanô II: "Giáo hội muốn các tín hữu đọc và học hỏi Kinh Thánh, nhất là các sách Tân Ước, để đời sống thiêng liêng được đổi mới" (MK 26).

Kinh Thánh không chỉ bày tỏ về Chúa Giêsu Kitô, nhưng còn chỉ cho chúng ta cách thức đón nhận Chúa Kitô để được cứu độ: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời " (Ga 3,16); bảo đảm sự cứu rỗi (Eph 4,30);  hạnh phúc của ơn cứu độ (Eph 1,3; Ga 14,1-3);  và Đức Giêu Kitô chính là Đấng cứu độ duy nhất của trần gian (Cv 4,12).

Kinh Thánh khiến người tin nên thánh. Nhờ mặc lấy con người mới trong Đức Giêsu Kitô, người Kitô hữu trở nên những người "thánh và được Thiên Chúa yêu thương" (Col  3,12). Nhờ học biết Lời Chúa là chân lý, chúng ta được Thiên Chúa thánh hiến: "Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật" (Ga 17,17).

Đức Bênêđictô XVI hối thúc mọi tín hữu đọc Kinh Thánh vì như thế có thể gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô: "Tôi bày tỏ niềm mong ước chân thành về một sự nở rộ một mùa xuân mới nơi mọi thành phần Dân Chúa đối với việc mến yêu Sách Thánh hơn, để việc đọc Thánh Kinh thấm đẫm lời cầu nguyện và đức tin, theo thời gian, sẽ khắc sâu mối tương quan cá vị của họ với Chúa Giêsu" (Verbum Domini 72).

Trong các gia đình Công giáo, việc cầu nguyện chung và đọc Thánh Kinh rất được khuyến khích. Mỗi gia đình cần phải có một cuốn Thánh Kinh riêng, được "gìn giữ ở một nơi xứng đáng, dùng để đọc và cầu nguyện" (Verbum Domini 85). Trong mọi trường hợp việc đọc Sách Thánh phải đi kèm với lời cầu nguyện. Ở đây, Đức Bênêđictô XVI trích dẫn lời Thánh Augustinô: "Khi bạn đọc Thánh Kinh, Chúa nói với bạn; còn khi cầu nguyện, bạn nói với Chúa" (Verbum Domini 86).

Lời Chúa có tầm quan  trọng tối thượng trong đời sống đức tin người tín hữu bời vì Lời Chúa tác động thực sự đến tâm hồn người đọc, biến đổi  và làm cho họ nên thánh, để họ được cứu rỗi.

"Nhờ đặc sủng linh hứng, các sách Kinh Thánh có sức hấp dẫn trực tiếp và hữu hình. Tuy nhiên, Lời của Thiên Chúa không chỉ giới hạn vào chữ viết, vì mặc dù mặc khải đã chấm dứt với cái chết của vị tông đồ cuối cùng, Lời mặc khải vẫn được tiếp tục loan báo và giải thích bằng Truyền thống sống động của Giáo Hội. Như vậy, Lời của Thiên Chúa, cố định trong các bản văn thánh, không phải là điều gì xơ cứng trong lòng Giáo Hội, nhưng là nguyên tắc tối thượng của đức tin và sức sống của Giáo Hội. Truyền thống mà Giáo Hội tiếp nhận từ các Tông đồ gia tăng nhờ Chúa Thánh Thần trợ giúp, và tăng triển nhờ suy tư và học hỏi của các tín hữu, nhờ kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng của cá nhân và giáo huấn của các giám mục".  (Thư ĐTC Bênêđictô 16, gửi cho Đức hồng y William Joseph Levada, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin và là Chủ tịch Ủy ban giáo hoàng về Kinh Thánh)

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời:  Anh chị em thân mến,

Lời Chúa là ngọn đèn hướng dẫn đời sống người tín hữu, và là lời thánh hoá con người Kitô-hữu. Chúng ta cần phải cộng tác để giảng dạy Lời Chúa, cần phải cổ võ việc học hỏi Lời Chúa tại các họ đạo. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện:

1.      Thánh Phêrô nói: "Bỏ Thầy con biết theo ai, nơi Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời". Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, thường năng học hỏi Lời Chúa để được theo Chúa và sống đời đời.

2.      Chúa phán: "Chỉ có một việc cần mà thôi, Maria đã chọn phần tốt nhất và không sợ ai lấy mất". Chúng ta cầu nguyện cho các kitô-hữu giúp nhau học hỏi Lời Chúa, lắng nghe, yêu mến và thực hành Lời Chúa.

3.      Sách thánh viết: "Đức Maria hằng ghi nhớ những sự việc ấy, và suy niệm trong lòng". Chúng ta cầu nguyện cho các kitô-hữu biết noi gương Đức Maria, hăng say loan báo Lời Chúa, và cổ võ cho việc học hỏi Lời Chúa.

4.      Chúa phán: "Ai nghe và tuân giữ Lời Chúa thì có phúc hơn". Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, chẳng những biết nghe và tuân giữ Lời Chúa, mà còn biết giúp nhau cử hành và học hỏi Lời Chúa.

Kết thúc:  Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con tận hưởng mọi hiệu quả của Lời Chúa. Xin cho chúng con biết góp phần làm cho kho tàng Lời Chúa đến với mọi người. Hầu cho tất cả những ai được Lời Chúa tác động, đạt tới sự sống muôn đời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

KINH THÁNH
Tầm Quan Trọng,  Sứ Mạng Loan Truyền Và  Phần Phúc

1. Tầm quan trọng của Kinh Thánh

Kinh thánh có một tầm hết sức quan trọng trong đời sống của Hội Thánh cũng như của mỗi Kitô hữu. Công Đồng Vaticanô II đã nói: "Trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên trời lấy lòng âu yếm đến gặp con cái mình và ngỏ lời với họ. Vậy sức mạnh và quyền năng chứa đựng trong Lời của Thiên Chúa rất lớn đến độ trở thành điểm tựa đầy năng lực cho Hội Thánh và là sức mạnh của đức tin, lương thực của linh hồn, nguồn sống thiêng liêng tinh tuyền và trường tồn cho con cái của Hội Thánh". (Dei Verbum số 21)

Lời Chúa có sức mạnh vượt sức tưởng tượng của con người. Vì "Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng và có ích trong việc giảng dạy, biện bác, khuyên răn, giáo dục, để trở nên người công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa trở nên hoàn hảo và cáng đáng được mọi việc lành" (2Tm 3,16-17). Quả vậy, không có khoa học, văn hoá học, nhân chủng học, tâm lý học hay bất cứ môn học nào giúp ta nên người công chính, ngoại trừ Lời Chúa.

Quả thật, Lời Chúa còn có sức biến đổi và ban phần gia nghiệp cho những người tin. Hơn thế nữa, "Lời Chúa là Thầy dạy dỗ, luôn tránh thói lọc lừa, rời xa những lý luận ngu dốt và ghê tởm những chuyện bất công" (Kn 1,5). Cho dù các câu châm ngôn, ca dao, những lời đạo đức, lời hay ý đẹp, những lời của các bậc hiền triết, những lời dạy của các bậc được coi là khôn ngoan trong xã hội... cũng không thể sánh được với Lời Chúa. Vì lời con người rồi cũng sẽ qua đi và tự bản chất không cứu nỗi ai. Còn Lời Chúa thì tồn tại mãi. Và, quan trọng hơn là Lời Chúa có sức cứu độ.

Thực vậy, Lời Chúa, "ngọt hơn mật ong nguyên chất" (Tv 19, 11), "Lời Chúa là đèn soi con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, 105). Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.  Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ. (Dt 4,12-13).

Vì vậy, việc mục vụ Kinh Thánh cho những người trẻ đang sống trong thời đại hôm nay là hết sức quan trọng. Nó có những hệ quả trực tiếp đối với mối quan hệ của họ, cá nhân cũng như cộng đoàn, với Thiên Chúa, đồng thời cũng liên quan chặt chẽ với sứ mạng của Hội Thánh.

Vì tầm quan trọng của Lời Chúa mà thánh Phaolô quả quyết: "Nếu Thiên Thần từ trời xuống giảng Tin Mừng khác với Tin mừng Hội Thánh rao giảng, thì nó là đồ chúc dữ"(Gl 1,18). Cũng vì tầm quan trọng và lợi ích của Lời Chúa, nên Giáo Hội mà cụ thể là các mục tử phải có nhiệm vụ rao truyền Lời ấy cho muôn dân.

2. Vai trò của Mục tử trong việc giảng dạy Kinh Thánh

Thánh Công Đồng nói rằng: "Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục của Chúa Kitô và những ai phục vụ Lời Chúa cách chính đáng, với tư cách là phó tế hoặc giảng viên giáo lý, phải gắn bó với Thánh Kinh nhờ chuyên cần đọc Sách Thánh và học hỏi kỹ càng; nếu không, sẽ có người trong họ thành "kẻ rao giảng Lời Thiên Chúa bên ngoài uổng công, bởi vì họ không lắng nghe Lời đó trong lòng" , trong khi họ phải thông truyền, nhất là trong phụng vụ thánh, những kho báu vô tận của Lời Thiên Chúa cho các tín hữu đã được giao phó cho họ" (Dei Verbum số 25).  Rõ ràng Hội Thánh nhắc nhở các mục tử trong việc giải thích và giảng dạy Kinh Thánh. Vì vai trò của mục tử không phải là dạy ngoại ngữ, cũng không phải dạy các môn khoa học, cũng không phải làm công tác xã hội mà nhiệm vụ chính của mục tử là giảng Lời, phục vụ Lời.

Ngoài ra, trong Chức vụ và đời sống Linh mục số 4 nói rõ: "Dân Chúa được đoàn tụ trước hết là nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống; Lời này phải được đặc biệt tìm thấy nơi miệng lưỡi các Linh mục". Vì thế, lời giảng dạy của các Linh mục trước hết phải nói Lời Chúa.

Vì Hiến Chế Phụng Vụ số 52 nói rằng: "Bài giảng phải căn cứ vào Kinh Thánh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những quy tắc cho đời sống Kitô giáo trong suốt chu kỳ năm Phụng vụ". Điều người giáo dân cần khi tham dự Tiệc Thánh là được nghe Lời Chúa, Lời được rao giảng cách xác tín và sống động để thỏa được "cơn khát" mà Chúa đã gieo vào lòng mỗi người. Thánh Phaolô nói: "Tôi giảng chẳng cần lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Lời Chúa và quyền năng Thiên Chúa" (1 Cr 2, 4).

Ngoài việc giảng lễ, vai trò của mục tử là phải tổ chức dạy Kinh thánh và huấn luyện đức tin cho đoàn chiên mà ngài được giao nhiệm vụ coi sóc.

3. Nhiệm vụ của giới trẻ đối với việc học hỏi Kinh Thánh.

Mỗi bạn trẻ đóng một vai trò quan trọng trong gia đình. Họ là tương là của Giáo Hội và xã hội. Họ cần được quan tâm cách đặc biệt trong đời sống đạo, nhất là lãnh vực đức tin, đào sâu mối tương quan với Chúa Giêsu. Là người trẻ Công giáo các bạn có nhiệm vụ phải học hỏi Giáo lý và nhất là Kinh Thánh. Các bạn không chỉ học cho chính mình, mà còn có nhiệm vụ thông truyền đức tin cho thế hệ con cái của họ trong tương lai.

Theo lẽ thường, bạn là công dân nước nào thì bạn phải học ngôn ngữ nước đó. Cũng vậy, muốn là công dân Nước Trời thì các bạn trẻ phải học và hiểu Lời Chúa rồi đem ra thực hành. Vì cái đích của hành trình làm người Kitô hữu là Nước Trời. Quê hương đích thực của chúng ta là ở trên Trời. Vì thế, Chúa hứa ban phần phúc cho ai vui thích nghe - sống Lời Chúa.

4. Phần phúc Chúa hứa ban cho những ai say mê nghe Lời Chúa.

Lần mở lại Cựu Ước ta thấy "Vua Salomon không xin phúc lộc thọ, chỉ xin Chúa cho ông tấm lòng biết nghe. Bởi thế, Chúa ban cho ông giàu có và khôn ngoan đến nỗi không ai sánh được với ông, và cả những điều ông không xin, Chúa cũng ban cho ông hơn lòng mong ước"( 1V 3, 7-9).

Chỉ có ai nghe bằng con tim, bằng tấm lòng, người ấy mới nhận biết Thiên Chúa. Bởi đó Chúa rất hài lòng về lời cầu xin của Vua Salomon: "Xin cho con tấm lòng biết nghe".

Quả thực, Chúa yêu chuộng tấm lòng người nghe Lời Ngài hơn dâng cho Ngài của cải vật chất. Điều Chúa cần là mong cho người ta nhận biết Lời của Ngài. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định và dạy: "Sống trên đời chỉ có một việc cần mà thôi, đó là ai nghe Lời Chúa như Maria, người ấy đã chọn được phần tốt nhất, và sẽ không bị sự dữ nào giật mất" (Lc 10, 42). Cụ thể như người ngoại giáo ở Ninive, vừa nghe lời ngôn sứ Giona đến giảng lời chúc dữ: "Còn 40 ngày nữa là Ninive bị lật đổ" (Gn 3, 3). Nghe thế từ vua đến dân, cả các súc vật đều ăn chay hối lỗi, Chúa đã đổi ý định phạt họ, còn cho họ được quyền xét xử dân có đạo mà không nghe Lời Chúa (Mt 12, 41). Điều này minh chứng tác động và sinh ơn của Lời Chúa trên những người đón nhận, đúng theo bản tính của Lời Chúa.

Tóm lược theo tác giả Thanh Nhiên

HỌC KINH THÁNH

BÀI 20:THƯ THỨ HAI GỞI TÍN HỮU THÊSSALÔNICA (II Thes)

1. Ai là tác giả của lá thư này?

Thánh Phaolô như đầu thư đã đề cập tới "Phaolô, Silvanô, Timôthêô kính gởi Hội Thánh Thêssalônica" (1,1) như lá thư thứ nhất và hơn nữa chương 3,17 còn xác quyết thêm là chính ngài viết.

Trong những thập niên cận đại gần đây, một số tác giả không thừa nhận quyền tác giả của Phaolô, họ dựa vào những lý lẽ như: từ ngữ, điệu văn nhất là giáo lý về ngày quang lâm.

Trong thư nêu những dấu hiệu tiên báo khác với thư I Thes. 5,1-3. Nhưng các lý do ấy không có chi đòi buộc chúng ta phải phủ nhận truyền thống từ xa xưa trong Giáo Hội (từ TK II tới giờ) vẫn thừa nhận Thánh Phaolô là tác giả thư này.

2. Lá thư được viết lúc nào và viết tại đâu?

Lá thư được viết vài tháng sau khi Thánh Phaolô viết thư I Thess và cũng được viết tại Côrintô.

3. Mục đích của bức thư này là gì?

Mục đích của bức thư này là để sửa chữa những hiểu lầm về Tin mừng và khiển trách những người nại vào ngày quang lâm của Chúa (2,1-12). Ngài đã khiển trách những kẻ lười biếng và sống vô trật tự (3, 6-15).

4. Hãy trình bày ngắn gọn nội dung của bức thư?

Ngoài phần chào thăm và tạm biệt ở đầu và cuối thư, Phaolô đã tạ ơn Chúa cùng cầu xin cho tín hữu được bền đỗ (1, 3-12) và trình bày giáo lý về ngày quang lâm của Chúa (2,1-12). Ngài đã khiển trách những kẻ lười biếng và sống vô trật tự. (3, 6-15).

5. Đâu là những điểm hiểu lầm cần được điều chỉnh?

Những điểm về ngày quang lâm của Chúa như ý tưởng cho "ngày của Chúa đến rồi" (2,2) mà kết quả là một số "sống lười biếng vô trật tự" (3, 6), "chỉ lo dung dưỡng thân xác mà chẳng làm lụng chi" (3,11).

6. Thánh Phaolô đã đưa ra những phương dược nào để sửa trị những lạm dụng trên?

Ngài nhắc nhở "những truyền thống mà giáo đoàn đã học được nơi ngài lúc ngài ở giữa họ bằng lời nói cũng như thư từ". (2,15; 3,6)

Ngài nhắc lại cho họ chính mẫu gương của ngài "anh em hãy bắt chước chúng tôi, chúng tôi đã không sống vô trật tự lúc ở giữa anh em" (3,7)

Rồi ngài căn dặn: "trong Chúa Kitô hãy bình tâm làm lụng mà nuôi lấy chính mình" (3,17)

7. Trong thư nầy thánh Phaolô đã trình bày về ngày quang lâm như thế nào?

Ngài xác quyết rằng: "ngày của Chúa chưa đến, vì trước ngày ấy sẽ có những ly tán và những hoành hành của con người vô đạo! Nhưng ngay khi Chúa đến hắn sẽ bị hủy diệt" (x. 2, 1-12)

Vài câu đáng nhớ trong thư 2 Thes:

- "Chúng tôi hằng cầu xin cho anh em, xin Thiên Chúa chúng ta khấng làm cho anh em được xứng đáng với ơn thiên triệu và dùng quyền năng làm hoàn tất hết những điều anh em ao ước làm lành và hết mọi việc làm của đức tin anh em" (1, 11).

- " Anh em không làm việc thì không đáng ăn" (3,10b).

- "Anh em đừng quản ngại làm lành" (3,13).

- "Hãy sửa bảo lẫn nhau như người anh em" (3,15b).

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa là niềm hạnh phúc đích thực của con. Xin cho con biết mang trái tim yêu thương của Chúa để con cũng đem hạnh phúc đến cho anh chị em con. Amen

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

THÀNH SỰ HOÁ HÔN NHÂN tt
(Đ. 1156-1165)

Như đã giới thiệu trong nguyệt san tháng 7 vừa qua, việc thành sự hoá hôn nhân có thể được thực hiện một trong hai cách: thủ tục đơn thường và thủ tục "điều trị tại căn" tuỳ vào nguyên nhân làm cho hôn nhân bất thành mà có thể chọn cách thức nào. Chúng ta cũng đã tìm hiểu cách thức thứ nhất là thủ tục đơn thường, trong tháng nầy, chúng ta tìm hiểu cách thứ hai là điều trị tại căn.

II. Điều trị tại căn

1. Điều kiện được ban cấp

Nếu như việc thành sự hoá hôn nhân theo thủ tục đơn thường là do chính hai người phối ngẫu thực hiện, thì việc điều trị tại căn là do thẩm quyền của Giáo hội. Hay nói đúng hơn, thẩm quyền của Giáo hội giúp loại bỏ những yếu tố "cản trở" làm cho hôn nhân đó đã cử hành nhưng bất thành để cho nó được thành sự, như điều 1161 đã dạy: 

Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là việc thành sự hoá hôn nhân ấy mà không buộc lặp lại sự ưng thuận, do nhà chức trách có thẩm quyền ban, bao hàm việc miễn chuẩn một ngăn trở, nếu có, và thể thức giáo luật, nếu đã không tuân giữ, cũng như sự hồi tố của những hiệu quả giáo luật (đ.1161§1).

Điều cần lưu ý ở đây, việc điều trị tại căn một hôn nhân bất thành do có ngăn trở lúc kết hôn, là ngăn trở thuộc luật Giáo hội (thiếu tuổi, khác đạo, lời khấn...), chứ không phải luật tự nhiên hay thiên luật. Lý do là vì Giáo hội chỉ có thể miễn chuẩn điều gì thuộc về mình hay thuộc thẩm quyền của mình mà thôi. Cho nên, bao lâu những ngăn trở theo luật tự nhiên hay thiên luật (dây hôn nhân trước, bất lực tuyệt đối và vĩnh viễn, họ máu hàng dọc và hai bậc hàng ngang) chưa chấm dứt thì không thể ban cấp việc điều trị tại căn được. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng, những ngăn trở vừa kể chỉ có dây hôn nhân có thể chấm dứt vì người phối ngẫu chết hoặc được thẩm quyền tuyên bố dây hôn phối vô hiệu; ngăn trở do bất lực và họ máu thì... đành chịu! Vì không thể chấm dứt do bản tính của nó.

Cũng vậy, cụm từ "không buộc lặp  lại sự ưng thuận" phải được hiểu là sự ưng thuận của hai người phối ngẫu vẫn còn và họ vẫn ao ước tiếp tục đời sống chung, khi điều trị tại căn thì được miễn chuẩn lặp lại sự ưng thuận nầy, chứ Giáo hội không thể miễn chuẩn sự ưng thuận của hôn nhân xét vì đó là yếu tố cấu thành của hôn phối (x.đ.1057§1).

2. Thẩm quyền ban cấp

Trước đây (bộ giáo luật 1917) ban cấp việc điều trị tại căn được dành cho Toà thánh. Bộ giáo luật hiện hành chỉ giữ lại hai trường hợp sau đây:

2.1. Khi giá thú vô hiệu vì một ngăn trở tiêu hôn mà việc miễn chuẩn được dành cho Toà Thánh (chức thánh, lời khấn trọn đời trong dòng tu thuộc luật Toà Thánh, mưu sát người phối ngẫu);

2.2. Khi giá thú vô hiệu vì một ngăn trở thuộc thiên luật mà nay đã chấm dứt (sự bất lực và dây hôn phối).

Ngoài những trường hợp trên, Đức giám mục Giáo phận có thể ban việc điều trị tại căn cho từng đôi hôn phối riêng lẽ khi được xin.

Dĩ nhiên, xét vì việc điều trị tại căn bao hàm việc chuẩn chước một số điều khoản giáo luật, nên phải có lý do hợp lý và chính đáng thì mới ban cấp.

Cũng nên biết là theo điều 1164, có thể ban cấp việc điều trị tại căn tuy dù một bên hay cả hai bên không biết đến. Nói cách khác, không cần phải là chính đôi vợ chồng đứng ra xin, nhưng có thể một người thứ ba hay biết lý do của sự vô hiệu, và tự ý xin nhà chức trách ban việc điều trị, miễn là giả thuyết rằng hai vợ chồng còn muốn sống chung với nhau (x.đ.1161§3).

3. Hiệu quả

Hôn nhân trở nên hữu hiệu kể từ ngày ban cấp điều trị tại căn. Tuy nhiên, theo điều 1161 thì những hiệu quả của hôn nhân có hiệu lực hồi tố, nghĩa là kể từ ngày cử hành hôn lễ:

Việc điều trị tại căn được thực hiện từ lúc ban an huệ; nhưng việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân được cử hành, trừ khi luật đã minh nhiên định liệu cách khác (đ.1161§2).

Việc hồi tố nầy chính là nhằm để hợp thức hoá con cái sinh ra trong hôn nhân: con cái được kể là hợp thức từ lúc sinh ra chứ không phải từ lúc điều trị tận căn.

4. Thủ tục xin điều trị

Việc xin điều trị có thể do một trong hai người hoặc cả hai hoặc do người thứ ba nhân danh họ xin với thẩm quyền của Giáo hội (Giám mục Giáo phận hay Toà Thánh tuỳ nố. Nội dung xin điều trị phải trình bày rõ và đủ các sự kiện, lý do làm cho sự ưng thuận bất thành; nói rõ đã ưng thuận từ đầu và nay vẫn còn; nêu lý do vì sao xin điều trị tận căn mà không theo cách thành sự đơn thường; nếu có ngăn trở thuộc luật tự nhiên hay luật thiên định thì phải có chứng thư xác nhân ngăn trở nầy đã chấm dứt.

Tài liệu: J. A. Coriden, T. J. Green, New Commentary on the Code of Canon Law; Phan T. Thành, Giải thích Giáo luật.

SỐNG ĐẠO

TÌM ĐẠO

Tôi có đạo, tôi giữ đạo? Vì ông bà cha mẹ tôi có đạo, khi tôi vừa mới sinh ra lo liệu cho tôi được rửa tội và khi tôi lớn lên đã lo lắng dạy dỗ tôi hướng dẫn tôi giữ đạo.

Nhưng đúng ra tại sao tôi có đạo?  Đạo là đường lối là luật lệ tôi phải sống phải giữ cho tôi nên con người đúng đắng thiện hảo, để nên đúng thật là con Chúa và để đạt hạnh phúc muôn đời.

Đạo không hẳn là của ông bà cha mẹ tôi tạo dựng mà đạo là do Chúa dựng nên. Chúa không dưng nên cho có tôi thôi, vì như vậy vô ích. Chúa dựng nên tôi mong muốn cho tôi đạt mục đích - đạt mục đích và dạy dỗ tôi phải sống sao cho đúng mục đích. Sống đúng với mục đích là đường lối sống đạo.

Đạo dạy chúng ta phải sống thờ phượng Chúa, sống đúng đường lối Chúa chỉ định, nghĩa là sống đúng với phẩm giá con người. Sống như thế mới đạt được mục đích phần thưởng Chúa dành để cho con người. Sống đúng mục đích Chúa chỉ định đó là sống đạo, sống tốt, sống đúng, sống đáng được hưởng hạnh phúc.

Sống không biết thờ Chúa, sống không tốt, không đúng với nhân phẩm và lao mình theo tửu, sắc, tài, trí...đó là sống vô đạo- mà sống vô đạo là cuộc sống không đáng làm người, đã không được phước mà lại bị phạt, sống đời sống hại mình mà cũng hại đời nữa.

Tôi hãnh diện hay đúng hơn tôi cảm ơn Chúa vì tôi đã được biết đạo. Tôi có vui thực vì được giữ đạo? Tôi có an vui vì thấy mình biết sống đạo và giữ đạo? Hay tôi không theo lòng Chúa mà lại chống với ý Chúa. Chẳng những không theo lòng Chúa mà còn làm hại người khác.

Chúng ta đã sống đạo và giữ đạo như thế nào?

TRANG LINH MỤC

LINH MỤC VỪA LÀ THẦY DẠY VỪA LÀ MÔN SINH


 1. Môn đệ và tông đồ

+ Linh mục là tông đồ, tham gia sứ vụ tông đồ của Giáo hội. Cùng với giám mục và dưới sự hướng dẫn của giám mục, linh mục là người được sai đi loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu.

+ Linh mục cũng như các tông đồ, trước khi được sai đi, đã được kêu gọi, được đào tạo, được chọn. Trước khi là tông đồ, chúng ta phải là môn đệ. Người môn đệ phải không ngừng gần gũi với Thầy, tiếp xúc với Thầy, học hỏi nơi Thầy.

+ Chúa Giêsu không những là Thầy, mà còn là Chúa của chúng ta, nên việc chúng ta học hỏi nơi Người, là môn sinh của Người, không dừng lại ở một giai đoạn. Khoa học mà chúng ta học với Chúa Giêsu không là khoa học theo nghĩa trần gian, nhưng là khoa học thần linh (science divine), khoa học về sự sống, về tình yêu của Thiên Chúa. Chính vì thế mà "ngừng học" là "không biết gì nữa", không nói được gì nữa. Ngưng là môn đệ cũng là chấm dứt công việc tông đồ. Trường hợp Giuđa thực là rõ ràng: khi không muốn nghe Chúa nữa, ông bắt đầu bỏ Chúa, và sau đó là nộp Chúa.

+ Trong lịch sử Giáo hội, các nhà truyền giáo nhiệt thành nhất, các vị thầy lỗi lạc nhất (các giáo phụ, các thánh tiến sĩ) thường là những môn sinh chăm chỉ nhất, là những môn đệ gần gũi nhất của Chúa. Các vị thánh đều là những thầy dạy rất rõ ràng, rất chắc chắn cho nhiều thế hệ, vì các ngài là những học trò chăm chỉ nhất, xuất sắc nhất của Chúa. Theo quan điểm đức tin và cái nhìn của Kinh Thánh, "đời sống chiêm niệm" thực sự là một tương quan "thầy trò" đẹp đẽ nhất, thắm thiết nhất với Chúa.

+ Một điều hết sức cơ bản trong đời sống tu đức là: linh hồn nào cũng cần người "mục tử" hướng dẫn chăm sóc. Ngoại trừ Chúa Giêsu ra, người mục tử nào cũng vừa là mục tử, vừa là con chiên. Nếu ta không là con chiên, không được chăm sóc, thì ta sẽ không biết cách chăm sóc người khác.

2. Linh mục vừa là thầy, vừa là học trò

+ Có lẽ mỗi người trong chúng ta có chút ít kinh nghiệm về dạy học. Những người thầy dù đã khá quen thuộc, nhuần nhuyễn với việc dạy học, dù đã dạy nhiều lần cùng một môn học, vẫn không thể dạy tốt nếu hoàn toàn không có chuẩn bị.  Làm thầy chưa quen thì cần chuẩn bị nhiều hơn, làm thầy thật giỏi hay quen rồi thì cần chuẩn bị ít hơn. Chính vì thế mà khi dạy, bao giờ thầy cũng học được một điều gì đó.

+ Có những trường hợp rõ ràng: cách học hay nhất là dạy. Một người vừa hiếu học, vừa khiêm tốn, thì sẽ tiến rất nhanh và rất xa trong công việc của mình. Có những linh mục luôn thao thức trau dồi kiến thức thần học Kinh Thánh cho mình, đã mở những lớp thần học giáo dân, những lớp Kinh Thánh cho người lớn. Thế là cả thầy lẫn trò đều được nhờ: thầy trau dồi không ngừng nên lớp học hấp dẫn sinh động. Các "môn sinh" đã lớn tuổi, có nhiều kinh nghiệm, có kiến thức, có thể đặt những câu hỏi khiến thầy phải động não và phải nghiên cứu thêm.

+ Cũng có những trường hợp ngược lại: cách dạy tốt nhất là học. Kinh nghiệm cho thấy, dù dạy bất cứ môn gì, nếu không học thật kỷ càng, không biết thật rõ, thì người dạy sẽ không "vững chắc". Chính vì thế, muốn cho học trò và sinh viên giỏi, thầy phải học hỏi không ngừng. Càng học, càng đọc sách nhiều thì dạy càng hay, càng chắc chắn. Chỉ có thể là một thầy dạy vừa sâu vừa rộng khi không ngừng học hỏi suy tư.

+ Chúng ta không thể nào là những thầy dạy đức tin, thầy dạy sống đạo tốt được nếu chúng ta không trau dồi bằng đọc sách, học hỏi và suy tư. Đó là ý nghĩa của việc "thường huấn" mà Giáo hội hôm nay không ngừng nhắc nhở chúng ta. Linh mục là người mục tử, và công việc chính yếu của linh mục là công việc mục vụ. Khoa mục vụ là một nghệ thuật trên hết mọi nghệ thuật (Ars artium - thánh Grêgôriô cả). Một linh mục thành công là một nghệ sĩ tài ba.

3. Các lãnh vực cần học hỏi (thường huấn)

+ Linh mục là "thầy cả", là một "trưởng lão", nên phải là một người trưởng thành về mọi mặt. Nhưng đó chỉ là nguyên tắc, là lý tưởng mà mỗi người trong chúng ta chưa đạt được. Vả lại, sự trưởng thành của một con người là một trạng thái động, một tiến trình, chứ không là một trạng thái tĩnh, một điểm dừng. Chính vì thế, con người vẫn có thể mỗi ngày trưởng thành hơn, nhất là trong đời sống đức tin, đức cậy và đức ái.

+ Người kitô hữu không ngừng được Thiên Chúa giáo dục, dạy dỗ thì mới xứng đáng trở nên con cái của Thiên Chúa. Linh mục không là một ngoại lệ, mà còn cần được giáo dục nhiều hơn nữa. Các lãnh vực chính trong công việc đào tạo linh mục vẫn phải được tiếp tục trong đời sống của mỗi người chúng ta.

- Lãnh vực nhân bản: Một phần lớn những thất bại trong công việc mục vụ của  linh mục là vì những lý do con người (nguồn gốc nhân bản): tính tình, tâm lý, cách xử thế. Theo tông huấn "Pastores dabo vobis", linh mục phải là người có khả năng mở ra những tương quan với người khác. Nếu không có khả năng tạo ra những tương quan tốt với người khác, linh mục không thể nào giúp đỡ, phục vụ người khác được (thầy dạy). Linh mục còn có nhiệm vụ "nối kết", tạo các nhịp cầu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau. Một phần khá lớn trong công việc của linh mục là điều chỉnh các tương quan của giáo dân với nhau, để họ có được sự bình an và có khả năng bước theo Đức Kitô.

Linh mục hãy không ngừng học cách sống (savoir-vivre), và đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã trọn vẹn. Linh mục học sống từ kinh nghiệm. Có những bài học kinh nghiệm rất đắt giá. Linh mục có thể học với giám mục, với anh em linh mục khác,  với giáo dân, và có khi phải học với cả người ngoại đạo. Hãy cố gắng thực hiện lời khuyên của thánh Phaolô: "Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý" (Pl 4,8).

- Lãnh vực trí thức: Một linh mục không trau dồi, không học hỏi thêm, sẽ chóng tụt hậu, và sẽ không đáp ứng được nhu cầu mục vụ. Việc đọc sách thần học và Kinh Thánh là điều không thể thiếu, để linh mục có thể hoàn thành sứ mạng "rao giảng Lời Chúa", giúp giáo dân đưa Lời Chúa vào cuộc sống. Linh mục phải không ngừng cập nhật hoá mới có thể giải đáp những vấn đề của thời đại, cho mình và cho giáo dân, đặc biệt là những vấn đề luân lý... Linh mục không trau dồi về phương diện trí thức sẽ không có chất liệu để nuôi dưỡng giáo dân, và hệ quả là đàn chiên ốm đói, suy dinh dưỡng.

- Lãnh vực thiêng liêng: Con người linh mục phải được canh tân đổi mới không ngừng. Chúa Thánh Thần mà linh mục nhận lãnh khi chịu chức thánh sẽ không ngừng hoạt động hiến thánh con người linh mục, để linh mục trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, người mục tử nhân lành. Tương quan mật thiết với Đức Kitô là điều mà linh mục phải tự do đảm nhận và sống. Linh mục phải tự nguyện "sống trong Chúa Thánh Thần", dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, để có được một sự gắn kết vừa hữu thể, vừa tâm linh, vừa bí tích, vừa đạo đức với Chúa và Giáo hội (lien ontologique et psychologique, sacramentel et moral).

- Lãnh vực mục vụ: "Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa" (1Pr 4,10).

"Linh hồn" của công việc mục vụ là "đức ái mục tử". Chính đức ái mục tử làm cho công việc mục vụ sinh nhiều hoa trái của Thánh Thần. Tâm hồn linh mục phải không ngừng rộng mở với ân sủng, để "đức ái mục tử" của chính Chúa Giêsu tràn sang cho linh mục, nhờ Chúa Thánh Thần mà linh mục đã nhận lãnh trong bí tích Truyền Chức.

Chính đức ái mục tử thúc đẩy linh mục không ngừng tìm hiểu các con chiên, tìm hiểu hoàn cảnh sống của họ; phân định những lời mời gọi của Chúa Thánh Thần trong các hoàn cảnh lịch sử; tìm ra những phương pháp thích hợp nhất, những cách thức hữu ích nhất để thi hành sứ vụ. Đức ái mục tử linh hoạt và nâng đỡ các nỗ lực của linh mục, để cho công việc mục vụ trở nên "phù hợp, khả tín và hữu hiệu hơn".

4. Linh mục học với ai?

+ Trước hết là học với Chúa:

Người linh mục sẽ không bao giờ thực hiện được cách tốt đẹp các chức năng của mình nếu dừng lại, chấm dứt việc học hỏi với Chúa. Chính Chúa là Thầy dạy sự khôn ngoan, Thầy dạy con đường nên thánh. Chúa dạy cho chúng ta biết Chúa, biết chính mình và biết người khác.

Chúa luôn ban ánh sáng cho tâm trí chúng ta. Chúng ta có thể có được những "trực giác thiêng liêng" rất sâu xa và rất đúng nhờ học với Chúa.

Chúng ta học trực tiếp với Chúa bằng sự cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa. Chúng ta có thể học những bài học hết sức hữu ích và đầy tràn sự sống với Chúa trong thinh lặng.

+ Học với giám mục và anh em linh mục:

Vì cương vị linh mục là thầy dạy, nên ít có ai dám làm thầy dạy của linh mục. Đó là một thiệt thòi lớn cho linh mục! Chỉ có giám mục nào can đảm mới dám "nhắc nhở" linh mục. Trong ba chức năng của giám mục, tiên tri, tư tế và mục tử, chức năng nào cũng quan trọng. Giáo huấn là nghĩa vụ của giám mục, giám mục phải thi hành không những đối với Dân Chúa, mà đối với cả linh mục nữa.

Người linh mục nào khiêm nhường lắng nghe giám mục thì sẽ được "bình an" và làm việc hiệu quả (những hoa trái của Chúa Thánh Thần).

Các linh mục cũng nên lắng nghe nhau, học hỏi với nhau. Đừng ai tự hào vì hơn người khác. Linh mục nào hay hỏi ý kiến anh em thì bao giờ cũng là linh mục tốt, và công việc mục vụ sẽ sinh động, phong phú đa dạng. Hãy học những kinh nghiệm mục vụ với nhau, trao đổi kiến thức thần học, Kinh Thánh với nhau. Linh mục nào làm việc một mình, không hợp tác với ai sẽ phải kéo dài cuộc đời linh mục trong cô đơn, buồn tẻ, và có khi thất vọng nữa.

+ Học với giáo dân và người ngoại đạo:

Linh mục cũng cần tham khảo giáo dân trong nhiều lãnh vực, nhất là những lãnh vực mà họ hiểu biết nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn. Người giáo dân có tiếng nói của họ. Linh mục cần phải lắng nghe, ít nhất là để biết nguyện vọng của họ.

Linh mục cũng có thể học với những người khác tôn giáo, những người không có đạo, đặc biệt là những nét nhân bản tích cực nơi họ.

+ Học với cuộc đời:

Một bài học cũng đáng giá cho linh mục, đó là bài học với cuộc đời. Những thành công hay thất bại, những đau khổ và thất vọng đều có thể dạy cho linh mục những bài học để đời. Trong cuộc đời linh mục, thế nào cũng có một số "vụ việc" dạy cho những bài học không thể quên. Những bài học ấy có thể đem ra ứng dụng nhiều lần mà vẫn không hết tác dụng.

Một linh mục thường xuyên "phản tỉnh", biết nhìn lại, nghĩ lại, xét lại, sẽ là một linh mục học được nhiều bài học nhất với cuộc đời. Theo K. Rahner, "Kinh nghiệm bao giờ cũng là kinh nghiệm của chủ thể".

Việc đọc báo chí và xem tin tức truyền hình cũng có thể rất hữu ích cho công việc mục vụ của linh mục.

+ Gm. Phaolô Bùi Văn Đọc

TRANG TU SĨ

LỜI NGÀI CÒN ĐÓ

Tôi đến giúp họ đạo mới khi lớp giáo lý đã bắt đầu gần một tháng. Lần đầu gặp, đối diện với những gương mặt dễ thương của đám trẻ miền quê này, tôi có thiện cảm ngay lập tức. .

Một tuần trôi qua kể từ ngày tôi đảm nhận lớp Giáo lý.  Thật vui là các em rất siêng đi học Giáo lý, nhưng có một điều khiến tôi không hài lòng là các em không bao giờ chú ý nhớ đến câu Lời Chúa rất ngắn trên mỗi bài học. Mỗi ngày một tiếng đồng hồ, trước khi cắt nghĩa những câu hỏi - thưa trong bài tôi thường bắt các em đọc chung câu Lời Chúa, và đọc riêng từng người một.  Nhưng hình như các em có vẻ không tha thiết gì đến việc phải học nhớ và hiểu ý nghĩa của câu Lời Chúa, mà còn cảm thấy phiền phức, và vô tình tôi đã nghe được các em nói với nhau:

-   Bạn học thuộc Lời Chúa chưa?

-   Tui không nhớ nổi.  Dì Sáu khó ghê.  Lúc trước dì Hai đâu có bắt mình phải học thuộc.

-   Ừ, tui cũng quên mất tiêu. Học mấy câu đó khó nhớ quá ah!.

Một mình ngồi trong Nhà thờ trước Thánh Thể Chúa, nhìn lại chính mình tôi thấy các em nói không sai, tôi đã quá nghiêm khắc khi bắt các em phải nhớ từng từ của Lời Chúa, mà chưa giúp các em đón nhận Lời Chúa cách tích cực. Tôi tự trách mình đã không làm tốt bổn phận được trao, nhưng thật cám ơn Chúa đã cho tôi kịp nhận ra điều này để biết mình thật yếu đuối nếu không có ơn Chúa giúp, và để tìm ra phương pháp tốt hơn giúp các em hiểu rõ tầm quan trọng của việc học Lời Chúa.

Rồi, giờ lên lớp lại đến. Không trả bài như mọi khi, tôi bảo các em cùng nhau mở sách ra và đọc chung câu Lời Chúa trong bài Bí Tích Hòa Giải: "Bấy giờ, người con nói rằng: thưa Cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến Cha, con chẳng đáng được gọi là con Cha nữa...". Đưa mắt nhìn các em, tôi hỏi:

-   Chúng con có biết câu Lời Chúa này trong dụ ngôn nào không?

Có những cái đầu hơi cúi thấp như né tránh, và cũng có những cặp mắt tròn xoe nhìn tôi chờ đợi...., tất cả trong im lặng.  Không thất vọng, tôi bắt đầu kể cho các em lý do vì sao Chúa Giêsu dùng dụ ngôn "Người Cha Nhân Hậu" trong hoàn cảnh này.  Vừa từơng thuật vừa cắt nghĩa và cảm nghiệm lại lần nữa tình yêu Chúa qua dụ ngôn ấy.  Tôi nhấn mạnh đến tình thương và sự tha thứ của người cha đối với đưa con hoang đàng trong dụ ngôn và tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta là những người tội lỗi.  Đang huyên thuyên với câu truyện Kinh thánh "hấp dẫn", tôi bắt gặp những khuôn mặt cũng đang say sưa lắng nghe với những cái nhăn mặt nhíu mày ở những đoạn "gây cấn".  Kết thúc phần diễn giải câu truyện dụ ngôn, tôi dừng lại đưa mắt rảo quanh khắp lớp rồi mĩm cười đặt những câu hỏi có liên quan đến câu truyện dụ ngôn vừa kể.  Thật ngạc nhiên, những cánh tay giơ lên của gần như hết lớp, các em hồ hởi và tranh nhau trả lời câu hỏi tôi đưa ra rất chính xác.  Không khí lớp học trở nên sôi động hơn cả sự mong đợi của tôi.  Tâm hồn trong sáng đơn sơ của các em đã mở ra để đón nhận Lời Chúa như mảnh đất tốt đợi chờ hạt giống gieo vào để sinh hoa trái ngọt. 

Các em giờ đây đã trở nên ngoan hơn trước rất nhiều.  Thay vì chỉ biết chơi giỡn trước giờ học, các em đã dành ít phút vào nhà thờ viếng Chúa, siêng đi lễ và nghiêm trang lắng nghe các bài đọc trong thánh lễ và những lời dạy của Cha trong bài giảng...

Ôi kỳ diệu thay việc tay Chúa làm nên! Và rồi tôi hiểu được thế nào là  hạnh phúc của đời hiến dâng, hạnh phúc vì được làm dụng cụ trong tay Chúa, vinh dự cho tôi được rao giảng về Người.  Lời Người còn đó như vẫn còn đang vang vọng "Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt...". Mong sao các bạn trẻ bắt nhịp được cảm xúc này và mau mắn quảng đại đáp trả lời mời gọi ấy, hầu Lời Chúa được rao truyền khắp nơi.

Mtg Cái Nhum

LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC LỜI CHÚA

"Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước,
Là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 118, 115)

Con người ngày nay hình như không còn biết sợ tội, không còn biết phân biệt đâu là thiện, đâu là ác, không còn biết thế nào là lỗi nặng, lỗi nhẹ... Nói chung là mất ý thức về tội. Có những trọng tội như phá thai, làm cho chết êm dịu - là 1 hình thức giết người, thế nhưng, người ta vẫn coi như là 1 việc làm bình thường.

Phải chăng, vì đời sống đức tin của họ đã phai mờ? Tinh thần đạo đức đã mất đi?

Để khơi dậy niềm tin và lòng đạo đức, điều quan trọng và thiết thực là tái đưa ánh sáng Tin Mừng đến cho mọi người. Mà cụ thể nhất là việc áp dụng học hỏi Lời Chúa cách sâu rộng và phổ biến cho từng người, từng thành phần giáo dân nơi các các họ đạo chứ không chỉ dành ưu tiên cho giáo sĩ hay tu sĩ mà thôi.

Vừa ra khỏi lớp Giáo lý, bé Bin bay một mạch về nhà. Cất cặp sách, thay quần áo xong là trên tay đã thấy 1 con diều rực rỡ màu sắc, chuẩn bị tung cánh lên bầu trời xanh. Miệng thì ê a bài hát mà em vừa được tập lúc chiều nầy: «Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con...».

Anh Tư Tèo, cha của Bin đang lè nhè bên chai rượu, thoáng thấy thằng bé đi ngang qua liền gọi:

-   Bin, mầy qua nhà ông ba Thiện nói với ổng là: sáng, tối đừng có om sòm, kinh kệ... Tao mệt cái lổ tai với nhà ổng quá đi. Để tao coi phim, tao ngủ chứ. Mẹ nó, đọc gì mà ngày nào cũng đọc, đọc hoài mà Chúa, Mẹ có cho được gì đâu? Còn mầy nữa, đi học giáo lý có ích gì không? Ở nhà cho tao sai vặt, đi mua rượu cho tao, bắt ốc cho tao nhậu phải tốt hơn không?

Bé Bin đứng lại, do dự nhưng nói:

-   Sao Ba nói vậy Ba? Con đi học giáo lý, Cha Sở dạy mà Dì Năm cũng dạy: người có đạo phải đọc kinh hôm, kinh mai, phải đi xem lễ, phải nghe Lời Chúa. Dì Năm nói: còn là thiếu nhi thì phải học giáo lý để mai mốt lớn lên biết giữ đạo, biết sống tốt đó Ba.

-   Dẹp mầy. Con nít mà bày đặt dạy tao hả? Đi qua nhà ông Ba Thiện nói vậy cho tao.

-   Ba kỳ quá hà! Ba không đi lễ, không chịu đọc kinh thì thôi, người ta đọc kinh bên nhà người ta mà Ba cũng chưởi nữa!

-   Mẹ mầy, mầy hôm nay ngon há, dám nói tay đôi với tao há! Tao đập chết mẹ mầy bây giờ! ...

-   Anh Tư cứ ngày ngày say xỉn, không buồn đến nhà thờ. Ở nhà thì chưởi vợ mắng con. Chịu hết nổi, 2 mẹ con về tá túc bên nhà ngoại.

Rồi một ngày, căn bệnh xơ gan của anh bộc phát, anh một mình vật lộn với cơn đau. Ông Ba Thiện, người hàng xóm cũng là ông biện trong họ đạo, ngày ngày lui tới thăm nom anh, còn thuyết phục mẹ con bé Bin trở về chăm sóc anh Tư. Cha Sở cũng đến thăm, động viên, giúp đỡ cách nầy, cách khác.

Lúc nầy, anh không còn uống rượu nữa, cũng không còn đánh vợ chưởi con. Anh cùng gia đình đọc kinh sớm tối. Những ngày không lên cơn đau, anh đến nhà thờ xem lễ, đọc kinh, tham gia mọi sinh hoạt của họ đạo. Trong 1 lần chia sẻ Lời Chúa, anh nói: Chính nhờ Lời Chúa, nhờ gương sáng của những người sống Lời Chúa đã biến đổi anh, đã đưa anh trở về với Chúa. Và cũng chính nhờ Lời Chúa mà anh biết cầu nguyện, có đủ sức mạnh để biết hy sinh, chấp nhận cơn bệnh.

Như vậy, việc học hỏi để hiểu biết Lời Chúa, giúp người kitô hữu sống đời sống đức tin vững vàng hơn. Đồng thời, cũng chính Lời Chúa mà con người được biến đổi. Từ người tội lỗi, bê tha trở nên đạo đức, người khô khan nguội lạnh biết khám phá và đáp trả lại tình yêu vô biên mà Thiên Chúa đã dành cho mình. Và hơn hết, chính nhờ học hỏi Lời Chúa mà con người nhận ra được ý Chúa và làm theo điều Chúa dạy.

MTG Cái Mơn

TRANG SỐNG ƠN GỌI

ƠN GỌI TU TRÌ

Chúng ta có thể khẳng định một điều cho dù là ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì tất cả đều xuất phát do ơn ban của Thiên Chúa và chính Ngài là người kêu gọi trước "Không phải chúng con chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn chúng con" (Ga 15, 16). Nhưng làm thế nào để biết mình có ơn gọi tu trì hay ơn gọi gia đình để mà đáp trả ? Đây cũng là thắc mắc mà nhiều người trẻ vẫn thường hay đặt câu hỏi. Tại sao có người dâng mình cho Chúa trong đời tu rồi một thời gian lại "chuyển hướng", hoặc tại sao có những người mà người đời cho là "đi tu không được" thì lại đi "đến nơi đến chốn" ? Vậy làm thế nào để tôi biết mình có ơn gọi tu trì chắc chắn mà dâng mình cho Chúa ?

Để biết chính xác mình có ơn gọi tu trì hay không là một điều khó khăn; Có người được Chúa đánh động và gọi qua những biến cố hay những dấu lạ như Chúa gọi Môisen trong đám lửa bốc cháy (Xh 3, 5), Samuel nghe tiếng Chúa gọi ban đêm (Sm 3,1-10), Ambrôsiô được gọi qua lời của một trẻ nhỏ... Đây là những trường hợp hiếm hoạ. Còn thường thường chúng ta vẫn có thể sử dụng lý trí của mình để nhận thức về ơn gọi của chúng ta.

Như trong lịch sử Giáo hội, nhiều nhà thần học cũng như nhiều tác giả viết về đời sống thiêng liêng, đã nhận định rằng Thiên Chúa sử dụng những dấu hiệu tự nhiên để hướng chúng ta hoặc để thu hút chúng ta đến một ơn gọi nào đó. Chúng ta sẽ không bao giờ biết một cách chắc chắn. Nhưng qua ba dấu hiệu sau có thể giúp chúng ta nhận biết về ơn gọi của mình. Đó là: ao ước sống đời sống đó, động cơ đúng đắn cho đời sống đó và sự thích hợp cho đời sống đó.

a. Trước tiên, để tìm hiểu xem bạn có ao ước sống ơn gọi đó không, chúng ta cần tự hỏi xem mình có ý thích, có hướng chiều vể ơn gọi đó không? Tôi có cảm thấy say mê, thỏa mãn, vui mừng hay có những tình cảm tích cực tương tự như thế khi nghĩ về ơn gọi đó không? Do đó, chúng ta cần nghiêm túc xét mình như thế, bởi vì Chúa không muốn thu hút chúng ta về một ơn gọi mà nó lại đi ngược với ý muốn của chúng ta. Nhiều người nghĩ rằng họ muốn đi tu, bởi vì Thiên Chúa muốn như vậy. Nếu họ không làm theo ý Chúa, họ sẽ bị phạt hoặc sẽ gặp bất hạnh. Thiên Chúa không hành động theo cách đó. Ngài lôi kéo chúng ta theo chiều hướng tự nhiên của chúng ta. Nếu chúng ta có chiều hướng về một ơn gọi nào đó, đó là một dấu hiệu tốt. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta và Ngài muốn lôi cuốn chúng ta.

b. Ao ước không thôi chưa đủ, bạn cần có thêm những dấu hiệu khác nữa. Dấu hiệu thứ hai là muốn sống đời sống đó vì những lý do chính đáng. Đây là vấn đề "động cơ thúc đẩy." Động cơ nào nằm sau sự thích thú và quan tâm của tôi? Có những lý do tinh thần tích cực như: muốn phục vụ Chúa cách trực tiếp, muốn biết và yêu Chúa nhiều hơn, muốn mở rộng nước Chúa, muốn hoàn toàn sống cho Chúa và tha nhân,... Đây thực sự là những động cơ tốt đẹp. Chúng dựa trên đức tin, động lực tinh thần, chứ không phải là những ao ước tự nhiên. Có những lý do vụ lợi hoặc ích kỷ như: được người ta kính trọng, có nhiều cơ hội để thăng tiến, cuộc sống được bảo đảm,... Không ai có thể nói là mình có động cơ trong sáng trong tất cả những công việc mình làm. Thường có sự pha trộn giữa những động cơ tốt và những động cơ không tốt trong cuộc sống chúng ta. Thật không luôn luôn dễ dàng để nhận thức về những động cơ của chúng ta. Bởi đó, chúng ta cần cầu nguyện để biết được thánh ý Chúa và cần có những vị linh hướng để giúp chúng ta nhận định rõ hơn.

c. Dấu hiệu thứ ba là sự thích hợp. Đó là khả năng để sống đời tu, sống một cách thoải mái, vui vẻ, rộng lượng, và cảm thấy đời tu thích hợp với mình. Đây là những đức tính tự nhiên và siêu nhiên giúp ta tìm thấy niềm vui và hạnh phúc trong đời dâng hiến. Đi tu là tu cả con người. Ơn thánh không cản trở hay thay thế bản chất tự nhiên của ta, nhưng chỉ thăng hoa và thánh hóa nó. Bản chất tự nhiên của ta không chết đi và với thời gian có thể bùng lên. Bởi đó, việc nhận định ơn gọi cần căn cứ vào những khả năng đạo đức, tâm lý và thể lý. Giáo luật điều 642 nhấn mạnh đến yếu tố sức khoẻ, tính tình thích đáng và có đủ các đức tính của sự trưởng thành. Nhiều người thích đời tu nhưng lại không thể sống thích hợp với nó được. Cũng vậy có nhiều người thích hợp với đời sống tu trì, nhưng họ lại không muốn bước vào con đường đó. Họ không bị nó thu hút. Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người và tôn trọng cái cách mà họ thể hiện.

Ngoài ra, chúng ta còn cần dựa trên nhưng yếu tố khác như :

-   Một niềm tin tưởng mạnh mẽ vào Giáo hội và giáo huấn của Giáo hội.

-   Yêu thích đời sống cầu nguyện.

-   Sẵn sàng từ bỏ và hy sinh theo bước Chúa Kitô.

-   Sống vị tha và có khả năng hiến thân phục vụ tha nhân, nhạy cảm trước những nhu cầu của thời đại.

-   Có ý chí vươn lên, khắc phục mọi khó khăn hiện tại trước những đòi hỏi của Tin mừng.

-   Có tinh thần đối thoại, cởi mở và biết lắng nghe tha nhân.

Tóm lại, để xác định ơn gọi tu trì, bạn phải tìm hiểu và suy xét kỹ, vì nhiều khi "thấy vậy mà không phải vậy." Chẳng hạn, việc thích cầu nguyện cũng có thể là dấu hiệu của ơn gọi, nhưng phải tìm hiểu xem nguyên nhân nào thúc đẩy ta đến việc cầu nguyện. Có phải vì ta sống cô đơn, không bạn bè, không có người tâm sự, không biết chia sẻ cùng ai nên ta cầu nguyện để tìm nguồn an ủi? Đời tu là tận hiến cho Thiên Chúa, sống thân tình với Ngài, chứ không phải là nơi tìm an ủi cho bản thân. Có những người nhút nhát, sợ trách nhiệm, sống dựa vào người khác, nên muốn tìm đến đời sống tu như một nơi nương tựa, bảo đảm cho cuộc sống. Đó không phải là dấu hiệu của một ơn gọi.

Ơn gọi là một ân huệ đặc biệt Thiên Chúa ban cho một số người nào đó. Chúa có nhiều cách để gọi chúng ta mà chúng ta không thể ngờ tới được. Điều quan trọng là chúng ta cần phải ý thức và sống theo ý Chúa. Ơn gọi tu trì là một ân huệ, nên chúng ta cần tìm hiểu, khám phá ra và nuôi dưỡng ơn gọi đó.

TRANG THIẾU NHI

BÀI 8. DẠY CON TÂM SỰ VỚI CHÚA VỀ NHỮNG CHUYỆN QUAN TRỌNG

"Này chính ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của mọi phàm nhân. Đối với Ta hỏi có điều gì là không thể làm được?" (Gr 32, 27)

Tuổi đời không quyết định khả năng tâm linh hay .sức mạnh niềm tin.. Người trưởng thành vẫn có thể yếu tin. Cha mẹ dạy con nuôi lớn Đức tin bằng lời cầu nguyện và tín thác nơi bàn tay ân cần, đầy quyền năng của Chúa. 

Hùng đã nghiệm biết sức mạnh của lời cầu nguyện lúc em ở tuổi vị thành niên. Khi chơi bóng, em té gẫy tay. Bác sĩ cho biết em phải bó bột và ngưng chơi bóng ít nhất 6 tuần. Khó cho em, một trận bóng quan trọng sẽ diễn ra trong 2 tuần nữa. Sau khi rời văn phòng bác sĩ, hai mẹ con đến cầu nguyện chung với một nhóm bạn. Em tin Chúa biết em muốn tham gia đến mức nào và em xin Chúa chữa lành tay cho em. 

Cha mẹ cần hiểu rõ, khi lời cầu nguyện của các em không được Chúa nghe theo, cần nhắc cho con cầu nguyện là bổn phận của con với Chúa. Khi con tin Ngài, con thiết tha xin điều con mong ước, nhưng đáp lời con cách nào, là tùy Chúa khôn ngoan định liệu. 

Chúng ta không biết Chúa muốn dẫn chúng ta đi con đường nào, nhưng mọi con đường đi theo Chúa đều tốt đẹp. Cha mẹ giúp con cầu nguyện để biết vâng lời Chúa. 

Thành Tín, dunglac.org

TRANG GIỚI TRẺ

BÀI GIÁO LÝ THỨ TƯ
CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI  VỀ CẦU NGUYỆN

Ông Giacob vật lộn với Thiên Chúa

Dưới đây là bản dịch bài giáo lý thứ tư về Cầu Nguyện của ĐTC Bênêdictô XVI ban hành ngày trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 25 tháng 5 năm 2011. ĐTC tiếp tục loạt bài giáo lý về Cầu Nguyện, lần này ngài suy niệm về cầu nguyện trong đời sống của Tổ Phụ Giacob.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay tôi muốn cùng anh chị em suy niệm về một đoạn trích từ sách Sáng Thế Ký kể lại một cảnh khá đặc biệt trong lịch sử của Tổ Phụ Giacob. Nó không phải là một đoạn văn dễ giải thích, nhưng là một đoạn quan trọng cho cuộc sống đức tin và cầu nguyện của chúng ta; đoạn văn này kể lại chuyện ông Giacob vật lộn với Thiên Chúa ở sông Giabbok, mà chúng ta vừa nghe.

Như anh chị em nhớ lại, ông Giacob đã chiếm đoạt quyền thừa kế của người anh song sinh với mình là Êsau bằng cách đổi một chén cháo và sau đó qua sự lừa dối, đã ăn cắp phúc lành của ông Isaac, cha mình, khi ông đã già, bằng cách lạm dụng sự mù lòa của cha. Để thoát khỏi cơn giận dữ của Êsau, ông đã trốn sang nhà người bà con, là ông Laban. Ở đó ông đã lập gia đình và trở nên giàu có, và giờ đây ông trở về sinh quán của mình, sẵn sàng gặp mặt người anh sau khi đã bố trí cẩn thận. Nhưng khi ông đã sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ này - sau khi đã cho những người đã ở với ông qua bên kia dòng sông đánh dấu lãnh thổ của Êsau - - Bấy giờ ông Giacob ở lại một mình, là bất ngờ bị một nhân vật ông không quen biết tấn công và người ấy vật lộn với ông suốt đêm. Đó là cuộc cận chiến đấu mà chúng tìm thấy trong Chương 32 của sách Sáng Thế Ký, và trở thành một kinh nghiệm duy nhất cho ông về Thiên Chúa.

Đêm là lúc thuận lợi để hoạt động bí mật, vì thế cũng là thời điểm tốt nhất để ông Giacob vào lãnh thổ của anh mình mà không bị bại lộ, và có lẽ với những ảo mộng là làm cho Êsau ngạc nhiên.  Nhưng thay vào đó, chính ông là người bị ngạc nhiên vì một cuộc tấn công bất ngờ mà ông đã không chuẩn bị. Ông đã sử dụng sự khôn khéo của mình để cố gắng tự cứu mình khỏi tình cảnh nguy hiểm, ông nghĩ rằng ông đã thành công trong việc kiểm soát mọi sự, và thay vào đó giờ đây ông thấy mình phải đương đầu với một cuộc chiến bí ẩn xảy ra cho ông trong lúc cô đơn mà không cho ông khả năng bố phòng một cuộc tự vệ đầy đủ. Không phòng thủ - trong đêm tối - Tổ Phụ Giacob đánh nhau với một người nào đó.  Bản văn không xác định danh tính của kẻ tấn công; nó dùng một thuật ngữ chung của tiếng Do Thái ám chỉ "một người đàn ông", "một người", "một người nào đó", do đó nó có một định nghĩa mơ hồ không xác định, cố ý giữ kẻ tấn công trong vòng bí mật. Khi ấy trời tối. Ông Giacob đã không thành công trong việc nhận diện đối thủ của mình một cách rõ ràng, và đối vời độc giả cũng vẫn chưa biết người ấy là ai. Một người nào đó đã tự mình chống lại vị Tổ Phụ; đây là sự kiện chắc chắn duy nhất được người kể chuyện cung cấp. Chỉ có ở đoạn cuối, khi trận chiến kết thúc và "người nào đó" đã biến mất, và chỉ sau đó ông Giacob mới đặt tên cho người ấy và có thể nói rằng mình đã vật lộn với Thiên Chúa.

Cho nên cảnh này diễn ra trong tối tăm và rất khó để nhận ra không những chỉ danh tánh của người tấn công ông Giacob, mà cả tiến trình của cuộc vật lộn. Khi đọc đoạn văn, rất khó mà để định được ai là người thắng thế. Động từ được dùng thường thiếu một chủ từ rõ ràng, và các hành động tiến triển một cách gần như trái ngược, để khi có ai nghĩ rằng một trong hai người đã thắng thế, thì hành động tiếp theo ngay sau đó mâu thuẫn với nó và trình bày người kia như kẻ chiến thắng.  Thực ra, ngay từ đầu, ông Giacob có vẻ là mạnh thế hơn, và đối thủ - bản văn nói là - "không thắng được ông" (câu 26 [25]), nhưng người ấy đánh vào ống quyển của ông, và làm cho ông bị trật xương. Vậy người đọc phải nghĩ rằng ông Giacob đã đầu hàng, nhưng thay vào đó người kia yêu cầu ông để mình đi, và Tổ Phụ đã từ chối bằng cách đưa ra một điều kiện: "Tôi sẽ không để ông đi, trừ khi ông chúc lành cho tôi" (câu 27). Ông là người nhờ lừa đảo đã tước đoạt được phúc lành đầu lòng của anh mình, giờ đây xin phúc lành ấy từ một người xa lạ, mà trong người ấy có lẽ ông bắt đầu nhìn thấy những đặc tính của Thiên Chúa, nhưng vẫn không có thể thực sự nhận ra Ngài.

Đối thủ, có vẻ đang bị nắm chặt và do đó bị ông Giacob đánh bại, thay vì làm theo lời yêu cầu của ông, đã hỏi tên ông: "Tên ngươi là gì?" Và tổ phụ trả lời: "Giacob" (câu 28).  Ở đây cuộc vật lộn trải qua một phát triển quan trọng.  Thực ra, để biết tên ai, ám chỉ việc có quyền trên người ấy, vì tên gọi, trong tư tưởng Thánh Kinh, hàm chứa một thực thể sâu xa nhất của cá nhân đó; nó tiết lộ bí mật và số phận của người ấy. Cho nên, biết tên người nào là biết được sự thật về người ấy, và điều này cho phép một người có thể thống trị người kia.  Do đó khi theo yêu cầu của người lạ, ông Giacob tiết lộ tên thật của mình, ông đang trao phó mình cho đối thủ của ông; đó là một hình thức đầu hàng, là hoàn toàn trao mình cho người kia.

Nhưng trong hành vi đầu hàng, ông Giacob cũng tỏ ra như một người chiến thắng một cách nghịch lý, bởi vì ông nhận được một tên mới, cùng với việc đối thủ thừa nhận sự chiến thắng của ông, người ấy đã nói với ông: "Tên của ngươi không còn là Giacob nữa, nhưng là Israel, vì ngươi đã vật lộn với Thiên Chúa cùng với người ta, và ngươi đã thắng" (câu 29 [28]). "Giacob" là một tên nhắc lại thủa ban đầu gặp nhiều khó khăn của tổ phụ; thực ra, trong tiếng Do Thái, nó gợi lại từ "gót chân", và làm cho đôc giả nhớ lại lúc ông Giacob sinh ra, khi lọt ra từ lòng mẹ bàn tay của ông đã nắm lấy gót chân của người anh song sinh của mình (x. St 25:26), như thể tiền trưng cho việc tiếm quyền của anh trai trong đời trưởng thành của ông; nhưng tên Giacob cũng làm cho người ta nghĩ đến động từ "đánh lừa, để thay thế." Giờ đây, trong cuộc vật lộn, tổ phụ đã tiết lộ cho đối thủ của mình thực tại riêng của ông như là một kẻ lừa đảo, một người thay thế, qua một hành vi tín thác và đầu hàng; nhưng người kia, là Thiên Chúa, biến đổi thực thể tiêu cực này thành một điều tích cực: Giacob, kẻ lừa đảo trở thành Israel; ông được ban cho một tên mới ám chỉ một căn tính mới.  Nhưng cũng ở đây, tường thuật vẫn giữ ý nghĩa nhị nguyên của nó, vì ý nghĩa khả dĩ nhất của Israel là "Thiên Chúa quyền năng, Thiên Chúa chiến thắng."

Do đó ông Giacob đã chiếm ưu thế, ông đã chiến thắng - chính đối thủ đã khẳng định điều đó - nhưng căn tính mới của ông, mà ông nhận được từ cùng một đối thủ này, khẳng định và làm chứng cho chiến thắng của Thiên Chúa. Khi đến lượt ông Giacob hỏi tên người kia, người ấy đã từ chối không nói ra, nhưng tỏ mình ra bằng một cử chỉ rõ ràng qua việc chúc lành cho ông.  Đó là phúc lành mà tổ phụ đã xin ngay từ đầu của cuộc vật lộn mà giờ đây ông mới nhận được. Đó không phải là một phúc lành mà ông chiếm được nhờ lừa đảo, nhưng do Thiên Chúa tình nguyện ban cho ông, là điều mà ông Giacob có thể nhận được bởi vì giờ đây ông ở một mình, mà không có sự bảo vệ, không có xảo quyệt và lừa dối.  Ông tự nộp mình mà không có vũ trang, ông chấp nhận đầu hàng và thú nhận sự thật về chính mình. Và như vậy, sau cùng, cuối cuộc chiến đấu, sau khi đã nhận được phúc lành, tổ phụ có thể nhận ra người kia là Thiên Chúa của phúc lành này: "Tôi đã thấy Thiên Chúa mặt đối mặt, mà tôi đã được tha mạng" (câu 31 [30]), và giờ đây ông có thể qua sông, mang một tên mới, nhưng "là người bị chinh phục" bởi Thiên Chúa và được đánh dấu vĩnh viễn, bị khập khiễng vì vết thương ông đã nhận được.

Những giải thích mà các nhà chú giải Thánh Kinh có thể cung cấp về đoạn văn này thì rất nhiều; đặc biệt là những người có học nhận ra trong nó những ý định và những thành phần văn học thuộc nhiều loại khác nhau, cũng như liên quan đến một số chuyện phổ thông.  Nhưng khi những yếu tố này được thu nhận bởi các thánh ký và bao gồm trong tường thuật của Thánh Kinh, chúng thay đổi ý nghĩa và bản văn tự mở ra cho những chiều kích rộng lớn hơn. Cảnh vật lộn tại Giabbok đã cung cấp cho các tín hữu như một bản văn có tính cách sư phạm trong đó dân Israel nói về nguồn gốc của mình và vạch ra những đặc điểm về một mối quan hệ đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người. Vì lý do này Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo cũng khẳng định: "truyền thống linh đạo của Hội Thánh đã giữ lại những biểu tượng của cầu nguyện như là một cuộc chiến đấu của đức tin và như chiến thắng của sự kiên trì" (số 2573).

Bản văn Thánh Kinh nói cho chúng ta về đêm dài của cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, về trận chiến đấu để biết tên Ngài và để nhìn thấy dung nhan Ngài; nó là đêm của cầu nguyện, với sự bền chí và kiên trì, việc cầu xin một phúc lành và một tên mới từ Thiên Chúa, một thực tế mới là kết quả của hoán cải và của ơn tha tội.

Bằng cách này, đêm của ông Giacob tại sông Giabbok trở thành một điểm tham chiếu cho các tín hữu để hiểu về mối liên hệ với Thiên Chúa, là điều tìm thấy cách diễn tả cuối cùng của nó trong cầu nguyện. Cầu nguyện đòi hỏi lòng tín thác, sự gần gũi, trong biểu tượng "tay trong tay" không phải với một Thiên Chúa là một đối thủ và kẻ thù, nhưng với một Thiên Chúa chúc lành là Đấng vẫn luôn bí nhiệm. Ngài có vẻ không thể đạt đến được. Vì lý do này mà thánh ký dùng các biểu tượng chiến đấu, tượng trưng cho sức mạnh của linh hồn, sự kiên trì, bền chí trong việc đạt được điều chúng ta mong ước. Và nếu đối tượng của ước muốn của một người là một mối liên hệ với Thiên Chúa, phúc lành và tình yêu của Ngài, thì cuộc chiến chỉ đạt đến cực điểm khi dâng mình cho Thiên Chúa, khi nhìn nhận sự yếu đuối của mình, chỉ chiến thắng chính khi chúng ta đi đến chỗ phó thác vào bàn tay nhân từ của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, cả cuộc đời của chúng ta cũng giống như đêm dài của cuộc chiến và cầu nguyện này, với mục đích được kết thúc trong ước mong và cầu xin phúc lành của Thiên Chúa, là điều không thể có được hoặc đạt được khi cậy vào sức mình, nhưng phải cậy vào Thiên Chúa với lòng khiêm tốn, như một món quà nhưng không, và chung cuộc làm cho chúng ta nhận ra dung nhan của Chúa. Khi điều này xảy ra, thì toàn thể thực tại của mình sẽ thay đổi; chúng ta sẽ nhận được một tên mới từ phúc lành của Thiên Chúa. Nhưng còn hơn nữa: ông Giacob, người đã nhận được một tên mới, trở thành Israel, cũng đặt một tên mới cho chỗ ông vật lộn với Thiên Chúa; ông đã cầu nguyện ở đó và đổi tên nó thành Peniel, nghĩa là "Dung Nhan của Thiên Chúa." Với tên này, ông đã nhận ra rằng chỗ ấy đầy sự hiện diện của Thiên Chúa; ông làm cho đất ấy thành nơi thánh bằng cách ghi khắc trên đó kỷ niệm của cuộc gặp gỡ huyền nhiệm với Thiên Chúa. Ông đã để cho mình được Thiên Chúa chúc phúc, phó thác cho Ngài, để cho ông được Ngài biến đổi, và đem lại hạnh phúc cho thế gian.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp vì đức tin (x. 1 Timothy 6:12,2 Tim 4:7) và xin Ngài ban phúc lành trong kinh nguyện của chúng ta, để Ngài có thể đổi mới trong chúng ta lòng mong ước được nhìn thấy Dung Nhan Ngài. Xin cám ơn anh chị em.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ, giaoly.org

TRANG GIA ĐÍNH

BÀI 4. GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI (tiếp theo)

4. Sự ưng thuận kết hôn

Hội Thánh coi việc hai người bày tỏ sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết "làm nên hôn nhân". Thiếu sự ưng thuận này thì hôn nhân không thành [GLHT 1626].

"Sự ưng thuận kết hôn là hành vi nhân linh - nghĩa là hành vi của con người có ý thức và tự do -, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau: "Anh nhận em làm vợ"; "Em nhận anh làm chồng". Sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người "trở nên một xương một thịt" (x. St 2,24; Mc 10,8; Ep 5,31) [GLHT 1627; x. GL 1057 §2]". Bởi vậy, "sự ưng thuận này phải là một hành vi ý chí của mỗi bên kết hôn, không bị cưỡng bức vì bạo lực hay quá sợ hãi do một nguyên cớ bên ngoài. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Nếu thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành [GLHT 1628]".

Thiếu sự tự do ưng thuận thực sự giữa hai bên, khi:

-   Không có đủ trí khôn [GL 1095].

-   Thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân [GL 1095 §2].

Vì bị tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân[GL 1095 § 3].

Vô tri: Không biết hôn nhân là gì[GL 1096].

-   Lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu [GL 1097, 1098].

-   Lường gạt [GL 1098]. Khi chủ ý lừa dối về sự có hay không một phẩm cách của mình, nhằm đạt được sự ưng thuận của bên kia. Phẩm cách này quan trọng đến nỗi sau này khi khám phá ra thì đời sống hôn nhân có thể bị tác hại trầm trọng.

Giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn [GL 1101].

Ưng thuận với điều kiện về tương lai. Đặt điều kiện về tương lai thì hôn nhân bất thành [GL 1102].

Ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi [GL 1103].

+ Bạo lực: nếu bị người khác dùng sức mạnh để cưỡng ép ưng thuận kết hôn thì sự ưng thuận đó vô hiệu.

+ Sợ hãi: sự sợ hãi có thể làm cho hôn nhân vô hiệu khi hội đủ 3 đặc tính sau:

  1. Sợ hãi có tính cách trầm trọng chứ không phải vu vơ.
  2. Sợ hãi do nguyên nhân ngoại tại, nghĩa là do một người khác gây ra chứ không phải do chính đương sự.
  3. Sự sợ hãi có tính cách tất định, nghĩa là không có cách nào khác để thoát khỏi sự đe dọa ngoại trừ ưng thuận kết hôn.

5. Thể thức hôn phối

Để Hôn nhân thành sự, đôi hôn phối cần phải cử hành theo thể thức của Hội Thánh: Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn có thẩm quyền: hoặc cha xứ, hoặc một linh mục, hay phó tế được một trong hai vị trên ủy quyền, cùng với hai người làm chứng [GL 1108].

Linh mục (hay phó tế) chứng giám nghi thức Hôn phối, nhân danh Hội Thánh nhận lời ưng thuận của đôi hôn phối và chúc lành cho họ. Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh và của những người làm chứng cho thấy rõ hôn nhân là một bậc sống trong Hội Thánh [GLHT 1630].

Ngoài ra, còn phải cử hành tại nhà thờ giáo xứ, nơi một trong hai người kết hôn có chỗ thường trú, hoặc tạm trú một tháng. Nếu muốn cử hành nơi khác, phải có phép của Đấng Bản quyền sở tại hoặc cha xứ. [GL 1115; 1118]

4 GHI NHỚ :

1. H. Để Bí tích Hôn phối thành sự phải có những điều kiện nào?

T. Phải có bốn điều kiện này:

-   Một là một nam một nữ đã rửa tội.

-   Hai là có tự do kết hôn, không bị ép buộc cũng không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh

-   Ba là phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn.

-   Bốn là cử hành theo thể thức của Hội Thánh.

2. H. Ngăn trở hôn phối là gì?

T. Ngăn trở hôn phối là những hoàn cảnh hoặc trường hợp làm cho cuộc phôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.

3. H. Có bao nhiêu ngăn trở hôn phối?

T. Có 12 ngăn trở sau đây:

-   Một là chưa đủ tuổi kết hôn

-   Hai là bất lực, không thể sinh hoạt vợ chồng.

-   Ba là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

-   Bốn là khác tôn giáo.

-   Năm là chức thánh.

-   Sáu là khấn dòng.

-   Bảy là bắt cóc.

-   Tám là tội mưu sát phối ngẫu.

-   Chín là có họ máu.

-   Mười là có họ kết bạn.

-   Mười một là công hạnh.

-   Mười hai là pháp tộc.

4. H. Khi mắc ngăn trở thì phải làm gì?

T. Phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, có những ngăn trở Hội Thánh cũng không thể miễn chuẩn được, đó là các trường hợp:

-   Một là bất lực,

-   Hai là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

-   Ba là có họ máu theo hàng dọc.

-   Bốn là có họ máu hai bậc theo hàng ngang.

5. H. Vì sao sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết làm nên hôn nhân?

T. Vì sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người "trở nên một xương một thịt". Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành.

6. H. Những trường hợp nào thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn?

T. Những trường hợp sau đây:

-   Một là không có đủ trí khôn.

-   Hai là thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

-   Ba là vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

-   Bốn là vô tri, không biết hôn nhân là gì.

-   Năm là lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

-   Sáu là lường gạt.

-   Bảy là giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

-   Tám là ưng thuận với điều kiện về tương lai.

-   Chín là ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Vì sao Hội Thánh lại có những điều luật về Hôn nhân? Đâu là mục đích của những điều luật đó?

2. Vì sao trong việc lập gia đình, Hội Thánh nhấn mạnh khía cạnh tự do ưng thuận?

3. Phải chăng Hội Thánh có thể miễn chuẩn mọi ngăn trở hôn phối? Tại sao?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa hằng yêu thương chúng con. Xưa kia Chúa đã ban lề luật cho dân Israel, để giúp họ sống trung thành với giao ước, xứng đáng là dân Chúa. Chúa đã mời gọi chúng con bước vào đời sống hôn nhân và gia đình, để làm chứng cho tình yêu của Chúa, và Chúa đã ban cho chúng con Hội Thánh, để hướng dẫn chúng con. Xin giúp chúng con biết nghe theo lời giáo huấn của Hội Thánh, để cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc như ý Chúa muốn. Amen.

Nihil Obstat : Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25.08.2004
Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh


Imprimatur : Mỹ Tho, ngày 03.09.2004
+ Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám Mục Mỹ Tho
   Chủ tịch Ủy Ban Giáo lý Đức tin

Nguồn:  UB Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN, giaoducconggiao.net

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

BÀI 9: MƯỜI HAI GIÁ TRỊ NHÂN BẢN THEO UNESCO

1. HÒA BÌNH

-         Hòa bình là không còn chiến tranh.

-         Thế giới hòa bình lớn mạnh thông qua phi bạo lực, sự chấp nhận, sự công bằng và giao tiếp.

-         Hòa bình bắt đầu từ mỗi người trong chúng ta.

-                   Nếu mỗi người có sự hòa bình, thì cả thế giới sẽ hòa bình.

-         Sự xác thực của hành động phụ thuộc vào sự xác thực của con người.

-                   Hòa bình là một trạng thái tinh thần bình an và thư giãn.

-         Hòa bình là sự yên lặng bên trong cùng với sức mạnh của chân lý.

-         Hòa bình bao gồm có các tư tưởng, tình cảm và ước muốn trong sáng.

-         Sự trong sáng không phải là vắng bóng hỗn loạn mà là bình an trong đó.

-         Để giữ được hòa bình đòi hỏi lòng trắc ẩn và sức mạnh.

-         Hòa bình là đặc trưng nổi bật của những gì mà chúng ta gọi là "một xã hội văn minh".

-         Hòa bình cần phải bắt đầu từ mỗi người trong số chúng ta. Thông qua sự suy gẫm lặng lẽ và nghiêm túc về ý nghĩa của nó, các cách thức mới và sáng tạo có thể được phát triển và nuôi dưỡng sự hiểu biết, tình bạn và hợp tác giữa tất cả mọi người.

Thảo luận:

1. Khi nào bạn cảm thấy bất an ? Khi bất an, các loại suy nghĩ và hoạt động nào giúp bạn cảm thấy bình yên hơn ?

2. Tại sao hòa bình lại bắt đầu ở mỗi chúng ta ?

2. TÔN TRỌNG

-         Bẩm sinh con người là quý giá.

-         Một phần của lòng tự trọng là biết về các phẩm chất của mình.

-         Tôn trọng bản thân là hạt giống để sự tự tin lớn lên.

-         Khi chúng ta tôn trọng bản thân, ta sẽ dễ dàng tôn trọng người khác.

-         Hiểu biết về giá trị tự nhiên của mình và tôn trọng giá trị của người khác là cách thức đích thực để có được sự tôn trọng.

-         Những ai biết tôn trọng sẽ được tôn trọng.

-         Khi có sức mạnh của sự khiêm tốn trong việc tôn trọng bản thân, sự thông thái sẽ phát triển, chúng - Mọi người trên thế giới kể cả bản thân tôi, đều có quyền sống được tôn trọng và có nhân phẩm.

Thảo luận :

1. Hãy tưởng tượng xem thế giới này sẽ như thế nào nếu tất cả mọi người đều tôn trọng lẫn nhau ?

2. Hãy viết ra những phẩm chất mà bạn khâm phục ở những bạn bè của mình.

  1. Những loại hành động nào giúp bạn giữ được sự tôn trọng.

3. TÌNH YÊU

-                   Trong một thế giới tốt hơn, quy luật tự nhiên là tình yêu; và trong một con người tốt hơn, bản chất tự nhiên là yêu thương.

-         Tình yêu phổ quát không có biên giới hoặc sự thiên vị ; tình yêu thể hiện tới tất cả mọi người.

-         Luật pháp thực sự sống trong lòng tốt của trái tim chúng ta. Nếu trái tim của chúng ta trống rỗng thì không luật pháp hay cải cách chính trị nào có thể lấp đầy nó được.

-         Tình yêu không đơn giản là một sự thèm muốn, say mê, một cảm giác căng thẳng về một người hoặc một vật, mà là một sự ý thức về quên mình và hoàn thiện mình cùng một lúc.

-         Nhiệm vụ của chúng ta là giải phóng mình... bằng cách mở rộng vòng tay trắc ẩn để ôm tất cả nhân loại và thiên nhiên vào lòng.-Albert Einstein.

-         Tình yêu có thể dành cho đất nước của mình, cho một mục đích yêu dấu, cho chân lý, cho sự công bằng, cho đạo đức, cho con người và cho thiên nhiên.

-         Yêu thương có nghĩa là tôi có thể trở thành người tốt bụng, ân cần và hiểu biết người khác.

-         Khi tôi cảm thấy lòng mình mạnh mẽ, lúc đó that dễ dàng để yêu thương.

-         Tình yêu là nhìn nhận mỗi người tốt đẹp hơn.

-         Tình yêu thực sự sẽ bảo đảm lòng tốt, sự ân cần, sự hiểu biết và xóa bỏ những hành vi ghen tỵ và kiểm soát (người khác).

4. KHOAN DUNG

-         Hòa bình là mục đích, khoan dung là phương pháp.

-         Khoan dung là sự cởi mở và sự chấp nhận vẻ đẹp của những sự khác biệt.

-         Khoan dung chấp nhận cá tính và sự đa dạng của con người trong khi loại bỏ những mặt nạ phân cách và làm giảm sự căng thẳng được tạo ra bởi sự thiếu hiểu biết. Nó cung cấp khả năng phát hiện và loại bỏ những khuôn mẫu và tì vết liên hệ với con người được coi là khác biệt vì chủng tộc, tôn giáo hoặc di sản.

-         Khoan dung là sự tôn trọng lẫn nhau thông qua sự hiểu biết lẫn nhau.

-         Nguyên nhân của việc không khoan dung là sự sợ hãi và sự thiếu hiểu biết.

-         Hạt giống của khoan dung là tình yêu; nước (để nó nảy mầm) là lòng trắc ẩn và sự quan tâm, chăm sóc.

-         Khi nào thiếu tình yêu thì thiếu lòng khoan dung.

-         Những ai biết đánh giá điều tốt trong mọi người và những tình huống là những người có lòng khoan dung.

-         Khoan dung là khả năng đương đầu với những hoàn cảnh khó khăn

Thảo luận :

1. Giữa bình an của cá nhân và khoan dung có mối quan hệ nào không ? Bạn nghĩ nó có thể là gì ?

2. Con người phân biệt đối xử theo nhiều cách - Họ thành kiến điều gì ? Hãy xét xem chúng ta có thể đặt tên cho bao nhiêu điều. Con người phân biệt đối xử dựa trên cơ sở...? (Thường thì mọi người sẽ nêu tên : Chủng tộc, tôn giáo, màu da và văn hóa)

5. TRUNG THỰC

-         Trung thực là luôn nói sự thực.

-         Khi tôi trung thực, tôi cảm thấy trong lòng sáng tỏ.

-         Một người đáng được tin cậy là một người người thật thà trung thực.

-         Trung thực có nghĩa là không có sự mâu thuẫn và trái ngược nhau trong các suy nghĩ, lời nói hay hành động.

-         Những hành động, lời nói, suy nghĩ trung thực tạo nên sự hài hòa.

-         Trung thực là sự nhận thức về những giá trị đúng đắn và thích hợp trong vai trò, hành vi các mối quan hệ của một người .

-         Với sự trung thực thì không có đạo đức giả hay sự giả tạo tạo nên sự nhầm lẫn và thiếu tin cậy trong tâm trí và cuộc sống của những người khác.

-         Trung thực làm cho cuộc sống toàn vẹn bởi vì bên trong và bên ngoài chúng ta là một hình ảnh phản chiếu .

-         Trung thực để sử dụng tốt những gì người ta cậy trông vào bạn .

-         Có mối quan hệ sâu sắc giữa sự trung thực và tình bạn.

-         Một con người trung thực biết rằng chúng ta tất cả đều có liên hệ với nhau.

Thảo luận:

1. Đề nghị mỗi học sinh sưu tập một câu chuyện về trung thực và tham nhũng từ sách vở, báo chí hoặc radio.

2. Đề nghị các nhóm đóng một vở kịch với chủ đề trung thực và thiếu trung thực.

6. KHIÊM TỐN

-         Khiêm tốn được dựa trên lòng tự trọng.

-         Khiêm tốn cho phép mình lớn lên với phẩm giá và lòng chính trực - không cần đến những bằng chứng của một thể hiện bên ngoài.

-         Khiêm tốn làm cho lòng kiêu ngạo biến mất.

-         Khiêm tốn cho phép một sự nhẹ nhàng trong khi đối mặt với các thách thức .

-         Khiêm tốn là một giá trị - ở mức cao nhất của nó - là chấp nhận sự quên mình và phẩm giá trong việc làm vì một thế giới tốt hơn.

-                   Người khiiêm tốn lắng nghe và chấp nhận những người khác.

-         Khiêm tốn là giữ được sự ổn định và duy trì sức mạnh bên trong và không cần phải kiểm soát người khác ở bên ngoài .

-         Khiêm tốn loại trừ những sở hữu tạo nên các bức tường của tính tự cao tự đại.

-         Khiêm tốn làm cho một người trở nên tuyệt vời trong trái tim người khác.

-         Khiêm tốn tạo nên một tâm trí cởi mở và sự thừa nhận những sức mạnh của bản thân và người khác. Sự kiêu ngạo làm thiệt hại hay hủy hoại việc đánh giá tính độc đáo của người khác và vì thế là một sự vi phạm tinh vi các quyền cơ bản của họ.

Thảo luận :

1. Tại sao đôi khi chúng ta muốn huênh hoang ? Chúng ta muốn gì?

2. Có cách nào khác để đạt được điều mà chúng ta muốn ?

  (còn tiếp)

Tu viện Dòng Mân Côi Chí Hòa 2009

TRANG QUỚI CHỨC

TÔN KÍNH TÊN CHÚA

Điều Răn Thứ II trong Mười Điều Răn dạy: Chớ kêu Tên Đức Chúa Trời vô cớ.

Đó là điều chúng ta vẫn đọc trong Nhà Thờ mỗi ngày Chúa Nhật nhằm mục đích nhắc nhở chúng ta về luật Chúa đã ban để chúng ta sống đúng ý Chúa muốn. Song, do lời lẽ quá cô động nên chúng ta cũng hiểu rất vắn tắt và hạn hẹp về giới răn này.

Thường khi xét mình, đến giới răn thứ hai này, chúng ta chỉ xét ở một khía cạnh là lời nói: chúng ta có nói gì xúc phạm tới danh Chúa hay không mà thôi. Cũng không thể trách được, vì theo mặt chữ thì luật cấm kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ kia mà!

Vì thế chúng ta cần phải truy tận căn thì mới thấy những gì chúng ta hiểu còn nhiều thiếu sót.

Theo quyển Kinh thánh Trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước, nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998 thì sách Đệ Nhị Luật, đoạn 5 câu 11 viết thế này: "Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng" (Đnl 5,11)

Nếu như danh Chúa mà còn không được vô duyên vô có mà chạm tới thì chúng ta có thể mang danh đó để sống cách bất xứng không ?

Người bình dân, người ta hay phân biệt người đạo này với các đạo khác bằng cách ghép tên Đấng sáng lập vào: đạo Chúa hay đạo Phật. Đời sống đức tin của người tín hữu gắn liền với danh Trời hay Chúa.

Chúng ta không chỉ là những tín đồ như các tín đồ của các tôn giáo khác, mà chúng ta còn được vinh dự làm con của Chúa. Có câu: cha nào con nấy. Con Chúa mà sống tệ hơn con của con người nữa thì đó không phải là xúc phạm, làm hoen ố danh Chúa sao ?

Trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng: chúng con nguyện danh Cha cả sáng. Đó không phải là việc của Chúa mà là việc của chúng ta. Chúng ta phải sống như thế nào để khi nhìn vào cung cách sống của một người mang danh đạo Chúa, người ta sẽ khen ngợi Cha chúng ta, Đấng tốt lành, lề luật Người hoàn thiện hơn tất cả các luật khác. Người Kitô hữu phải sống sao cho những người khác phải nhìn vào đó mà noi theo.

Là những người có đạo, nghĩa là những người được chúa ban lề luật, dạy dỗ thật tỉ mỉ, được chúa nhận làm con, chúng ta hãy cố gắng sống sao cho rạng danh Cha của chúng ta, hãy sống xứng đáng như những đứa con được dạy dỗ đàng hoàn. Hãy làm Con Trời với đúng nghĩa của nó, đừng làm những ông Trời Con mà Danh Chúa bị xúc phạm.

SỐNG ĐẸP

TẠI SAO TÔI CHỌN CHÚA

10 khuyết điểm tuyệt vời của Chúa Giêsu

Những chia sẻ "10 khuyết điểm tuyệt vời của Chúa Giêsu" do ĐTGM Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tại Strasbourg, Pháp trong cuộc họp mặt "Niềm Vui Sống Đạo" của các bạn trẻ Việt Nam Công Giáo sống tại Âu Châu.

 1.  Chúa Giêsu kém trí nhớ!

Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi". Và Chúa nói với anh ấy: "Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng" (Lc. 23, 42-43).

Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài "nhớ" một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên nầy suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!

Trong Phúc âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Đến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ...

Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.

"Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con thưa rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa...". Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!..." (Lc. 15, 20-23).

Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.

(còn tiếp)

Đức Hồng Y Px.  Nguyễn Văn Thuận

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

Bi kịch mẹ chồng, nàng dâu quá sòng phẳng tiền nong

Không chỉ rõ ràng và sòng phẳng trong việc đó tôi và mẹ chồng tôi còn chia ra không ai phải nộp tiền ăn cho ai mà cứ một tuần, mỗi người đi chợ một lần

Mới có 5 tuổi nhưng đứa con gái tôi luôn mồm nói về sự sòng phẳng trong tiền bạc và nếu như ai đó nhờ nó làm bất cứ một việc gì, nó cũng nói là phải thuê làm hoặc thuê người khác làm cho. Nó có những ý tưởng, những hành động không cần đến sự xin phép, hỏi bố mẹ có nên làm hay không nên làm mà nó tự quyết định rồi tự ý hành động. Bất chợt nhận ra được điều này phải chăng đây chính là hậu quả của chính sự giáo dục và sự ảnh hưởng từ chính cách sống của tôi, sự sòng phẳng trong chi tiêu sinh hoạt của tôi với mẹ chồng để đến bây giờ tôi biết "uốn lại" thế nào với "cái cây" đang ngày một lớn?!

Gia đình nhà chồng tôi không giàu có nhưng cũng đủ dư giả để bố mẹ chồng tự sắm cho mình một chiếc xe hơi phục vụ nhu cầu đi lại và cả gia đình bao gồm vợ chồng, con cái tôi cùng ông bà sống trong một ngôi nhà khang trang ba tầng nằm trong ngõ nhỏ. Từ ngày tôi về làm dâu chưa một lần to tiếng với ai trong nhà chồng. Khi tôi sinh đứa con gái đầu lòng, đến tháng đi làm, mẹ chồng tôi gọi tôi lại và bàn việc thuê người bế cháu vì mặc dù mẹ còn khoẻ, mẹ ở nhà nhưng mẹ không thể bế được, đôi lúc mẹ còn đi đó đi đây, không thể ngồi ở nhà mãi được. Tôi đồng ý và tìm người giúp việc khi mình đi làm.

Tôi tìm được người bế con và phụ giúp việc nhà. Thuận ở chỗ người giúp việc nhanh nhẹn, làm bất kể việc gì cũng tháo vát, toàn bộ việc nhà và chăm sóc con tôi lúc tôi đi vắng chị đều làm tốt cả. Mẹ chồng tôi khá hài lòng nhưng tôi không thấy hài lòng vì tiền thuê người giúp việc quá cao. Những việc trong nhà mẹ chồng tôi có thể làm được thì việc gì phải thuê làm cho thêm vất vả. Tôi bàn lại với người giúp việc cắt một phần công việc và trả bớt tiền thuê. Mẹ chồng tôi thấy vậy liền đứng ra trả tiền công cho phần tôi cắt đi. Và cứ như thế trong khoản tiền công thuê người cứ mẹ chồng tôi một nửa, tôi một nửa, rõ ràng và sòng phẳng.

Không chỉ rõ ràng và sòng phẳng trong việc đó, tôi và mẹ chồng tôi còn chia ra không ai phải nộp tiền ăn cho ai mà cứ một tuần, mỗi người đi chợ một lần. Tuần này tôi thích ăn gì, tôi mua về nấu không ai được chê và không ai tham gia. Tuần sau mẹ chồng thích ăn gì thì mẹ chồng tôi mua về, cả nhà ăn theo sở thích của mẹ. Cuối tuần vợ chồng tôi muốn đổi món thì tự ý ra ngoài ăn và đưa con đi đâu đó chơi, bố mẹ chồng tôi cũng vi vu du lịch trên chiếc xe 4 bánh. Ai nhìn vào cũng thấy gia đình sống thật thoải mái và vô tư.

Những ngày nghỉ, tôi bàn với chồng về ông bà ngoại chơi do ông bà ngoại ở tỉnh ngoài. Chồng tôi không đồng ý với lý do bận mãi hoặc không muốn đi, mẹ con tôi lập tức bắt xe tự đi mà không cần phải lệ thuộc vào ai, cũng như chẳng chờ đợi phải có sự quyết định của ai.  
 
Bây giờ nhìn lại cách sống ấy và cách chi tiêu sòng phẳng của tôi và mẹ chồng đã ảnh hưởng đến lối sống và suy nghĩ của con cái tôi. Chính những gì mà người lớn tạo ra đã vẽ ra trong tâm hồn non nớt của trẻ nhỏ. Chúng sống trong một gia đình có gia phong, có nề nếp thì cũng khác với trong một gia đình cái gì sống với nhau cũng sòng phẳng mà không tìm thấy một chút tình cảm, tình thương yêu cảm thông chia sẻ của các thành viên trong gia đình. Nếu cứ lối sống thế này, tôi sợ rằng đứa con gái bé nhỏ của tôi sẽ chẳng có một chút tình yêu thương trong tâm hồn vì đến cả bố mẹ nó cũng sòng phẳng nữa là với cả người ngoài. Mẹ chồng tôi và tôi sống hiện đại thế đã "hại điện" chưa?

Theo VNN

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

TẠI SAO CÁC BÍ TÍCH LÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN HỮU HIỆU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ ?

Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết ,sống lại  và lên Trời cách  nay đã 2000 năm. Nhưng công nghiệp cứu chuộc này  vẫn được tiếp tục  ban phát cho con người qua sứ mang của Giáo Hội, là Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa  trong trần gian này cho đến ngày cánh chung tức là ngày mãn thời gian.

Tuy nhiên, sau 2000 năm Tin Mừng Cứu Độ được rao giảng , cho đến  nay mới chỉ có 1/6 nhân loại được  biết Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội của Chúa qua Phép Rửa và Thêm sức.

Như thế còn đa số người chưa được nghe Tin Mừng của Chúa và tin yêu Người là Đấng đã đến trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người"( Mt  20: 28).

Với những người chưa biết Chúa Kitô  và nghe Phúc Âm của Người, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện và hăng hái thi hành sứ mạng Chúa đã trao phó trước khi Người về Trời: Đó là " anh  em hay đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh  Chúa Cha , Chúa  Con và  Chúa Thánh Thần., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh  em..(Mt 28: 19-20) .Đây là sứ mạng phúc âm hóa thể giới và giảng dạy chân lý  mà Giáo hội đã và đang thi hành để mang Chúa Kitô  và công nghiệp cứu chuộc của Người đến với những người chưa biết Chúa cũng như chưa  được nghe Tin Mừng cứu độ của Người. Thật vô cùng cần thiết cho hết mọi người, mọi dân tộc trên khắp thế giới được nghe  và sống Tin Mừng đó hầu  được cứu rỗi vì Thiên Chúa"Đấng cứu độ chúng ta, Đấng ,muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2:4)

Sứ mạng  phúc âm hóa thế giới  không chỉ được rao phó riêng cho hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ , tu sĩ mà còn là trách nhiệm chung của mọi người tín hữu  đã nhận lãnh Phép Rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa. Nói rõ hơn, tất cả mọi thành viên trong  Giáo Hội gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân - tuy khác  nhau về địa vị và trách nhiệm- nhưng  đều có chung sứ mang loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những ai chưa biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người. Hàng giáo sĩ , tu sĩ thi hành sứ mạng này bằng việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trong phạm vi thánh đường ( các linh mục Dòng nay đang phải coi sóc nhiều giáo xứ vì thiếu linh mục Triều hay giáo phận) và bằng đời sống chứng tá  phản ảnh trung thực  những giá trị của Phúc Âm trước mặt người đời. Người giáo dân, ngược lại,  rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng  chính đời sống của mình trong  khi làm việc hay sống chung với những người khác ở  nhiều môi trường khác nhau.

Chính đời sống Kitô hữu phản ảnh trung thực những chân lý  và giá trị của Phúc Âm như công bình , bác ái, yêu thương,  thánh thiện, tôn trọng sự  sống, đề cao sự thật, nhất là xa tránh mọi thói hư tật xấu của thế gian đang chìm sâu trong văn hóa của sự chết,  sẽ có sức thuyết phục người khác nhận biết Chúa Kitô đang  hiện diện nơi người chứng tá để mời gọi họ tin yêu Chúa như mình để cùng được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Và để đạt mục đích đó, tất cả mọi thành viên của Giáo Hội đều được mong đợi phúc âm hóa  bản thân  và môi trường sống bằng chính đời sống chứng tá của mình  để mời gọi người khác tin và yêu mến Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người

Chúa Kitô không những  rao giảng, dạy dỗ chân lý, mà còn thiết lập các bí tích làm phương tiện cứu rỗi cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

Thật vậy, trước hết, Chúa đã nói đến tầm quan trọng của bí tích Thánh Tẩy hay Rửa tội trong Tin Mừng Marcô và Gioan như sau:  "Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ ; còn ai không tin sẽ bị luận phạt ." ( Mk 16: 16). Hoặc :"Không ai có thể được vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và  Thần Khí" ( Ga 3: 5)

Trước khi về Trời, Chúa đã ăn cần căn dặn các Tông Đồ như sau: "Anh  em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28 : 19)

Như thể, đủ chứng minh rằng Bí Tích Rửa Tội là điều kiện tiên quyết để được cứu độ, vì tội nguyên tổ đã cắt đứt tình thân giữa Thiên Chúa và loài người. và  đã "mang    sự chết vào trần gian, vì một người đã phạm tội"như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 5 :12).

Nhưng vì Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng xót thương, cho nên  dù :"Người nổi  giận, giận trong giây lát, nhưng  yêu thương, thương suốt cả đời." ( Tv 30 : 6)

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ nên Thiên Chúa  đã sai Con Một là Chúa Kitô xuống trần gian làm Con Người để " cứu cái gì đã  hư mất." ( Mt 18:11)

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu thực vô giá và đủ cho những ai muốn hưởng nhờ. Nhưng  điều kiện trước tiên để được cứu rỗi là  phải được tái sinh qua Phép Rửa như đã nói ở  trên.

Vì tầm quan trọng của bí tích này nên,  trước khi rửa tội cho ai ( người lớn) thì phải dạy cho họ biết mục đích và công dụng của bí tích này.Nghĩa là không thể đổ nước lên đầu  là xong việc.Ngược lại, phải dạy cho người muốn lãnh bí  tích này hiểu rõ vì sao cần được rửa tội để thay đổi con người cũ và trở thành tạo  vật  mới, " mặc lấy Chúa Kitô  để bắt đầu một hành trình mới đưa đến ơn cứu độ.Nói rõ hơn, không phải rửa tội xong là đủ, không cần phải làm gì nữa.Trái lại, rửa tội mới là bước khởi đầu cần thiết cho một tiến trình đổi mới hay hoán cải  ( conversion process) để đoạn tuyệt  với con người cũ sinh ra trong tội và bắt đầu một đời sống mới theo Trần Khí  hầu  trở nên hoàn thiện như mục đích của Phép Rửa.

Tiến trình đó đòi hỏi người đã được rửa tội phải quyết tâm yêu mến Chúa và xa tránh mọi tội lỗi vì phép rửa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội cũng như không thay đổi hoàn toàn nhân tính để con người trở nên giống các Thiên Thần ngay  trên trần thế này.

Ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trong nhân tính, dễ nghiêng chiều về đường xấu và khó đứng vững trước mọi cảm dỗ của ma quỉ ví như " Sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5: 8) cùng với gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian để lôi kéo con người vào con đương hư mất đời đời.

Do đó, nếu con người không cộng tác với ơn Chúa để cương quyết sống theo đường lối của Người và xa tránh tội lỗi thì  ơn phép rửa , ơn tái sinh sẽ trở nên vô ích.Và Chúa cũng không thể cứu ai không có thiện chí bước đi theo Người và cương quyết xa tránh   mọi quyến rũ của ma quí, thế gian và xác thịt là nhưng cản trở và hiểm nguy  lớn lao cho con người muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Cũng vì biết con người còn yếu đuối, khó đứng ững trước mọi thách đố và dịp tội, nên Chúa  Kitô đã dự liệu sẵn những phương thế hữu hiệu là các bí tích để giúp con người chống đỡ và lấy lại tình thân với Chúa sau khi đã  lỗi phạm tội nào  vì yếu đuối của nhân tính và vì mưu chước thâm độc của ma quỉ cộng với gương xấu, dịp tội của thế gian hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ vật chất và  nếp sống  yêu chuộng mọi lạc thú vô luân vô đạo, như thực trạng con người ngày nay ở khắp mọi nơi. Người ta đang chối bỏ Thiên Chúa , khinh chê mọi giá tri tinh thần, luân lý và đạo đức  là những căn bản để phân biệt  con người có lương tri với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn.

Những bí tích mà Chúa ban cho Giáo Hội là những phương tiện cứu độ rất hữu hiệu và cần thiết cho những ai muốn được vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin một cách trung thực và can đảm trên trần thế này.

Thật vậy, với bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân. Bí tích Thêm sức cho ta tri hiểu, sức mạnh và ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để  sống nhân chứng cho Chúa Kitô  trong trần thế cũng như có sức  để  chống lại mọi nguy cơ cám dỗ của xác thịt, ma quỉ và thế gian. Bí Tích Thánh Thể không những  cho ta của ăn thiêng liêng cần thiết trên đường tiến về quê trời với bao khó khăn và thách đố,  mà quan trọng hơn nữa, bí tích Thánh thể còn làm sống lại cách bí nhiệm hy tế thập giá của Chúa Kitô xưa kia , vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ , nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta  chiu hiến tế'' (1 Cor  5, 7)  thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( x.Lumen Gentium  số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ Tạ Ơn ngày nay diễn lại cách mầu nhiệm Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã một lần dâng lên Chúa Cha  trên núi Sọ  năm xưa   để đền tội thay cho nhân loại  nhờ Chúa hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, như Giáo Hội tuyên xưng mỗi khi của hành Bí Tích Thánh Thể  tức Thánh Lễ Tạ Ơn (Eucharist) để xin ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà ơn này được ban cho nhân loại lần đầu nhờ  Hy tế  Chúa Kitô hiến dâng một lần xưa kia trên thập giá.

Như thế, có thể nói Bí Tích Thánh Thể là Bí tích cứu độ mà Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục ban ơn cứu  chuộc  của Người cho đến ngày mãn thời gian.Do đó, chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô là của ăn nuôi linh hồn ta và cho ta được sống đời đời vì "ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì được sống  muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết."  như lời Chúa hứa ban ( Ga 6 :54)

Tóm lại các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải là những bí tích tối cần cho ta được cứu rỗi và bảo đảm ơn cứu rỗi đó bao lâu còn lữ hành trên trần thế này. Các bí tích khác như sức dầu, Truyền Chức Thánh và Hôn phối là những bí tích giúp con người cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo, (bí tích hôn phối) tức là làm tăng số con cái Chúa trên trần gian này, cũng như chuẩn bị cho ta  lìa đời  trong ơn nghĩa Chúa (bí tích xức dầu). Sau hết, bí tích Truyền Chức Thánh dành cho một thiểu số người được ơn gọi đi rao giảng Lời Chúa và phục vụ  cho những lợi ích thiêng liêng của  dân Chúa ví như đàn chiên được trao phó cho các mục tử chăn nuôi và dẫn đưa về "Chuồng chiên mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết."  ( x.LG  6).

Mặt khác,  bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cách riêng cho bí tích Thánh Thể, là bí tích làm sống lại Hy Tế thập giá của Chúa Kitô  xưa trên bàn thờ ngày nay  mỗi khi Thánh lễ tạ ơn được cử  hành như đã nói ở trên.Ngoài ra,  Bí tích truyền chức thánh  cũng được lập ra để phục vụ  cho các bí tích thêm sức, hòa giải và sức dầu, vì các bí tích này đòi hỏi thừa tác viên phải có chức linh mục, là một trong ba chức thánh của Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hai chức thánh kia là chức Phó Tế và Giám mục.

Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban các bí tích như phương tiện hữu hiệu để giúp ta sống trong ơn nghĩa Chúa để  nhiên hậu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn cho mọi con cái loài người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Hãy Tận Dụng" Vết Nứt Cuộc Đời " của Mình

Người ta sống ở đời chắc chắn là "nhân vô thập toàn", được cái này thì mất cái kia, không ai hoàn hảo cả. Ấy vậy mà khi nhìn lên, chúng ta luôn thấy mình yếu kém, thua thiệt so với trang lứa, bạn bè nên thường mặc cảm, tự ti về chính bản thân mình.

Mặc cảm, tự ti là những tâm lý tiêu cực, nếu không chuyển hóa, lâu ngày sẽ khiến chúng ta thiếu tự tin, có thể trở nên bi quan chán nản với cuộc sống. Do đó, mỗi người cần lắng lòng nhìn lại, nhìn thật sâu, nhận diện một cách rõ ràng về chính mình và mọi người xung quanh để thấy rằng những ưu điểm của mình và người chưa hẳn là hay và những khiếm khuyết của mình và người cũng chưa hẳn là dở.

Trong phúc có họa và trong họa có phúc, trong cái dở có cái hay và trong cái hay có cái dở, trong được có mất và trong mất có được, trong xấu có tốt và trong tốt có xấu... là những điều mà chúng ta cần tư duy, chiêm nghiệm thật sâu sắc trong đời sống thường nhật. Sự quán chiếu càng thâm sâu thì tuệ giác càng sáng tỏ, khiến chúng ta trở nên nhẹ nhàng và thanh thản hơn, nhất là không oán trách hay mặc cảm thua thiệt trước những khiếm khuyết của mình.

Câu chuyện về cái chậu nứt đã vượt lên mặc cảm của chính mình dưới đây là một điển hình:

" Xưa, có người dùng hai cái chậu lớn để gánh nước. Theo thời gian, một trong hai cái chậu bị nứt, vì vậy khi gánh nước từ giếng về thì chỉ còn một nửa.

Cái chậu còn nguyên rất tự hào về sự hoàn hảo của mình, còn cái chậu nứt luôn bị cắn rứt vì không hoàn thành nhiệm vụ.

Một ngày nọ cái chậu nứt nói với người chủ:

-         Tôi thật xấu hổ về mình. Tôi muốn xin lỗi ông!

-         Ngươi xấu hổ về chuyện gì?

-         Chỉ vì lỗi của tôi mà ông không nhận được đầy đủ những gì xứng đáng với công sức của ông.

-         Không đâu, khi đi về ngươi hãy chú ý đến những luống hoa bên vệ đường. Người chủ từ tốn trả lời.

Quả thật, dọc theo vệ đường là những luống hoa rực rỡ. Cái chậu nứt cảm thấy vui vẻ phần nào, nhưng rồi về đến nhà nó vẫn còn phân nửa nước nên lại ray rứt:

-         Tôi xin lỗi ông...

-         Ngươi không chú ý rằng hoa chỉ mọc bên này đường, phía của ngươi thôi sao? Ta đã biết được vết nứt của ngươi và đã tận dụng nó. Ta gieo những hạt giống hoa bên vệ đường phía bên ngươi và trong những năm qua ngươi đã tưới cho chúng. Ta hái những cánh hoa đó để trang hoàng căn nhà. Nếu không có ngươi, nhà ta sẽ không ấm cúng và duyên dáng như thế này đâu.

Cho nên, nếu con người chúng ta là cái chậu nứt thì hãy tận dụng vết nứt của mình".

Phải quán sát về những ưu điểm của bản thân để vui sống. Ngoại hình của mình không đẹp, không sao, vì mình có đời sống nội tâm sâu sắc, đạo đức, nhân hậu, thương người. Công việc của mình rất tầm thường, thu nhập thấp, cũng chẳng hề gì, vì đó là một nghề lương thiện, chính đáng. Đời sống của mình chưa cao, nhưng chẳng sao, vì xung quanh ta còn vô số kẻ đói nghèo v.v... Thấy được như vậy, cuộc sống sẽ thanh thản và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Thực tập nhận diện thật kỹ và sâu sắc về các "vết nứt" của mình để thấy được những đặc điểm tích cực, hữu ích của nó. Một hạn chế về học vấn sẽ giúp ta trở nên khiêm cung, không kiêu căng tự mãn. Một khiếm khuyết về sức khỏe sẽ giúp ta biết trân quý sự sống, không tự tàn hại thân thể, biết nâng đỡ và tương trợ lẫn nhau... Mặt khác, xung quanh ta có rất nhiều người khuyết tật, họ tàn nhưng không phế, vẫn cố vượt lên số phận làm gương sáng cho đời. Phải quán sát thật nhiều và sâu sắc cho đến lúc ta chấp nhận sống chung an ổn với các "vết nứt" của chính mình.

Tuệ giác sáng tỏ để nhận thức đúng các chiều kích cuộc sống cùng với ý chí kiên định quyết vượt lên, không đầu hàng số phận là hai nhân tố vô cùng cần thiết để thiết lập một đời sống có ý nghĩa, lạc quan và yêu đời. Chúng ta chẳng sợ thiếu tài năng, chỉ sợ không có tấm lòng nên hãy can đảm dẹp bỏ mọi tự ti mặc cảm. Cuộc sống chung quanh ta sẽ có biết bao điều mầu nhiệm nếu mỗi người đều biết tận dụng các vết nứt của mình.

Và quan trọng hơn, nhờ ta "nứt" nên người khác mới thấy họ "lành", chính "nứt" đã xây dựng nên, đã làm nổi bật yếu tố "lành". Như hai mặt trước và sau của tấm huy chương, chúng nương nhau mà tồn tại, bỏ mặt sau thô xấu thì không thể có mặt trước sáng chói vinh quang. Cho nên, những ai được lành mà không kiêu căng tự phụ đồng thời luôn biết ơn những người bị nứt để sẻ chia thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết nhường nào!

Quảng Tánh

Mọi ý kiến, thắc mắc của các bạn trẻ về đức tin và luân lý có thể thể gửi về cha đặc trách giới trẻ theo địa chỉ  dưới đây để tham vấn:

Cha Tôma Nguyễn Ngọc Tân
Nhà Thờ Chánh Toà Vĩnh Long
141, Lê Thái Tổ, P. 2 - Tp. Vĩnh Long

Email: gioitrevinhlong@gmail.com

1163    07-08-2012 10:00:50