Sidebar

Thứ Hai
17.06.2024

Đào Tạo Giáo Lý Viên_Phần 01_Bài 8

Bài 8. NHIỆT TÂM TRUYỀN GIÁO (Phong cách 3)

I. Truyền giáo: tiếng gọi khẩn cấp:

Giáo lý viên là Kitô hữu và còn là Kitô hữu có ơn gọi làm giáo lý viên không thể làm ngơ trước tiếng gọi khẩn cấp: truyền giáo hay loan báo Tin mừng.

1. Phát xuất từ cởi mở với lời Chúa:

Khi giáo lý viên cởi mở để đón nhận lời Chúa, hiểu biết và sống thân tình với Chúa luôn thì không thể nào lại không tìm cách làm cho người khác hiểu biết và sống thân tình với Người. Cởi mở với lời Chúa đòi hỏi vừa đón nhân, vừa đem lời Chúa cho người khác để họ cũng cởi mở với lời Chúa như mình để cùng được lời Chúa cứu độ.

2. Phát xuất từ chính Chúa Kitô:

Giáo lý viên không thể bỏ ngoài tai tiếng gọi khẩn cấp của Chúa Kitô: "Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về" (Ga 10,16). Cũng không thể quên lệnh truyền giáo của Chúa Giêsu đã được ban bố trước khi Ngài về trời: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15).

3. Phát xuất từ hoàn cảnh cụ thể hôm nay:

Giáo lý viên Việt Nam đang sống trong xứ truyền giáo; cứ 100 người thì chỉ có 3 người là Công giáo, còn 97 người chưa thuộc về đàn chiên của Chúa. Ấy là chưa nói đến toàn thể châu Á ngày nay với gần 4 tỷ người mà chỉ có 100 triệu người Kitô giáo, mà riêng Philippin đã có 50 triệu. Giáo lý viên là một Kitô hữu đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và phép Thêm Sức, lại được mời gọi làm giáo lý viên, nên không thể không quan tâm đén tỷ lệ quá cách biệt giữa người đã chịu phép Rửa Tội và người lương dân.

II. Giáo lý viên phải có thái độ nào trước tiếng nói khẩn cấp ấy:

Dạy giáo lý cho các em là một cách đáp lại tiếng gọi của Chúa. Tuy nhiên, giáo lý viên luôn ý thức mình đang ở xứ truyền giáo và luôn sẵn sàng:

1. Để cho tình yêu Chúa Kitô thúc bách:

Giáo lý viên đã nghe biết về tiếng gọi và lệnh truyền của Chúa Kitô nên phải khắc ghi trong lòng để suy niệm. Suy nghĩ để có thể nhận ra và cảm nhận rằng Chúa Kitô đã yêu thương ngỏ lời với mình thì mình không thể hưởng thụ tình yêu ấy cho riêng mình, mà phải để cho "tình yêu Chúa Kitô thúc bách" (2Cr 5,14), khiến cho mình "không thể không nói ra những gì mình đã nghe và đã thấy" (Cv 4,20). Dẫu có bị cấm cách, ngăn cản hay bách hại, giáo lý viên không bao giờ hổ thẹn vì Tin mừng của Chúa (x. Rm 1,16).

2. Tích cực dấn thân làm cho nhiều người khác nữa biết Chúa Kitô:

Được tình yêu Chúa Kitô thúc bách, giáo lý viên đã dứt khoát không chạy theo xu hướng của người đời chỉ lo kiếm tiền bạc danh vọng để hưởng thụ. Nhưng chọn lựa tìm kiếm vinh dự nơi Chúa Kitô và không muốn loan báo điều gì khác ngoài Chúa Kitô là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Quyết tâm chọn lựa để tình yêu Chúa Kitô thúc bách và tìm kiếm vinh dự trong việc loan báo Chúa Kitô để cho mọi người biết và tin theo Người, đó là điều kiện để cho nhiệt tâm truyền giáo phát triển.

III. Giáo lý viên phát triển nhiệt tâm truyền giáo:

Giáo lý viên có thể làm cho nhiệt tâm truyền giáo phát triển bằng cách:

1. Quyết tâm chú ý kiếm tìm chiên lạc cho kỳ được:

Giáo lý viên đã yêu mến Chúa Kitô và khao khát làm cho nhiều người nữa biết Người, thì phải bắt chước tấm lòng của Người đến với các chiên lạc. Đó là những người đáng được chú ý hơn đến nỗi Chúa Kitô ví họ như con chiên lạc mà người mục tử "để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?" (Lc 15,4). Chúa Kitô còn so sánh nhiệt tâm ấy như tấm lòng của người phụ nữ nghèo "đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được?" (Lc 15,8).

2. Quyết tâm làm bất cứ việc gì có thể để cứu được một số người:

Đã cảm nhận được tình yêu Chúa Kitô thúc bách mình và hiểu được tình trạng mất mát của các chiên lạc đang cần dẫn đưa về đàn; giáo lý viên noi gương vị tông đồ Phaolô có nhiệt tâm rất cao, đã sẵn sàng trở nên tất cả cho mọi người "để bằng mọi cách cứu được một số người" (1Cr 9,22).

Nhiệt tâm truyền giáo thôi thúc thánh Phaolô đến nỗi Ngài thú nhận rằng: "Thật vậy, đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9,16).

IV. Dấu chỉ của nhiệt tâm chân thực:

Giáo lý viên đã đem hết nhiệt tâm để đáp lại tiếng gọi khẩn cấp của Chúa Kitô và của chính các chiên lạc chưa thuộc về đàn, giáo lý viên biểu hiện nhiệt tâm ấy trong những lời nói tha thiết với việc truyền giáo; hoặc dành nhiều thời gian để lo hoạt động truyền giáo. Tuy nhiên, nhiệt tâm chân thực truyền giáo của giáo lý viên được biểu hiện như sau:

1. Giáo lý viên khắc hoạ được nơi sâu thẳm nhất của mình: dấu Thánh Giá vinh quang của Chúa Kitô.

Thật vậy, Đức Kitô mà giáo lý viên học hỏi là "Đức Kitô chịu đóng đinh" (1Cr 2,2), Đấng mà giáo lý viên loan báo cũng chính là "Đức Kitô chịu đóng đinh". Nhưng Đấng ấy cũng là Đức Kitô đã phục sinh từ cõi chết. Dấu chỉ nhiệt tâm chân thực là giáo lý viên luôn xác tín cách sâu sắc rằng: mình không thể được vinh quang với Chúa Kitô nếu không đi qua đường thập giá (x. Lc 24,26).

2. Giáo lý viên sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, thử thách, đau khổ trong đời truyền giáo:

Một khi khắc hoạ nơi sâu thẳm của lòng mình dấu Thánh Giá vinh quang của Chúa Kitô thì giáo lý viên sẵn sầng sống mầu nhiệm tử nan và phục sinh của Chúa Kitô với niềm hy vọng phấn khởi. Sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô tức là trong mỗi hoàn cảnh sống của mình, dù có gặp những hạn chế, bất lực hay những đau khổ nơi bản thân mình, những nghịch cảnh trong gia đình mình, những khó khăn trở ngại trong công tác tông đồ, giáo lý viên luôn quyết tâm đi cho trọn con đường Chúa đã đi, với ý hướng là: "Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh" (Cl 1,24).

Kết luận: Nhiệt tâm truyền giáo là phương cách thứ III giúp giáo lý viên hiểu hiện cách rõ ràng cho học viên cũng như cho mọi người nhận ra giáo lý viên thực sự sống linh đạo giáo lý viên. Nhiệt tâm truyền giáo là kết quả cụ thể của việc cởi mở với lời Chúa, vừa đón nhân, vừa ra đi loan báo lời Chúa và cũng là dấu hiệu của mội đời sống thống nhất và chân thực. Vì giáo lý viên chỉ lo thi hành lời Chúa, thực hiện đúng thánh ý Chúa, theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Như vậy, cả ba phương cách gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau để giáo lý viên sống đúng linh đạo, đúng căn tính của giáo lý viên.








1918    24-03-2011 09:25:26