Sidebar

Thứ Sáu
19.04.2024

Đến Với Người Anh Em

Lời ngỏ
Phần I: Đến Với Người Anh em

Phần II: Tìm Hiểu Một Số Tôn Giáo Ở Việt Nam
- Phật Giáo
- Phật Giáo Hoà Hảo
- Cao Đài Giáo

-
Đạo Ông Bà
- Đạo Tin Lành
- Hồi Giáo

Phần III: Giải Đáp Vấn Nạn
- Những vấn nạn về tôn giáo nói chung
- Về tổng quát đạo Công giáo

- Về niềm tin của đạo Công giáo
- Về cách sống đạo Công giáo
- Về một số xung khắc

Phụ Lục

Lời ngỏ

“Hãy đi rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. (Mc. 16,15). Lệnh của Đức Giêsu Phục Sinh đang mãnh liệt thôi thúc mọi người chúng ta lao vào nhiệm vụ. Để thêm cho Bạn một chút hành trang trên bước đường truyền giáo, chúng tôi gởi tới Bạn tập tài liệu khiêm tốn này.  

* Nội dung gồm ba phần:

- Phần một: Đến với người anh em

Bạn sẽ tìm thấy một số Nguyên tắc và Phương pháp nên theo để dễ tiếp cận với anh em lương dân.

- Phần hai: Tìm hiểu một số tôn giáo ở Việt Nam

Mục đích nhằm giúp Bạn hiểu được những nét chính của các tôn giáo ấy. Nhờ đó Bạn có thể dễ dàng đối thoại với những người anh em.  

- Phần ba: Giải đáp một số thắc mắc của anh em lương dân

Đây là một hành trang thiết thân giúp Bạn hiểu được những thắc mắc của người anh em, đồng thời giúp giải đáp được phần nào trong khiêm nhu và bác ái những thắc mắc ấy.

Tuy nhiên Bạn nên nhớ: Giải đáp thắc mắc không phải là tranh luận để thắng mà là thân ái trao đổi với lý tình hài hòa trong tình huynh đệ hầu đi đến hiểu biết và cảm thông.

Chúng tôi cầu chúc Bạn gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp trong sứ mạng loan báo Tin mừng.

Phần I
Đến Với Người Anh Em

I. Nguyên tắc tiếp cận

Nói đến phương pháp tiếp cận là người ta nghĩ ngay đến Dale Carnegie và cuốn Đắc Nhân Tâm. Đó là kỹ thuật, đôi khi xảo thuật tranh thủ nhân tâm có mục đích làm lợi cho mình, nhất là trong lãnh vực thương mại và chính trị.

Có lẽ đã có người sử dụng phương pháp tâm lý đó để chinh phục các linh hồn. Làm như vậy chúng tôi nghĩ, công tác tông đồ sẽ trở thành quá trần tục! Tiếp cận trong hướng truyền giáo cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

1. Tiếp cận phải khởi đầu bằng tấm lòng yêu mến chân thành và tha thiết.

- Yêu mến Thiên Chúa đến mức độ tràn ra như dòng suối không cản lại được.

- Yêu tha nhân thì không thể không đem cho họ một tin vui vô cùng lớn lao chính họ chưa biết.

2. Áp dụng kỹ thuật “Đắc Nhân Tâm” như một phương tiện hữu ích, nhưng luôn dựa vào tác dụng của ơn Chúa Thánh Thần. Coi kỹ thuật “Đắc Nhân Tâm” chỉ đóng góp tối đa 10% trong công tác truyền giáo.

- Khi truyền giáo mà chỉ “Đắc Nhân Tâm” thì “Đắc Nhân Tâm” có thể trở thành phản chứng. Người sâu sắc sẽ dễ khám phá ra nó và coi nó là thủ đoạn.

- “Đắc Nhân Tâm” nông cạn lắm. Nó chỉ giúp ta thành công trong một giai đoạn ngắn ngủi nhất định.

3. Phải cầu nguyện trước khi tiếp cận. Thần Linh Chúa sẽ ban ơn thánh theo hoàn cảnh để ta khám phá ra cách chinh phục tha nhân như một phản xạ.

4. Sau khi thành công ta phải khiêm tốn coi như mình không đóng góp gì trong công việc này: “Các con hãy nhớ mình chỉ là đầy tớ vô dụng” (Lc. 17,10).

5. Trốn chạy lòng quí mến của tha nhân. Đức Giêsu mới là nơi để tha nhân tìm đến. Hâm mộ ta, tha nhân sẽ dừng lại nơi ta, đồng hóa ta với Chúa, mà quên Chúa. Gioan Tẩy Giả đã để lại tấm gương tuyệt vời này. Người ta tôn sùng ông như Đấng Cứu Thế thì ông tuyên bố ông không đáng xách dép cho Ngài. Khi người ta quên ông để đến với Chúa, thì ông vui mừng tuyên bố với các đệ tử đang ghen tương: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30).  

II. Phương pháp tiếp cận

Để đến với mọi người và mang Tin mừng cứu rỗi cho mọi người, một câu hỏi hữu ích và cần thiết được đặt ra: “Làm thế nào để tiếp cận anh em?” Câu trả lời ngắn gọn nhất sẽ là “Biết người, biết ta”.

Nhưng làm thế nào để “Biết người, biết ta”. Câu trả lời cũng ngắn gọn như thế: “Nhìn ngắm Đức Giêsu”. Bây giờ ta hãy theo bén gót Ngài trong mọi phương thức tiếp cận.  

1. Tiếp cận một: Đến với người nghèo

Người nghèo lúc nào cũng chiếm tuyệt đại đa số nhân loại. Hiện nay người nghèo chiếm 3/4 dân số thế giới. Xứng đáng là đại diện cho loài người.

Chính vì thế Ngôi Lời làm người thì làm người nghèo, chúc lành cho người nghèo. Tin mừng được ưu tiên rao giảng cho người nghèo.

Để trở nên anh em của người nghèo:

- Ngôi Lời sinh ra trong cảnh túng thiếu tột cùng. Hang Bêlem chỉ có tiện nghi của loài thú.

- Chọn nghề thợ mộc, nghề bị xã hội Do thái xếp hạng thấp. Thợ mộc trong xã hội Do thái thời đó còn là thợ rèn, đóng móng ngựa, mài dao… nghĩa là làm mọi nghề lặt vặt.

- Trong thời truyền đạo thì người nghèo là người được Chúa yêu thương đặc biệt. Ngài chúc lành cho họ “Phúc cho người nghèo” (Lc 6, 20).

Ngày nay người truyền giáo cũng phải đến với người nghèo như thế.  

- Sống cho người nghèo tức là có tiền của để giúp đỡ người nghèo là một cách để tiếp cận họ, nhưng sẽ bị hiểu lầm. Dùng tiền của nhân đạo để truyền đạo đã bị sắc lệnh truyền giáo gọi là mánh lới bất chính. Giúp đỡ người nghèo chỉ vì tình người thì cũng dễ làm cho người nghèo theo đạo vì gạo.  

- Sống với người nghèo tức là sống nghèo, chia sẻ nếp sống túng thiếu của người nghèo là phương pháp tiếp cận hay nhất. Sống với người nghèo là đã cho họ nhiều nhất không phải là cho tiền cho gạo, mà cho cả thân phận con người của mình. Giáo hội mang thân phận người nghèo, đó là một suy nghĩ lớn và một hành động rất lớn trong lãnh vực rao giảng Tin mừng.  

2. Tiếp cận hai: mời người đến với ta

Gioan 1, 35-39 cho thấy Chúa đã chinh phục Gioan và Anrê bằng cách mời họ đến căn lều của mình và cùng nhau hàn huyên. Theo quan niệm Do thái lều có tính cách linh thiêng: Kẻ thù không đội trời chung mà bước vào lều của ta, thì thành bạn của ta.

Một buổi tối, trong căn lều, tâm tình trao đổi: thế là Anrê và Gioan đã trở nên hai đệ tử đầu tiên của Chúa.

Noi gương ấy ta cũng mời lương dân đến nhà ta, mời họ tham dự các nghi thức tôn giáo gia đình như: cầu hồn, bổn mạng. Cũng nên mời họ đến tham quan Thánh Lễ tại nhà thờ.

- Gia đình là chỗ ấm cúng, trong đó ta làm chủ, bạn của ta là khách. Là chủ nhà, ta dễ chủ động trong việc gây thiện cảm. Là khách, bạn ta có khuynh hướng làm vui lòng ta. Đối với khách thì chủ giữ thế thượng phong.

- Nhà thờ và phụng vụ Giáo hội Công giáo có sức chinh phục diệu kỳ. Bà Pearl Buck (giải văn chương Nobel 1938) đã từng đi dâng lễ theo lời mời của thân mẫu tổng thống Kennedy. Mặc dầu, Bà là người Tin Lành nghĩa là chống lại chức Linh mục và Thánh lễ, Bà vẫn khen ngợi Thánh lễ Công giáo là cảm động, là linh thánh. Tính phụng vụ của Thánh lễ, tức là tính tập thể như cùng đứng, cùng ngồi, cùng quì… nhất là phút im lặng thánh gây cảm xúc mãnh liệt cho người khách không cùng tín ngưỡng.  

3. Tiếp cận ba: Khiêm tốn, nhu thắng cương

Bên bờ giếng Giacóp (Ga 4, 1- 42) tôn sư Giêsu nói với người phụ nữ Samari: “Chị làm ơn cho tôi xin miếng nước”. Chúa tự đặt mình vào vị trí của người xin, tức là tự nguyện tôn người phụ nữ lên bậc cao. Đó là lòng khiêm tốn, nó là khởi đầu cho một cuộc tiếp cận mang lại kết quả nhiều mặt. Trước tiên niềm tin đã đến với người phụ nữ ấy. Sau đó là qua người phụ nữ này, dân thành ra đón Chúa và mời Chúa ở lại vài ngày.

Noi gương Chúa ta đến với mọi người bằng thái độ khiêm tốn.

- Khiêm tốn không làm mất lòng ai mà làm vui lòng mọi người.

- Người thông minh mà khiêm tốn thì chẳng bị ai khinh. Người ngu dốt mà khiêm tốn thì được mọi người kính trọng.

Dĩ nhiên khiêm tốn không phải là tự hạ, nịnh bợ để trục lợi, nhưng phát xuất từ lòng kính trọng và yêu thương mọi người. Kính trọng con người vì coi nhân tính là mẫu số chung; địa vị, trình độ, hoàn cảnh chỉ là những điều phụ thuộc trong con người.

- Khiêm tốn thì luôn luôn tìm ưu điểm của tha nhân để kính trọng. Mỗi người đều có mặt ưu để ta học hỏi bắt chước hoặc ca ngợi. Tài trồng kiểng, tài nấu ăn, tài thêu thùa, tài làm đẹp… đều là những gia sản quí giá của mỗi người. Chân thành đề cao ưu điểm của tha nhân sẽ là cánh cửa để ta bước vào cuộc đời của họ.

- Khiêm tốn thì bao dung trước những nhược điểm của tha nhân. Có tật thì có tài (Bỉ sắc tư phong). Không ai hoàn toàn tốt – Không ai hoàn toàn xấu. Mỗi cái nhược đều có lý do và hoàn cảnh để ta biện hộ và tha thứ. Vatican II tuyên bố “Người tội lỗi vẫn còn nhân phẩm. Làm nhục người tội lỗi là xúc phạm đến nhân phẩm”.  

4. Tiếp cận bốn: Kiên nhẫn đối thoại để làm sáng chân lý

Cũng bên b ờ giếng Giacóp , Chúa Giêsu tỏ ra kiên nhẫn, bình thản để trao đổi chân lý với một người đàn bà thật đanh đá.

- Người đàn bà này đã không kiêng nể Chúa Giêsu, một nhà truyền đạo mà từ linh hồn đến thân xác đều toát ra chất Đạo, vì Ngài chính là Đạo. Chị ta tuyên chiến ngay từ phát đầu “ông là người Do thái, tôi là người Samari, tại sao ông lại xin tôi nước uống ?”.

Khi Chúa hứa cho nước trường sinh, chị ta bồi ngay một chưởng: “Giếng thì sâu mà ông thì không có gầu múc nước…”

- Khi Chúa bảo chị gọi chồng ra, thì chị né “cú đấm” một cách mau lẹ và hữu hiệu: “Tôi không có chồng”.

- Khi Chúa nói toạc cái đời tư không tốt của chị ra “Chị nói không có chồng là đúng, vì chị đã có năm ông chồng, còn ông này thì không phải là chồng” thì chị vội né rồi đổi chiến thuật để giành thế thượng phong: “Cha ông chúng tôi thờ Chúa trên núi này, còn các ông thì bảo Giêrusalem mới là nơi tôn thờ Chúa (vậy thì ai đúng ai sai?)

- Chúa nói rằng theo truyền thống thì người Do thái đúng, “nhưng từ nay người ta không thờ Chúa ở Garidim, cũng không thờ Chúa ở Giêrusalem, mà sẽ thờ Chúa trong tinh thần và chân lý”, thì chị đuối lý nhưng vẫn cố cho huề điểm giữa Chúa và chị “Khi nào Đấng Cứu Thế đến, Người sẽ dạy chúng ta mọi sự”.

Đức Giêsu đã tranh luận tay đôi với người phụ nữ. Ngài vẫn lắng nghe, trả lời chị trong cuộc trao đổi khá lâu dài. Tuy biết hết lòng chị và thế yếu của chị. Chúa vẫn không “cả vú lấp miệng em”, không lấn lướt, không trấn áp chị và kiên nhẫn xem chị tung chưởng.

Noi gương Chúa, ta kiên trì lắng nghe cả lý lẫn tình của người anh em.

- Lắng nghe lý. Để người đối diện trình bày hết lý lẽ của mình. Trong mọi cuộc đấu lý, ta không nên thắng và cũng không nên thua. Phần thắng là của Chân lý, Thầy của ta.

- Lắng nghe tình. Tình cảm đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của ta. Hầu hết những cuộc trở lại là do yếu tố tình cảm. Pascal đã trở lại sau một cái “xém chết”. Nagai đã trở lại vì ánh mắt của người mẹ trước khi nhắm lại vĩnh viễn. Chinh phục bằng lý luận có thể đem đến hận thù. Chinh phục bằng tình cảm là chinh phục cả tim lẫn óc của đối phương.

5 . Tiếp cận: đi bước trước để đẩy người dè dặt vào hoạt động

Chúa đến với Giakêu (Lc 19,1-10) và biến ông trở thành người lương thiện tuyệt vời. Diễn tiến câu chuyện như sau:

- Giakêu rất mến Chúa nhưng mang mặc cảm tội lỗi không dám đến diện kiến Ngài. Ông trèo lên cây sung để nhìn trộm mặt Chúa.

- Chúa phá tan mặc cảm của ông bằng cách ngỏ ý đến trọ nhà ông.

- Mừng quá đỗi, ông hứa chia một nửa gia tài kếch xù cho người nghèo và sẵn lòng bồi thường những bất công, trong khi xã hội chỉ đòi một thường một.

Từ đó, ta nghiệm ra rằng có nhiều người mang nhiều thứ mặc cảm khác nhau: mặc cảm tội lỗi, mặc cảm nghèo và cô thân cô thế, mặc cảm xấu dạng và ngu dốt… Họ rất ngại tiếp xúc. Họ thu mình lại để sống cô đơn hơn cái cô đơn do hoàn cảnh tạo nên. Từ đó sinh ra hận đời. Với những người này:

- Ta niềm nở chào hỏi họ trước.
- Ta đến với họ hơn là mời họ đến với ta.
- Nhìn họ bằng con mắt chân thành yêu mến.
- Đối xử với họ như bạn ngang hàng.
- Quan niệm rằng trong họ có nhiều ưu điểm nấp sau cái bề mặt khô khan, lãnh đạm, tội lỗi, ngu dốt, nghèo nàn. Những ưu điểm ấy như hạt giống vùi trong cát khô, khi gặp mưa, bãi cát sẽ trở thành vườn cỏ.

6. Tiếp cận sáu: Gây cú “sốc” để dội lại và tiến lên thật xa

Trong sân nhà ông Giairô (Lc 8,51-53) Chúa đã nói với mấy người đàn bà đang khóc rằng “Thôi đừng khóc nữa, em bé không chết đâu. Nó ngủ đấy”. Thế là người ta chế giễu Ngài. Thật là khôi hài khi một vị tôn sư uy tín lẫy lừng mà vì một câu nói “trật giơ” để cho người ta nói vào mặt. Nhưng em bé đã sống lại rồi, thái độ của những người chê Chúa sẽ là gì?

- Họ xấu hổ đến muốn độn thổ. Thấy mặt Chúa đâu là chạy trốn đến đó, nhưng chạy trốn mà vẫn nhìn trộm.
- Họ thương mến Chúa nhiều hơn gấp bội. Đức tin của họ cũng vì thế mà lớn hơn.
- Đi đâu họ cũng nhắc lại biến cố một cách sống động. Họ rao giảng một cách nhiệt thành hơn nhiều.

Dĩ nhiên phải là nhà sư phạm già tay ấn lắm mới tạo được những cú sốc như thế. Người tạo cú sốc này cũng phải có tấm lòng yêu thương lớn lao và chân thành mới lật ngược được thế bí. Làm cho người ta giận, để được yêu thương nhiều hơn. Làm cho người ta chống đối để được ủng hộ nhiều hơn… Đó là những cú sốc đem lại hiệu quả lớn lao nhưng cũng có thể gây thất bại khôn lường.  

7. Tiếp cận bảy: Đến và yêu mến như người ruột thịt ( Ga. 11,1- 44)

Tại Bêta nia có một gia đình mà Gioan nói là Chúa yêu mến: Mátta và Maria; còn Ladarô thì Chúa gọi là bạn, mỗi năm Chúa về miền Nam ba bốn lần vào dịp lễ thì Ngài thường ghé gia đình này. Ngài đã dành cho họ một tình cảm đặc biệt đến độ họ coi Ngài là ruột thịt hơn là khách quí. Họ đối xử thân thiết đến mức độ thiếu cả tế nhị.

- Mátta và Maria đều tỏ ra giận hờn vì Chúa đến quá trễ đến nỗi Ladarô đã chết được 4 ngày rồi. Cả hai chị em đều nói mỉa một câu giống hệt nhau: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đâu có chết”. Khi Ladarô đau nặng họ đã cho người báo tin mà Chúa không tới.

- Khi Chúa nói Ladarô sống lại thì Mátta lại nói một câu hàm ý bất bình “Con biết em con sẽ sống lại vào ngày tận thế”.

- Lc10,38- 42 cũng cho thấy chị em Bêtania sẵn sàng biểu lộ lòng ganh ghét đối với Chúa mà không cần cân nhắc: “Thưa Thầy, Thầy thấy em con để con vất vả một mình mà Thầy không quan tâm sao?” Lẽ ra bà phải tế nhị nói: “Rabbi, xin Thầy cho phép con gặp riêng em con một tí”, rồi chị em muốn xử sự với nhau thế nào tùy ý.

Thái độ của hai chị em này cho ta thấy Chúa rất bình dân, rất thân tình và đối xử với họ như người nhà. Do đó ta có thể kết luận các người truyền giáo cũng phải sẵn sàng đem đến cho những gia đình lương dân tấm lòng quí mến và chân thành như thế. Khách sáo, phép lịch sự quá khuôn thước làm cho hai tâm hồn không hòa hợp được. Lòng yêu thương chân thành và giản dị dù là tình bạn, hay tình đồng bào, hoặc tình yêu nam nữ đều đáng quí như nhau.

Người ta càng cô đơn, càng bị nghi kỵ chừng nào thì người ta càng quí mến tấm chân tình như thế. Từ đó đi đến lòng tín nhiệm và phó thác. Niềm tin chọn được chỗ đứng vững chắc ở cao điểm ấy.  

8. Tiếp cận tám: Khen trước để đến sau (Lc10, 29-37)

Trong khi giảng cho ông Luật sĩ, Đức Giêsu đã đề cao người Samari qua dụ ngôn “Người Samari nhân từ” Chúa đã tung người Samari lên tận trời xanh khi Ngài nói với ông Luật sĩ rằng “Ông hãy về và làm như thế”, làm như thế tức là làm cho người Samari. Dụ ngôn này được giảng trong nước Do thái, nhưng chắc chắn nó đã vang dội khắp xứ Samari. Có thể là mỗi người Samari đều nghe biết về dụ ngôn này và còn thuộc nằm lòng nữa.

Quả thật, sau này khi Hêrôđê và Saolô tàn sát Kitô hữu tại Giêrusalem thì tín đồ của Chúa chạy đến nương thân nơi người Samari. Thay vì ghét bỏ và xua đuổi, người Samari đã giang rộng cánh tay đón tiếp Kitô hữu gốc Do thái. Đạo Chúa đã trở nên thịnh vượng tại Samari.

Saolô biết thế nhưng không dám mò tới. Tại sao người Samari không kỳ thị người Do thái theo đạo Kitô, mà còn đón tiếp và theo đạo ấy nữa? bởi họ đã yêu mến Đức Giêsu qua dụ ngôn người Samari nhân từ.

Sự kiện trên cho ta nhiều bài học:

- Yêu mến người ngoại, đề cao giáo lý và lễ nghi người ngoại là cánh cửa mở rộng để ta đón nhận người ngoại trở lại.

- Đề cao Đức Phật và giáo lý của Ngài; đề cao Đức Khổng và Tứ Thư Ngũ Kinh của Trung Hoa cũng là cánh cửa mở để người lương dân xứ này trở về với Chúa. Cuộc trở lại này biết đâu sẽ chẳng ồ ạt như người Samari ngày xưa trở về Kitô giáo.  

9. Tiếp cận chín: Phá lệ để đến với

Trong cuộc đời truyền giáo Chúa đã phá bỏ nhiều hàng rào ngăn cách để đến với các tâm hồn và để họ ồ ạt đến với Ngài.

- Ngài đến với Matthêu và Giakêu, điều mà luật lệ không cho phép, vì họ là người thu thuế, mà người thu thuế thời đó bị giáng vạ Tuyệt Thông cách ly.

- Chúa đụng đến người cùi và chữa họ, trong khi luật không cho phép đụng đến dù là quần áo, giường chiếu của họ.

- Người Do thái không được vào nhà người ngoại. Thế mà khi được báo cáo về tình trạng đời tư viên sĩ quan Caphanaum cũng như bệnh trạng của đầy tớ ông này, Chúa đến ngay (nhưng Chúa đã bị cản lại).

- Luật Lêvi cấm ăn thịt nhiều giống vật, nhưng Chúa thì không (Mc7,19).

- Vượt qua thói quen và tục lệ, Chúa ngồi bên bờ giếng Giacóp đàm đạo với người phụ nữ Samari.

Và có hành xử như thế, Tin mừng mới được đến với dân ngoại.

Noi gương Chúa Giêsu, Phaolô đã đấu tranh để người ngoại khỏi chịu cắt bì và giữ luật Môsê. Cũng noi gương Chúa Giêsu, Giáo hội đã cho phép người Kitô hữu Việt Nam được thờ cúng ông bà, cho Giáo hội Trung Phi được đem nhạc Zazz vào phụng vụ… Thật ra Giáo hội đã làm đúng, nhưng rất tiếc là quá trễ, khiến cho người Kitô hữu Việt Nam qua bốn thế kỷ không tiếp cận được với đồng bào lương của mình!    

10. Không tiếp cận

Có một số người bị Chúa quyết liệt từ chối gặp gỡ, cụ thể là Hêrôđê. Hêrôđê được nghe biết rất nhiều về lời giảng và việc làm của Chúa. Ông có thiện cảm với Chúa và muốn được gặp Chúa. Sở dĩ có sự kiện này, có lẽ vì triều đình ông có một người thường xuyên gặp Chúa và nghe Chúa. Đó là bà Gioanna vợ viên quản lý của ông là Khusa (Lc 8,1-3). Thế nhưng Chúa đã đối xử với Hêrôđê thế nào?

- Ngài đã gọi ông là con cáo già.

- Philatô chuyển Chúa qua tòa án Hêrôđê, Chúa không mở miệng nói dù là một nửa lời, khiến Hêrôđê nổi giận và trao trả Chúa cho tòa án Philatô.

Thái độ của Chúa cho ta một suy nghĩ: Phải chăng trên đường truyền giáo ta cũng phải loại đi một số người nào đó để khỏi tiếp cận, khỏi đối thoại? Chắc câu hỏi này có thể được đặt ra, còn câu trả lời thì mỗi người tự làm lấy tùy theo hoàn cảnh của mình.

Phần II
Tìm Hiểu Một Số Tôn Giáo Ở Việt Nam

I. Phật Giáo

Sống hòa hợp với người bên cạnh là một nhu cầu của xã hội và Giáo hội hậu Công Đồng Vatican II. Nhưng muốn có sự đoàn kết thật, điều đầu tiên là phải hiểu nhau. Vì thế việc tìm hiểu các tôn giáo bạn là một nhu cầu cấp bách của thời đại. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt nắm những nét chính của mỗi tôn giáo, nhất là những điều giống nhau, vì theo Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII “Người ta có nhiều điều gần nhau hơn là khác biệt”.


Đạo Phật do Đức Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Tên thật của Ngài là Tất-Đạt-Ma. Ngài sinh trưởng trong gia đình hoàng tộc. Cha Ngài là Vua nước Atỳla (miền Trung Ấn Độ). Ngài là một con người thông minh, can đảm, rất giàu tình nhân đạo. Khi lớn lên Ngài lập gia đình với công chúa Du-Da-Đà-La, sinh hạ được một người con trai là hoàng tử La-Hầu-La.

Sau những lần ra khỏi hoàng cung để tìm hiểu nhân tình thế thái, Ngài đã chứng kiến những cảnh sinh linh lão, bệnh, tử, những cái khổ của nhân thế, Ngài quyết định xuất gia tìm đường cứu nhân loại.

Ban đầu Ngài theo phái khổ hạnh, ép xác vì nghĩ rằng con người đã gây nhiều nghiệp chướng nên phải dùng khổ hạnh để có thể giải thoát. Sáu năm trời ăn uống hãm mình ép xác, nhà sư Đạt-Ma chỉ còn một nắm xương tàn tạ. Ngài thấy rằng đường lối tu khổ hạnh không đưa đến giải thoát mà chỉ đi đến chỗ chết. Ngài đi về bờ sông Ni ngồi tịnh niệm dưới gốc cây bồ đề. Sau 49 ngày, Ngài đắc đạo thành Phật.  

A. Giáo ly cơ bản của Đạo Phật
1. Tứ diệu đế:

Tức “chân lý cơ bản của người muốn giải thoát”. Bài này Đức Phật Thích Ca dạy cho chúng sinh tại Mrigavana.

a/ Khổ (vì sanh lão bệnh tử).
b/ Tập (dục vọng là môi truyền giáo của kết quả của nhân duyên. Nói khác đi nguyên nhân của khổ).
c/ Diệt (làm tiêu sự khổ).
d/ Đạo (quét sạch sự khổ).

(Xem Phật Giáo Đại Cương của Giác Uyên trang 31).  

2. Con đường giải thoát là bát chánh đạo.

1/ Chánh kiến: Xem đúng sự thật.
2/ Chánh tư duy: Tư tưởng chân chính, ý ngay lành.
3/ Chánh nghiệp: Viêc làm chánh đáng, ngay thẳng.
4/ Chánh tinh tấn: Tin theo sự thật, không mê tín dị đoan.
5/ Chánh mạng: Biết tự trọng sống đúng nhân phẩm, không trụy lạc
6/ Chánh ngữ: Nói thật, không lừa gạt, vu oan.
7/ Chánh niệm: Lòng suy tưởng điều lành qưên lợi danh, không tham giàu sang.
8/ Chánh định: Suy nghĩ những điều chân chính, xa tránh ác ý, bài trừ những tư tưởng hại người.  

3. Nguồn gốc của nhân sanh

Đạo Phật nhấn mạnh đến học thuyết nhân quả và luật luân hồi: Con người có thể tái sanh nhằm kiếp lành dữ tùy theo cuộc sống của mình. Quá khứ tạo ra kết quả hiện tại, hiện tại lại là nhân cho tương lai. Theo Đức Phật, nguyên nhân sanh ra chúng sanh là thủy khí nhân duyên, gồm những nguyên tố sau:

1/ Vô minh sinh ra hành.
2/ Hành sinh ra sắc.
3/ Sắc sinh ra danh sắc.
4/ Danh sắc sinh ra lục nhập.
5/ Lục nhập sinh ra xúc.
6/ Xúc sinh ra thọ.
7/ Thọ sinh ra ai.
8/ Ai sinh ra thủ.
9/ Thủ sinh ra hữu.
10/ Hữu sinh ra sanh.
11/ Sanh sinh ra tử.
12/ Tử sinh ra đau ốm bệnh tật.

Muốn ra khỏi cơn khổ đau thì phải diệt 12 nguyên nhân đó đi (Xem Phật Giáo Đại cương 110-115).

B. Những điểm gần gũi nhau

Giáo lý Phật giáo còn nhiều điều cao siêu khác, nhưng chúng ta hãy bằng lòng với một số điều kiện cơ bản. Điều cần là khám phá những điều gần gũi nhau.

1. Đời là khổ

Từ quan niệm này, Phật Giáo nhấn mạnh đến lòng từ bi, tới “giác tha”, tới bố thí, tới diệt khổ… cũng vì con người khổ mà Đức Giêsu đã đến giải thoát họ. Ngài chữa bệnh, Ngài dạy đạo lý cho kẻ nghèo, Ngài kết án hỏa ngục cho người giàu có không quan tâm đến Ladarô đói bệnh nằm ngoài cửa. Ngài đồng hóa mình với kẻ nghèo, kẻ khổ… khi Ngài nói: “Mỗi lần các con làm cho những kẻ bé nhỏ này là các con làm cho chính Thầy…”

Cũng vì không quên những người khổ, mà ngày nay Giáo hội nêu lên những đường hướng phục vụ, gắn bó với người nghèo khổ :”Giáo hội của người nghèo…”  

2. Vô minh đẩy con người vào vòng lao lý

Vô minh là lấy cái ảo ảnh làm thực tế, không biết đúng sự thật, sanh ra mê lầm. Đức Giêsu đã tự giới thiệu: “Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống”. Có biết bao người hôm nay vẫn coi thế giới thực tại như vĩnh cửu. Có biết bao người chưa biết chân giá trị của mình là “Con của Thiên Chúa”, “là chủ của vũ trụ vật chất”, “là em Chúa Giêsu”. Có biết bao người chưa biết họ có “Cha ngự trên trời”, có “Thiên đàng lấp đầy khát vọng”. Vì mê lầm nhân loại đi vào những cuộc chạy đua vũ khí, chạy theo dục vọng. Thiết tưởng ta cũng như anh em Phật Tử phải giúp nhân loại có “Chánh tư duy”.

3. Giải thoát kẻ khác

Đức Phật dạy: “Muối biển chỉ có một vị mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là giải thoát” Đạo Phật rất chú tâm tới việc giải thoát nhân loại khỏi tham sân si, khỏi luân hồi, khỏi khổ… Đấng sáng lập đạo ta là “Cứu Chúa Giêsu”. Ngài xuống thế “vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”, Ngài đến để “chúng ta được sống và sống dồi dào”.

Đời còn bao chuyện giải thoát khác, nghèo đói bệnh tật, dốt nát, mất nhân phẩm, chiến tranh… Thiết tưởng người con Chúa cũng cần nỗ lực cộng tác với các anh em khác đem lại cho con người sự giải phóng thật.

II. PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo mới, thành lập từ năm 1939 do Đức Thầy Huỳnh-Phú-Sổ tại làng Hòa Hảo sáng lập. Đạo này bắt nguồn từ đạo Phật nhưng sánh với Tịnh Độ Cư Sĩ thì có nhiều điểm khác nhau như không cúng Phật bằng thịt cá, không dùng vàng mã trai đàn, không thờ hình tượng…

1. Những điều chính yếu trong Phật giáo Hòa Hảo

a. Tứ ân:

- Ân tổ tiên cha mẹ.
- Ân đất nước.
- Ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).
- Ân đồng bào nhân loại.

b. Tam nghiệp chướng:

- Thân nghiệp: Tội lỗi do xác thân gây ra.
- Khẩu nghiệp: Tội lỗi do miệng lưỡi gây ra.
- Ý nghiệp: Tội lỗi do ý hướng gây ra.
- Thân nghiệp sanh 3 điều ác: Sát sanh, đạo tặc, tà dâm.
- Khẩu nghiệp sanh 4 điều ác: Lưỡng thiệt, ý ngôn, ác khẩu, vọng ngữ.
- Ý nghiệp sanh 3 điều ác: tham lam, sân nộ, mê si.

c. Bát chánh đạo:

1. Chánh kiến: Xem đúng sự thật.
2. Chánh tư duy: Tư tưởng chân chính, ý ngay lành.
3. Chánh nghiệp: Việc làm chánh đáng, ngay thẳng.
4. Chánh tinh tấn: tin theo sự thật, không mê tín dị đoan.
5. Chánh mạng: Biết tự trọng, sống đúng nhân phẩm, không trụy lạc.
6. Chánh ngữ: Nói thật, không lừa gạt, vu oan.
7. Chánh niệm: Lòng suy tưởng điều lành, quên lợi danh không tham giàu sang.
8. Chánh định: Suy nghĩ những điều chân chính, xa tránh ác ý, bài trừ những tư tưởng hại người.

Nhìn qua phần giáo lý trên, ta thấy Phật giáo Hòa Hảo dựa vào giáo lý của Phật Giáo. Từ bi, bác ái, luật nhân quả, luật giải thoát là Bát Chánh đạo. Tuy nhiên, cách sống của Phật giáo Hòa Hảo giản đơn hơn và bài trừ dị đoan mê tín như đồng bóng…

2. Kinh sách của Đạo Hòa Hảo.

Ngoài những sách chung về Phật giáo, người tín đồ còn chú trọng nhiều tới việc nghe sấm giảng, để trau dồi trí tuệ, và để trở nên người tốt đẹp. Sấm giảng có 6 cuốn chính:

- Sấm giảng khuyên người đời tu niệm (1939).
- Sấm giảng của người khùng (1939)
- Giác mê tâm hệ (1939)
- Khuyến thiện (1942)
- Những điều cần biết của người tu hiền (1942)

3. Phương thức hành đạo

Nói chung nghi lễ giản đơn nhiều so với Phật giáo Tịnh Độ.

a. Cách cúng Phật : chỉ dùng nước lạnh, bông và nhang.

- Nước: Chỉ sự trong sạch.
- Bông: Chỉ sự thanh khiết.
- Nhang: Để xua đuổi uế khí.  

b. Y phục : Không buộc, chỉ dùng áo màu nâu.  

c. Hành lễ : Mỗi ngày 2 lần:

Sáng: từ 4-6 giờ.

Chiều: từ 16-18 giờ .

Trong thời gian đó, hành lễ lúc nào cũng được, nhưng phải giữ 3 bài nguyện:

- Bài nguyện trước bàn thờ Ông Bà.
- Bài nguyện trước bàn thờ Phật.
- Bài nguyện trước bàn Thông Thiên.  

d. Ngày chay: Mỗi tháng ăn chay 4 ngày vào ngày 14, 15, 29, 30, tháng thiếu thì 29 và 1. Nếu có nhang thì đốt nhang, không có nhang thì nguyện không cũng được.

- Ngày đầu cầu cho Tổ Quốc.
- Ngày thứ hai hiến cho Phật.
- Ngày thứ ba cho đồng bào.
- Ngày thứ bốn cho bản thân.

4. Điều kiện nhập đạo

Muốn vào đạo, người dự tòng cần được hai người giới thiệu với ban trị sự. Sau đó người dự tòng được dẫn giải về thể lệ theo đạo. Người dự tòng được hỏi “có bằng lòng không?”. Sau khi trả lời “bằng lòng” thì lễ trước bàn thờ tổ tiên, báo cáo ngày tháng mình Quy y theo đạo.

Khi muốn thôi đạo, thì báo cáo Ban Trị Sự xoá tên.

5. Chiều hướng đại kết

Tuy đạo Hòa Hảo có nhiều điều tin khác với đạo Công giáo, nhưng cũng có nhiều nhịp cầu gần gũi nhau như: Bài trừ mê tín dị đoan, yêu tổ quốc, yêu đồng bào, báo hiếu tổ tiên, chú tâm tới việc phước thiện, tôn trọng niềm tin của kẻ khác…

III. CAO ĐÀI GIÁO

1. Nguồn gốc đạo:

Theo niềm tin của anh em Cao Đài thì Thượng Đế, Đấng Chí Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ông Trời đã ban cho Việt Nam một đạo là CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ , việc này khởi sự tại Chùa Từ Lâm, Gò Kén, Tây Ninh ngày 18-11-1926.

Cao Đài là chính Thượng Đế, Ông Trời, Ngài đã giáng thế truyền đạo cứu đời lần thứ ba, vì thế mới gọi là Tam Kỳ Phổ Độ. Theo giáo lý của đạo Cao Đài thì “Đạo Cao Đài là đạo lớn hơn hết của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa !”

Đạo này là con đường chính đại quang minh, có một không hai của Đức Chúa Trời đã lập, hay sắc chỉ cho Phật Tiên đến lập nơi thế gian này… Dạy con người tập tánh từ tâm, bỏ quấy về lành, biết yêu thương hòa thuận, giúp đỡ lẫn nhau… Nó đưa thẳng đến Thiên Đường… (xem sách phần Đại Đạo Cao Đài số 2 và 3).

Cao Đài Giáo là một tôn giáo muốn tổng hợp tam giáo Đông Phương Lão-Phật-Khổng và cả đạo Đức Giêsu… Sách phần Cao Đài số 18 ghi lại “Đức Chí Tôn thường ngỏ ý rằng Ngài tổng hợp các chi phái đạo hiện hữu thành một nền tôn giáo đại đồng là phương sách qui tụ mọi chúng sanh về một nhà”. Ba môn đệ đầu tiên của Đức Cao Đài là Cao Huỳnh Cù, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Long, và đêm 21-1-1926 Đức Cao Đài chọn 12 môn đệ đầu tiên.

2. Hệ thống tổ chức của đạo

Đạo được quan niệm như một Hội thánh phần nào giống chi thể nhiệm mầu của Đức Kitô trong Đạo Công Giáo, nghĩa là có yếu tố đầu là chi thể, yếu tố linh thiêng và yếu tố hữu hình. Theo sách phần Cao Đài chính đạo thì Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là hình thức Hội thánh có ba đài:  

a. BÁT QUÁI ĐÀI (Linh hồn của đạo) hay là đầu của Hội thánh Cao Đài: trên có Đức Chí Tôn Đấng Cứu Độ linh hồn chúng sanh, dưới có 3 vị giáo chủ của tam giáo Đông Phương Phật-Khổng- Lão và ngũ chi đại đạo: Phật đạo (Thích ca), Tiên đạo (Lão giáo), Thánh đạo (Khổng giáo).  

B. CửU TRÙNG ĐÀI (xác của đạo) hay là lãnh đạo hữu hình của đạo. Đứng đầu là Giáo Tông và dưới là các chức sắc. Nhiệm vụ Cửu trùng đài là nắm quyền hành pháp của đạo.  

C. HIệP THIÊN ĐÀI (Châu thân của đạo). Trên có hộ pháp chưởng quản, bên tả có thượng sanh, bên hữu có thượng phẩm. Dưới có thập nhị thời quản. Hiệp thiên đài giữ quyền tư pháp và hiến pháp.

3. Một số điểm giáo lý

H. Đức Chí Tôn là Đấng nào?
T. Đức Chí Tôn là Tạo hóa, Đấng sanh hạ chúng ta lại xây dựng kiền khôn thế giới, sanh sản muôn vật cho chúng ta hưởng nhờ. Đấng Chí Tôn lớn hơn Phật, Tiên vì thế mà chúng ta phải kính thờ Ngài trên hết (xem giảng đạo yếu ngôn chương 18, 19).  

H. Đức Giêsu là ai?
T. Ngài là Đấng ngày xưa đã giáng trần, dạy đạo Thánh, dạy 10 điều răn ở bên Thái Tây, đã đau khổ, đã hy sinh tính mạng để cứu nhân sanh khỏi sông mê, bể khổ. Ngày xưa Ngài đã đổ máu cho loài người vì thương yêu, nay Ngài lại đến cứu loài người vì thương yêu.  

H. Phải cầu nguyện với ai?
T. Thầy của các con là ông Thầy “Trời” nên biết một ông thì đủ. Con chỉ cầu nguyện Thầy với danh hiệu Cao Đài thì sẽ có sự cảm ứng chấp thuận (Thánh Ngôn quyển I trang 49)  

H. Người ta chết rồi về đâu?
T. Con người chết rồi thì xác thịt trở về đất, máu huyết trở về nước, hồn trở về trời. Nhưng do lúc sinh tiền, chúng ta tác phước hay tác họa tùy theo mà linh hồn được siêu thăng hay bị đọa.  

H. Tại sao phải lập công lành phúc đức?
T. Về phần xác, người ta phải có cơ nghiệp tiền của để sống thế nào, thì về phần thiêng liêng, người ta cũng phải xây dựng “công quả âm chất” (tức các việc đạo đức làm cách kín đáo) để mang theo về đời sau như vậy.  

H. Các việc lành đó là những việc nào?
T. Có hai phương diện:
a. Thí pháp: dùng lời lành khuyên người, dùng sức giúp người, và dùng tư tưởng tốt giúp người.
b. Thí tài: tức bố thí của cải, gọi là âm chất tức dạy ta làm việc lành “tay phải đừng cho tay trái biết” vì lẽ trời thông suốt.

H. Loài người là ai?
T. Loài người được Đấng Chí Tôn tạo dựng “y như hình ảnh Ngài” và được Ngài yêu tới cùng.  

H. Con người phải sống với nhau làm sao?
T. Thầy chỉ một lòng ước ao cho các con biết thương yêu nhau trong thánh đức của Thầy. Sự yêu thương nhau là chìa khóa mở tam thập lục thiên cực lai thế giới. Ngày nào các con thực hành chủ nghĩa yêu thương là ngày nhơn sanh thoát khổ. Đoàn kết yêu thương nhau đó là luật trời.  

H. 5 điều cấm của đạo là gì? (Ngũ giới )
T. Ngũ giới của đạo là:
1. Không sát sanh.
2. Không biển lận.
3. Không ăn ngon (cữ thịt và rượu).
4. Không sống xa hoa.
5. Không nói lời tội lỗi.  

H. Khi nhập đạo tín đồ thề làm sao?
T. Khi nhập đạo, tín đồ Cao Đài sẽ thề như sau: “Tôi tên… thề rằng: Từ đây chỉ biết một đạo Cao Đài, chẳng đổi lòng đổi dạ, giữ luật lệ Cao Đài, nếu sau này có đổi lòng thì bị thiên chu địa lục”.

Tóm lại, giữa Giáo lý đạo Cao Đài và đạo Công giáo có những điểm tương hợp, nhất là đức ái.

IV. ĐẠO ÔNG BÀ

Trước hết, chữ “Đạo” ở đây chỉ dùng theo thói quen, đạo ông bà thật ra không phải là một tôn giáo. Chẳng có giáo chủ, chẳng có giáo điều, chẳng có hàng tư tế. Đây chỉ là tinh thần gắn bó với tổ tiên, lòng biết ơn lớp người đi trước, sự gắn bó giữa các thế hệ, bảo vệ gia sản chung, cách nhắc nhở nguồn gốc của mỗi người. Vì thế mà mọi người Việt Nam dù có tôn giáo hay không, tôn giáo này hay tôn giáo khác vẫn phụng thờ tổ tiên.

1. Cơ sở sự phụng thờ tổ tiên theo người xưa

a. Chết là thể phách, linh hồn vẫn còn sống.
b. Cây có cội, nước có nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, không có ông bà thì không có cha mẹ, không có cha mẹ thì không có mình.
c. Linh hồn người chết vẫn lẩn quẩn nơi bàn thờ để gần gũi con cháu.
d. Sự tử như sự sinh (Khi sống hiếu thảo với cha mẹ, thì khi các ngài chết, con cái cũng phải thảo hiếu).
e. “Dương sao âm vậy” nghĩa là cõi trần làm sao thì cõi người chết cũng vậy. Có lẽ vì thế mà người lương đốt vàng mã, quần áo nhà cửa…
f. Người sống khi làm việc, sinh sống phải suy nghĩ đắn đo để khỏi làm tủi lòng người khuất bóng.

2. Những dịp cần báo cáo lên gia tiên

- Sanh con, con đầy tháng, đầy năm.
- Con cái đi học, đi thi, thi đậu.
- Dựng vợ gả chồng cho con.
- Thăng chức, được khen thưởng…
- Xây nhà mới.
- Khi gia đình có chuyện buồn, buôn bán thua lỗ, người đi xa, người chết…

3. Của lễ dâng tổ tiên

Nước lạnh, trầu cau, rượu, hoa trái, nhang, xôi, cỗ mặn.  

4. Cách cử hành nghi thức

Bàn thờ đốt đèn nhang, chủ nhà lễ, xá lạy. Sau đó các người khác trong nhà lần lượt xá.

Cách tôn kính tổ tiên của chúng ta chịu ảnh hưởng sâu đậm của người Trung Hoa xưa. Hai cuốn Gia Lễ của Chu Huy, Thọ Mai, Gia Lễ của Hồ Gia Tân có ảnh hưởng sâu xa trong cách biểu lộ chữ hiếu với tổ tiên của người Việt Nam xưa và nay.

Lộng hình tổ tiên được biểu lộ một cách tỉ mỉ qua tang lễ, từ lúc hấp hối cho tới lúc chôn có không biết bao nhiêu nghi thức.

Ngày kỵ giỗ, cách săn sóc phần mộ tổ tiên, nhà thờ tổ… tất cả đều có nghi thức (xem thờ phụng tổ tiên, tín ngưỡng Việt Nam , từ trang 22-27).  

5. Đạo Công giáo với vấn đề tôn kính tổ tiên hôm nay

Có thời người ta chỉ trích rất nhiều về lòng bất hiếu với tổ tiên của người Công giáo Việt Nam . Thú thực chúng ta chẳng bao giờ quên tổ tiên, nhưng thay vì cúng, chúng ta xin lễ, cầu nguyện. Vấn đề cấm không cho giáo dân tham dự lễ cúng ông bà, cha mẹ, quả thật có gây nên sự hiểu lầm. Nhưng ngày 20-10-1964 , Tòa Thánh đã cho phép áp dụng huấn thị Plane Compertum Est ở Việt Nam . Huấn thị này cho phép người Trung Hoa được phép tham dự các nghi lễ ông bà, lễ Đức Khổng, lễ anh hùng dân tộc…

Ngày 14-6-1965 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã cho phép giáo dân tham dự những nghi lễ tỏ lòng hiếu thảo với người quá cố, với tổ tiên, như vái lạy, lập bàn thờ tổ tiên, dùng nhang… một cách chủ động (Xem Phụ lục).

Huấn thị cũng cho phép vái lạy thi hài người quá cố, đốt hương theo phong tục địa phương.

Giáo dân được tham dự các nghi lễ kính các vị có công với đất nước, các vị thành hoàng.

Dĩ nhiên tránh những gì mê tín rõ ràng như đốt vàng mã…

Nói tóm lại, người Việt kính tổ tiên vì chữ hiếu, vì lòng biết ơn sinh thành, dưỡng dục của người đã sinh ra mình. Đạo hiếu này tạo ra tình yêu nước, yêu đồng bào, người có đạo cần làm cho kẻ khác hiểu sự quí mến tổ tiên của mình, lòng trọng kính nhớ ơn cha mẹ, lòng yêu đất nước cụ thể của mình. Dĩ nhiên chúng ta không làm những gì rõ ràng mê tín và chúng ta không thể bỏ việc cầu nguyện, xin lễ cho ông bà, nhất là những dịp giỗ, tết.  

V. ĐẠO TIN LÀNH

Đạo Tin Lành là một nhánh trong gia đình Thiên Chúa Giáo, bao gồm Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo, Tin Lành, Đạo Tin Lành xuất phát từ phong trào canh tân tôn giáo ở thế kỷ XVI, là Luther (Đức) và Calvin (Thụy Sĩ). Lúc đầu thực ra Ngài Luther cũng chẳng có ý tách rời khỏi Giáo hội Rôma, mà chỉ yêu cầu Giáo hội sửa đổi một số điểm mà những nhà cải cách cho là không đúng giáo lý của Chúa. Nhưng vì lúc đó tinh thần đối thoại chưa có, và nhất là quyền lợi của các ông hoàng ở Đức, nên cuối cùng sự chia ly không ai muốn đã xảy ra nơi những người tin Chúa.

1. Một số điểm giáo lý cơ bản của đạo Tin Lành:

a. Sola fide (Duy đức tin: Duy có đức tin làm cho con người được cứu độ. Đức tin là sự gặp gỡ cá nhân với Đức Giêsu lịch sử trong Lời hằng sống của Chúa. Tuyên xưng đức tin này tự nó đã là nguồn suối cứu độ.
b. Sola Gratia (Duy ân sủng):
Bản thân tín đồ cũng như mọi người là tội lỗi, hư hỏng, không có khả năng cộng tác vào ơn cứu độ. Sau khi rửa tội, họ vẫn là tội lỗi, đồng thời được công chính hóa nhờ ơn Chúa.
c. Sola Scriptura (Duy Thánh Kinh):
Đức tin của Đạo Tin Lành chỉ dựa vào nền tảng độc nhất là Thánh Kinh. Lời Chúa tự giải thích cho chính mình, không có quyền huấn giáo bất khả ngộ của giáo quyền, không chấp nhận Thánh Truyền.
d. Không chấp nhận Giáo hội cơ cấu
. Theo ngài Luther, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, là Chúa chớ không phải là nhà lập pháp, vì thế Chúa Giêsu không có lập Giáo hội như một “xã hội hoàn hảo” trong đó có quyền lập pháp và quyền bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng.
e. Giáo hội Tin Lành chỉ nhận có hai Bí tích: Rửa tội và Tạ ơn (Thánh Thể).
f. Chúa Giêsu chỉ hiện diện nhờ Thánh Linh trong Lời Chúa và trong Bí tích. Đạo Tin Lành nhấn mạnh đặc biệt đến Lời Chúa, vì thế việc giảng Lời Chúa là trung tâm của phượng tự.
g. Sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo hội được nhìn dưới khía cạnh đau khổ, mầu nhiệm thập giá cứu độ, hơn là dưới khía cạnh vinh quang.
h. Về Thánh Kinh Cựu Ước, Giáo hội Tin Lành theo thư mục người Do thái xưa, vì thế Thánh Kinh Tin Lành thường không in một số quyển, hoặc in ở phía sau như cuốn Judith chẳng hạn… Còn Tân Ước thì giống bên Công giáo.

Ngoài những khác biệt trên, phần lớn những chân lý chứa đựng trong kinh Tin Kính thì bên Tin Lành và bên Công giáo vẫn giống nhau, như mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai xuống thế làm người…

2. Hội thánh Tin Lành ở Việt Nam .

Năm 1887, mục sư A.H. Sinipsou đã nghĩ tới truyền giáo ở Việt Nam . Mùa hè 1893, mục sư David Lelachair đến Sài Gòn, và một số mục sư đã ghé thăm miền Bắc và miền Nam . Nhưng mãi năm 1911 những cơ sở đầu tiên của Tin Lành mới hoạt động trong các phần đất nhượng địa của Pháp, và kể từ 1920 đạo Tin Lành đã gởi giáo sĩ đi truyền đạo trên khắp miền đất nước chúng ta.  

3. Giáo hội Công giáo với anh em Tin Lành

Công đồng Vatican II trong Hiến Chế về Hội Thánh đã nói lên những gần gũi giữa hai tôn giáo: “Với những kẻ đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy, mang danh hiệu Kitô hữu, nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn, hoặc không hiệp thông với Đấng kế vị thánh Phêrô, Giáo hội vẫn biết mình có liên hệ với họ vì nhiều lý do. Thực vậy, có nhiều người cung kính lấy Thánh Kinh làm mẫu mực cho lòng tin và đời sống, giữ đạo cách nhiệt thành, thành thực, hết lòng tôn kính Chúa Cha toàn năng, và Chúa Kitô Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa… Họ cũng hiệp thông trong lời cầu nguyện và các việc lành thiêng liêng khác. Hơn nữa, họ thực sự kết hợp trong Chúa Thánh Thần, Đấng cũng dùng ân huệ và Thánh sủng tác động trong họ, nhờ thần lực thánh hóa của Ngài, và đã củng cố một số người trong họ đi đến chỗ đổ máu tử đạo. Vì thế Thánh Thần thúc giục hết thảy các môn đệ Chúa… hiệp nhất trong một đoàn chiên, dưới quyền một chủ chăn duy nhất” (GH số 15).

Thực tế sau Công Đồng Vatican II anh em Kitô giáo thuộc nhiều hệ phái đã hợp tác trong công tác dịch Thánh Kinh chung, hợp tác công tác xã hội, và hằng năm mỗi dịp tuần hiệp nhất về, đã cầu nguyện với nhau, và cầu cho lời cầu của Chúa Cứu Thế được thực hiện “Lạy Cha, xin cho chúng hiệp nhất với nhau như Cha Con ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con”.

Sự chia ly trong quá khứ là lỗi lầm cả từ hai phía. Hãy thứ tha cho nhau và hợp tác với nhau dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

VI. HỒI GIÁO

Hồi giáo là một tôn giáo lớn, có ảnh hưởng rất nhiều tại vùng Trung Đông và trong khối Ả Rập. Tại Châu Á đạo Hồi cũng trên 100 triệu tín đồ. Với đà tiến hiện nay, vào năm 2000 số tín đồ Hồi giáo sẽ bằng số tín đồ Công giáo.  

1. Đôi dòng lịch sử của Hồi giáo

Hồi giáo được hình thành vào khoảng năm 610 sau Chúa Giáng Sinh, tại thành Mecca, do vị giáo chủ Mahhômét sáng lập. Vị giáo chủ này tự xưng là tiên tri của Chúa Allah (tức Thượng Đế), ông được ơn mạc khải và sai đi cải cách tôn giáo và xã hội.

2. Niềm tin của Hồi giáo

Hồi giáo là một tôn giáo Độc thần, thờ Đấng Allah duy nhất và quyền năng.
Hồi giáo tin có thần lành, thần dữ.
Hồi giáo tin tưởng ở lời dạy của các tiên tri của Chúa như Abraham, Môsê, Đức Giêsu và Mahômét là tiên tri cao cả nhất.
Những ai thành kính tuyên xưng Đức Thượng Đế Allah và Mahômét là tiên tri của Ngài thì trở thành tín đồ Hồi giáo và được bảo đảm về Thiên Đàng.  

3. Kinh sách của Hồi giáo

a. Kinh Coran: Có thể nói đây là Thánh Kinh của đạo Hồi. Người ta tin đây là những lời Chúa mạc khải cho nhà tiên tri Mahômét. Sách này do các đệ tử của nhà tiên tri sao chép lại và sắp xếp cho có thứ tự.  

b. Sách Sunna: Đây là sách dạy cách xử thế ở đời, căn cứ theo gương Thầy Mahômét mà chép ra.

Nhưng chi tiết này do các thân nhân của các nhà truyền đạo Hồi Giáo sắp xếp lại và ghi chú.

Nếu kinh Coran là giáo lý của Đức Mahômét, thì Sunna là cách Đức Mahômét sống.  

c. Sách HADITH: Sách này ghi lại các lời nói, cử chỉ, hành động của giáo chủ Mahômét mà Coran và Sunna chưa nói tới, cùng với các lời nói, hành động của các bạn ông hoặc của các giáo trưởng kế tiếp, với mục đích dùng làm kim chỉ nam cho hậu thế.

Vì việc giải thích kinh sách chưa thống nhất nên Hồi giáo chia thành nhiều chi phái khác nhau.

4. Đạo Hồi ở Việt Nam .

Hiện nay tín đồ Hồi giáo tập trung ở miền Phan Thiết, Phan Rang, nơi người Việt gốc Chàm và một số ở tỉnh An Giang, giáp ranh với Căm-bốt.  

5. Những việc đạo đức của Hồi giáo.

a. Cầu nguyện. Mỗi ngày 5 lần, người tín đồ hướng về Mecca cầu nguyện vào những thời khắc cố định:

- Rạng đông
- Buổi trưa
- Sau trưa
- Khi mặt trời lặn
- Tối

Ngày thứ sáu hằng tuần, tín đồ hội họp nhau ở nhà thờ để cầu nguyện và nghe giảng.

b. Bố thí. Mỗi tín đồ phải dùng một phần lợi tức cho việc bảo trì thánh đường và sự giúp đỡ người nghèo.

c. Ăn chay . Trong thánh Ramadan (tháng 9 âm lịch của đạo Hồi) các tín đồ bắt đầu ăn chay từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn. Họ không ăn uống, hút thuốc vào lúc này. Khi chiều xuống họ cầu nguyện, hát thánh ca rồi ăn uống.

d. Hành hương. Mỗi tín đồ phải hành hương về Mecca thánh địa, ít nhất một lần trong đời. Ngoài ra họ còn cắt bì, cữ rượu, cữ thịt heo, và không cờ bạc…  

6. Công giáo và Hồi giáo

Mặc dù những xích mích xa xưa, ngày nay Giáo Hội cũng cố gắng tạo tương quan với Hồi giáo. Giáo Hội cũng công nhận các giá trị của Hồi giáo như thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất, hằng sống, hằng hữu, từ bi và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất… lòng trọng kính Đức Maria, sự trông đợi ngày Chúa phán xét thưởng phạt mọi người, nhất là nhờ việc cầu nguyện, bố thí, ăn chay.

Thánh Công Đồng mong mọi người bỏ quên quá khứ để bắt tay vào việc tìm hiểu nhau, cùng nhau bảo vệ công bình xã hội, thuần phong mỹ tục, gìn giữ hòa bình và bảo vệ tự do cho mọi người”.

(Xem Nostra Aetate sô 3 của Công Đồng Vatican II).

Phần III
Giải Đáp Vấn Nạn

I. Những vấn nạn về tôn giáo nói chung

1. H. Có Thượng Đế (Thiên Chúa) không? Làm sao biết được Ngài?
Đ. Thiên Chúa là một thực tại khách quan, chúng ta nhìn nhận hay phủ nhận Ngài thì Ngài vẫn hiện hữu, vẫn tồn tại. Nhưng Thiên Chúa thiêng liêng vô hình, giác quan chúng ta không thể tiếp nhận. Chúng ta chỉ có thể biết Thiên Chúa bằng hai cách: bằng mạc khải và bằng suy luận.

Bằng mạc khải: Thiên Chúa đã tỏ mình cho chúng ta qua các tổ phụ đặc biệt là ông Abraham và Môsê tiếp theo là qua các ngôn sứ (tiên tri) và cuối cùng là do chính Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô..

Bằng suy luận: Trong thế giới vật chất có nhiều thực tại mà mắt ta không thấy như như làn sóng điện, gió… nhưng thấy những công hiệu của nó thì chúng ta phải tin là có; ngay trong con người chúng ta có những thực tại vô hình như trí tuệ, tình yêu, mặc dù không thấy nhưng nhờ những hiệu quả của nó mà chúng ta phải công nhận là có.

“Phi nguyên nhân bất thành hiệu quả”. Đã có vũ trụ vạn vật thì phải có nguyên nhân tác thành ra nó. Nguyên nhân đó là Thiên Chúa.

Mặt khác, nhìn vào vũ trụ, chúng ta thấy có một trật tự hầu như hoàn hảo. Đó không thể là kết quả của ngẫu nhiên, nhưng phải do một nguyên nhân nào điều khiển, nguyên nhân điều hành ấy là Thiên Chúa.

Đ. Tất cả những Danh xưng trên đây đều chỉ về một vị bởi vì tất cả những thực tại hiện hữu trong vũ trụ hoặc trên hành tinh của

2. H. Ông Trời, Chúa, Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Chí Tôn, Đấng Tối Cao, Tạo Hoá… Những Danh xưng ấy chỉ là một hay nhiều vị? Tại sao lại gọi thế?

chúng ta đều chỉ do một nguyên nhân tác thành mà thôi. Người chưa hiểu biết đạo Thiên Chúa thì gọi là Ông Trời, chẳng hạn như “Trời sanh voi, Trời sanh cỏ”, “Ngẫm thay muôn sự tại trời”. “Lạy Trời mưa xuống”. Người đã tin Thiên Chúa thì gọi là Thiên Chúa hoặc gọi tắt là Chúa. Chữ Chúa và chữ Chủ (chữ Hán) cũng là một, gọi là Thiên Chúa để tuyên xưng Ngài là Chủ trời đất và mọi vật trên trời dưới đất; gọi là Thượng Đế để chỉ Thiên Chúa là ông Vua hoặc vị thần cao nhất; gọi là Đấng Chí Tôn để chỉ Thiên Chúa là Đấng đáng kính trọng vô cùng; gọi là Đấng Tối Cao để tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng cao nhất, cao tuyệt đối; gọi là Đấng Tạo Hóa để nhấn mạnh Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng trời đất muôn vật.  

3. H. Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ làm cho tín đồ mất hết nhuệ khí?

Đ. Ở đây không nói đến các tôn giáo khác nhưng chỉ nói về đạo Thiên Chúa mà thôi. Chúng ta có thể khẳng định đạo Thiên Chúa không phải là thuốc phiện ru ngủ bởi vì nếu đạo Thiên Chúa là thuốc phiện thì chỉ ru ngủ được những người ngu dốt ít học mà thôi. Nhưng thực tế, chúng ta thấy trong thành phần những người tôn thờ Thiên Chúa có rất nhiều người trí thức, nhiều nhà bác học; đúng như nhà bác học Pasteur đã nói “Ít khoa học đưa người ta xa Thiên Chúa, nhiều khoa học đem người ta lại gần Ngài”. Nếu đạo Thiên Chúa là thuốc phiện thì chỉ ru ngủ được những dân tộc chậm tiến lạc hậu, nhưng thực tế những dân tộc văn minh nhất đều có đạo Thiên Chúa. Chính đạo Thiên Chúa đã đóng góp rất nhiều trong việc xây dựng nền văn minh của thế giới ngày nay. Đạo Thiên Chúa không làm cho người ta ra u mê bạc nhược. Trái lại, nó thể phủ nhận những nguyên tắc, những trách nhiệm đó để sống tự do thoải mái. Một xã hội chỉ gồm toàn những người chủ trương sống tự do phóng túng (vô luật lệ) thì xã hội đó sẽ trở thành xã hội loài vật, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, chớ không còn phải là làm cho người ta sáng suốt suy luận và hăng say hoạt động.  

4. H. Người ta ai cũng muốn tự do thoải mái, vậy đi đạo làm gì cho mệt vì phải giữ quá nhiều luật lệ?

Đ. Dĩ nhiên sống ở đời, ai cũng muốn được tự do thoải mái, nhưng không phải vì thế mà mình muốn làm gì thì làm. Đối với chính bản thân, mình cũng cần có những nguyên tắc phải tuân thủ để bảo vệ và phát triển sự sống; trong quan hệ với tha nhân (gia đình và xã hội) mình có những bổn phận, những trách nhiệm phải chu toàn. Một người muốn sống cho ra sống thì không một xã hội loài người. Đạo Thiên Chúa qui định những luật lệ đối với bản thân, gia đình, xã hội và tổ quốc là để giúp cho mọi người được sống an vui hạnh phúc. Ngoài ra, chúng ta còn có bổn phận tôn thờ Thiên Chúa, nên mỗi ngày bỏ ra 10 phút, mỗi tuần bỏ ra một tiếng đồng hồ để thờ phượng Thiên Chúa và cứu rỗi linh hồn thì đâu có gì là quá đáng, là mất tự do!  

5. H. Làm gì có linh hồn, chết là hết thôi.

Đ. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa phán: “Ta hãy tạo nên một loài giống hình ảnh Ta”. Và Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người có một phần là vật chất và một phần là tinh thần. Phần vật chất là thân xác giống như con vật, phần tinh thần là linh hồn giống như Thiên Chúa. Chính vì thế mà người xưa đã nói “Duy nhân ư vạn vật chi linh” (chỉ có con người là linh thiêng cao quí hơn muôn vật). Triết học Tây Phương thì nói: “Con người là một con vật biết lý luận”.

Con người và con vật khác nhau về bản tính chứ không phải về cấp bậc, bởi vì con người có trí khôn thông minh, có tư tưởng. Do đó, con người có óc sáng tạo, có sáng kiến, có ý chí nên con người luôn luôn tiến bộ chứ không phải chỉ làm theo bản năng tự nhiên, như con ong con kiến, cũng không phải chỉ làm theo quán tính như con chó, con khỉ.

Con người có tự do, biết điều hay lẽ phải nên có tôn giáo, có luân lý. Nếu chết là hết thì ở đời này công bình là dại và bác ái là khờ. Nếu chết là hết thì người ta cứ ăn gian nói dối, cứ việc gian manh lừa đảo, cứ việc cướp của giết người, cứ việc tham nhũng thối nát, cứ việc sản xuất hàng giả v.v… miễn là qua mặt được pháp luật. Thế nhưng, con người có lương tri không thể nào làm như thế và xã hội cũng không cho phép con người làm như thế. Vì vậy, xã hội và con người có một định mệnh vĩnh cửu.  

6. H. Không cần theo đạo nào hết, chỉ cần sống theo lương tâm thôi, được không?

Đ. Xin phân biệt hai trườhg hợp, một người có một lương tâm bệnh hoạn và một người có lương tâm bình thường.

1. Đối với người có lương tâm bệnh hoạn, nếu chỉ sống theo lương tâm mà thôi, người đó sẽ làm rất nhiều điều sai quấy, gây hại cho người khác và cũng gây hại cho chính mình nữa. Thí dụ người đó cứ bình thản ăn cắp của công hoài, công ích bị thiệt hại, và có thể một ngày nào đó người ấy bị bắt bỏ tù.

2. Đối với người có lương tâm bình thường thì sống theo lương tâm mà thôi cũng được, nhưng chưa đủ, vì hai lý do sau:

- Lương tâm chỉ hướng dẫn ta về những điều tự nhiên thôi chứ không biết hướng dẫn ta về những điều siêu nhiên (cao hơn lẽ tự nhiên). Thí dụ lương tâm hướng dẫn ta sống công bình đừng xâm phạm tiền bạc của cải người khác, vợ chồng chung thủy với nhau không được ngoại tình v.v… Trường hợp một thanh niên giàu có nhưng đem hết tài sản phân phát cho người nghèo, rồi đi tu sống độc thân, thì thanh niên này phải được hướng dẫn bởi một lý tưởng khác cao hơn lương tâm, đó là tôn giáo.

-Ngoài ra cho dù có sự hướng dẫn của lương tâm, nhưng chưa chắc chúng ta chịu làm theo tiếng lương tâm, hoặc cũng muốn làm theo nhưng làm không được, như kinh nghiệm của Phaolô, vị thánh Công Giáo “Điều tốt tôi muốn làm nhưng tôi không làm, điều xấu tôi không muốn làm nhưng tôi lại làm”. Để có thể làm điều tốt mà lương tâm dạy, và tránh điều xấu mà lương tâm ngăn cản, còn cần phải được trợ lực bởi ơn trên nữa. Người Công giáo nhận được những ơn trên khi cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích.

Tóm lại, chỉ sống theo lương tâm thôi chưa đủ, còn phải có tôn giáo nữa, vì:

* Tôn giáo giúp sửa chữa những sai lầm của những lương tâm bệnh hoạn.

* Tôn giáo hướng dẫn người ta sống cao hơn lẽ tự nhiên bình thường.

* Tôn giáo giúp người ta nhận được sự trợ lực của ơn trên để có thể làm theo những hướng dẫn tốt của lương tâm.  

7. H. Tôn giáo thường dành cho những bậc vong niên nhàn tản, còn thanh niên thì chưa cần, còn phải lo xây dựng cơ đồ.

Đ. Trong lời phát biểu của Bạn, tôi thấy Bạn cho rằng tôn giáo chỉ là một việc phụ chưa cần làm vội, việc chính phải làm là lo tạo dựng một sự nghiệp, khi nào tạo dựng xong sự nghiệp ấy và đến lúc tuổi già mới lo tới việc tôn giáo.

Thực ra, tôn giáo không phải là việc phụ, nó chính là sự nghiệp; và còn hơn sự nghiệp nữa. Nó là hướng đi của cuộc đời. Bởi thế, đừng chờ tới tuổi già mới lo tìm hướng đi tôn giáo, bạn tìm được hướng đi tôn giáo sớm chừng nào thì đời bạn sẽ tốt chừng ấy.

Nói thế không có nghĩa chỉ những người có tôn giáo mới có một hướng đi cho đời mình. Nhiều người không có tôn giáo cũng có một hướng đi và hướng ấy cũng nhắm tới sự tốt, sự lành. Nhưng vấn đề mà tôi muốn bạn suy nghĩ thêm là khi đã vạch được một hướng đi rồi, làm thế nào để đi đúng hướng hầu đạt được mục đích mình nhắm.

Có hướng rồi, nhưng muốn tới đích thì còn cần phải có người đồng hành, phải có nhiều phương tiện. Nếu bạn có tôn giáo, bạn sẽ có những người hướng dẫn rất tốt là các bạn đồng đạo, có những phương tiện tốt là các Bí tích.

Thay vì đi một mình và đi tay không, tại sao Bạn không cùng đi với những người hướng dẫn, những người bạn đường và những phương tiện tốt như vậy?

Đạo Công giáo là một hướng đi cho cuộc đời, là người đồng hành với ta trong con đường ấy. Và hơn nữa, đạo Công giáo còn là một mối tình.

Thà bạn là một kẻ lạc loài không biết Cha bạn là ai, bạn có lang thang đầu đường xó chợ thế nào cũng cam. Nhưng khi bạn đã nhìn được Cha mình, không thể nào bạn nói với Cha rằng: “Hãy khoan, đợi đấy. Bây giờ con còn phải lo xây dựng cơ đồ. Đợi tới khi con già rồi con mới trở về với Cha”.

A. Về tổng quát đạo Công giáo

8. H. Đạo Thiên Chúa hay còn gọi là Công giáo, là Kitô giáo, ai đã lập ra và nhằm mục đích gì?

Đ. Đạo Thiên Chúa là đạo tôn thờ Thiên Chúa. Người có đạo Thiên Chúa là người tin và thờ một Thiên Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ cùng muôn loài trong đó.

Công giáo là Đạo chung của mọi người. Bất cứ ai dù thuộc màu da hay nước tóc nào, dù ở chân trời góc biển nào, đều có quyền tin theo đạo này.

Kitô giáo là Đạo thờ Chúa Giêsu Kitô, Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, tin thờ Ngài cũng là tin thờ Thiên Chúa.

Sở dĩ gọi là Đạo Thiên Chúa, vì Đạo này phát xuất từ Thiên Chúa như người ta thường nói “Đạo xuất ư Thiên” (đạo từ Trời mà ra). Như thế tức là chính Thiên Chúa đã lập và đã truyền Đạo cho loài người. Và đây là cách Ngài làm:

Trước hết, Thiên Chúa ban cho con người một đạo tự nhiên nghĩa là con người từ sinh ra đã có tâm đạo: tin vào một Đấng cao cả và biết ăn ngay ở lành đối với đồng loại. Rồi khi tới thời điểm đã định, Thiên Chúa đích thân dạy đạo của Ngài qua hai thời kỳ:  

a.Thời kỳ đầu từ thế kỷ XVIII trước công nguyên: Thiên Chúa tuyển chọn một người tên là Abraham, làm Tổ phụ một dân tộc gọi là Do thái. Suốt 1800 năm, Ngài đã hướng dẫn dân tộc này mọi mặt, đã dạy họ biết và tôn thờ Thiên Chúa duy nhất và cao cả.  

b. Thời kỳ kế tiếp , từ đầu Công nguyên, chính Thiên Chúa đã nhập thể làm người, lấy danh hiệu là Giêsu (nghĩa là Cứu Thế) Ngài đã đích thân dạy đạo Thiên Chúa cho loài người một cách hoàn hảo bằng lời giảng và đời sống. Ngài đã thành lập Giáo hội để mãi mãi tiếp tục công việc truyền đạo của Ngài.

Thiên Chúa lập và truyền đạo của Ngài cho loài người nhằm hai mục đích:

a. Để con người nhận biết Thiên Chúa là Chúa và là Cha của mình mà cư xử với Ngài cho phải đạo làm người và làm con. Là Chúa, Ngài đã tạo dựng mọi loài mọi vật và ban cho con người. Là Cha vì Ngài yêu thương chăm sóc loài người hơn cả cha mẹ trần gian đối với con cái họ sinh ra. Chính nhờ Đạo, con người mới ý thức được điều đó và mới chu toàn được nghĩa vụ thảo hiếu của loài thụ tạo đối với Tạo Hóa và của con cái đối với Cha trên trời.

b. Để con người, một khi tin nhận Thiên Chúa là Cha thì sẽ coi nhau như anh em mà hết lòng yêu thương đùm bọc nhau, đoàn kết mà xây dựng thành đạt xã hội tốt đẹp, trong đó mọi người cùng hưởng an vui, hạnh phúc.  

9. H. Đạo Công giáo là đạo Tây, người Á Đông nên theo đạo Á Đông có phải hay hơn không?

Đ. Để trả lời, chúng tôi xin lưu ý hai điểm sau đây:

a. Đạo Công giáo không xuất phát từ Phương Tây, nhưng từ một xứ ở miền Trung Đông, thuộc Á Đông. Đó là xứ Do thái. Vì đó, đạo Công giáo là đạo Á Đông, chớ không phải là đạo Tây.

Nhưng do hoàn cảnh, đạo Công giáo phát triển mạnh về hướng Tây. Sau đó, những người đã tin đạo Công giáo ở Phương Tây đến giảng đạo cho các nước khác ở Châu Mỹ, Châu Á, trong đó có Việt Nam chúng ta.

b. Người Việt Nam chúng ta cũng đã không câu nệ tiếp nhận đạo Khổng từ Trung Quốc, đạo Phật từ Ấn Độ, vì những đạo ấy giúp chúng ta sống tốt.

Do đó cũng không câu nệ tiếp nhận đạo Công giáo, dù từ đâu tới, vì nhận thấy đạo ấy đem đến cho ta ánh sáng chân lý về Chúa, và vận mạng con người, và về vũ trụ và giúp ta đạt hạnh phúc mà ta mong ước.

Chân lý, tình yêu và hạnh phúc không dành riêng cho ai, cho một xứ, một miền nào, nhưng mở rộng cho tất cả mọi người thiện chí trên địa cầu này.  

10. H. Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, vậy cần gì phải theo đạo Công giáo?

Đ. Đồng ý mọi tôn giáo đều dạy ăn ngay ở lành. Không những tôn giáo dạy như thế mà cả những người không tôn giáo cũng dạy như vậy. Cha mẹ và nhà giáo vô thần cũng dạy con cái và học trò sống tốt lành.

Nhưng ăn ngay ở lành không phải là mục đích của các tôn giáo. Tôn giáo coi việc sống tốt chỉ là phương tiện để đạt tới mục đích siêu việt ở cõi thế giới bên kia.

Đạo Công giáo và các Kitô giáo dạy ta không những phải ăn ngay ở lành mà còn phải coi những việc tốt ấy như phương tiện để tỏ lòng hiếu thảo với Thiên Chúa như là Cha đồng thời phải nhìn nhận Đức Giêsu là biểu thị rõ rệt nhất thánh ý của Thiên Chúa, để nhờ đó mà khi chết rồi ta được về với Chúa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.

Một đứa con chỉ biết sống lương thiện mà không biết gì đến cha mẹ là Đấng sinh thành thì chưa phải là con có hiếu. Người ta chỉ lo có một tôn giáo để sống theo điều lành do tôn giáo ấy dạy mà chưa nhìn ra và thờ Chúa như Cha thì chưa đủ được.  

11. H. Phẩm chức trong Giáo hội Công giáo thế nào? Ai đã đặt ra và để làm gì?

Đ. Theo Kinh Thánh thì:

a. Chúa đã chọn ra trong số hằng trăm đệ tử 12 ông gọi là Tông đồ, đó là những người sẽ nối tiếp sự nghiệp của Chúa ở trần gian (Lc 2,2-16 ; Mt 10,1-4 ; Mc 3,13-19).

Các Giám Muc trên thế giới chính là những người thừa kế 12 Tông đồ để lãnh đạo cộng đồng tín hữu trên khắp thế giới.

b. Trong 12 Tông đồ Chúa đặc biệt lưu ý đến ông Phêrô.

- Trước hết Chúa đổi tên ông từ Simon sang Phêrô. Trong Thánh Kinh khi một người được Chúa đặt tên hoặc đổi tên là hàm ý trao sứ mạnh quan trọng.

- Phêrô trong tiếng Do thái là Kêpha có nghĩa là Đá tảng. Chính cái tên ấy đã hàm ý Chúa muốn ông là nền tảng của Giáo hội (Ga1,42).

- Chúa đã công khai ra lệnh ông lãnh đạo Giáo hội của Chúa khi Chúa phán với ông: “Hãy chăn đoàn chiên của Ta” (Ga 21,15-17).

Ngày nay Đức Giáo Hoàng là người thừa kế Phêrô, lãnh đạo đoàn chiên Chúa rải rác trên khắp thế giới. Ngài cũng là Giám mục như mọi Giám mục, nhưng một Giám mục niên trưởng chịu trách nhiệm trên mọi Giám mục.

Theo cái nhìn cụ thể thì cơ cấu hành chánh của Giáo hội được tổ chức như sau:

a. Đức Giáo Hoàng (có các chuyên viên của Ngài ở Vatican ) lãnh đạo tín đồ Công giáo trên toàn thế giới.

b. Kế đó là các Tổng Giám Mục và Giám Mục lãnh đạo từng đơn vị gọi là giáo phận. Ví dụ: Giáo phận Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long… Mỗi Giám mục là người thừa kế của các Tông đồ có đủ thẩm quyền lãnh đạo trên các tín đồ của mình.

Quyền lãnh đạo của Linh mục, là đại diện của Giám mục, lãnh đạo các đơn vị nhỏ hơn Giáo phận, đó là giáo xứ cũng gọi là Họ Đạo. Giám mục có quyền phong chức và bổ nhiệm Linh mục.

c. Người ta còn thấy có chức Hồng Y. Chức này không có trong Thánh Kinh. Hồng Y chỉ là tước vị danh dự Đức Giáo Hoàng trao ban cho các Giám mục xuất sắc vì tài đức hoặc vì trách vụ quan trọng. Theo giáo luật hiện hành, Hồng Y có quyền làm ứng cử viên và cử tri trong các cuộc bầu cử Giáo Hoàng.

Hàng giáo phẩm và giáo sĩ trên đây được gọi là các bậc chủ chăn. Với các vị này Công Đồng Vatican II nhắc nhủ: “… Các Ngài chỉ dùng quyền bính để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và thánh thiện, đồng thời tâm niệm rằng: “Kẻ cao trọng hãy nên như kẻ rốt hết, người làm lớn hãy nên như tôi tớ” (CĐ. Vat. II. Hc. Tín lý số 27).  

12. H. Hiện tình Công giáo toàn cầu và riêng tại Việt Nam ra sao?

Đ. 1. Về dân số (thống kê 1988)

* Các Kitô giáo: 1.729.000.000:

* Công giáo: 902.000.000

Theo thống kê trên, tín đồ Công Giáo của Trung Quốc, Việt Nam , Lào, Cambốt và An-ba-ni la thiểu số . Vậy ta có thể lấy con số tròn tín đồ Công giáo là 1 tỉ: số tín đồ Kitô giáo là gần 2 tỉ, trong đó kể cả Chính Thống giáo.

Tại Việt Nam, Giáo hội chưa có bản thống kê chính xác, vì số giáo dân đi làm ăn tản mác tại các khu kinh tế mới, chưa thành họ đạo, thì không nắm được. Nhưng số tín đồ Công Giáo Việt Nam được ước đoán là 5 triệu. Như vậy tỉ lệ tín đồ Công Giáo so với dân số thế giới là chừng 18%; tỉ lệ tín đồ Kitô giáo là chừng 35%. Tỉ lệ Công giáo Việt Nam là chừng 7%.  

2. Về sinh hoạt

- Người ta ghi nhận là sinh hoạt Công Giáo tại các nước Âu Châu có bề sa sút. Số tín đồ giữ đạo theo giáo luật thì giảm sút một cách tai hại. Nhưng một phong trào phục hưng đang làm thay đổi bộ mặt của Giáo hội tại các nước này. Những người đóng góp vào việc phục hưng Giáo hội tại các nước Châu Âu là giáo dân. Họ qui tụ thành những nhóm nhỏ gọi là “Cộng đoàn cơ bản”. Họ hoạt động trong mọi cơ cấu của xã hội. Đạo ở đây không chú trọng vào việc đi lễ ở nhà thờ, nhưng là sống tinh thần Phúc âm giữa đời.

- Nói chung thì Giáo hội vẫn đang lớn lên về mặt dân số, đặc biệt là tại các nước Châu Phi và Châu Á.

- Riêng tại Việt Nam thì Giáo hội đang lớn lên không ở bề mặt mà ở bề sâu. Giáo hội sống khiêm tốn và âm thầm như men ủ trong nếp. Số tín đồ vẫn gia tăng nhờ những người lớn mới gia nhập. Số người lớn theo đạo được ghi nhận là nhiều hơn trước ngày giải phóng.  

13. H. Tại sao lại gọi là Công giáo, phải chăng là có mưu đồ muốn trở thành đạo Nhà Nước?

Đ. Thoạt tiên, chữ “công” có thể làm cho người ta hiểu lầm. Ví dụ:
- Công xa: xe Nhà Nước.
- Công báo: báo Nhà Nước.
- Công điền: ruộng đất Nhà Nước.

Nhưng cũng có câu: Nhất tự lục nghi. Một chữ sáu (nhiều) nghĩa. Vì vậy chữ “công” cũng có nhiều nghĩa lắm:

- Công: một loài vật, con công.
- Công: việc làm, như công việc.
- Công: kết quả tốt của lao động, như công đức.
- Công: đứng, ngay, như công bình.
- Công: dành cho nhiều người như công ích, vệ sinh công cộng.
- Công: phổ biến, như Công Giáo.

Đạo Công giáo là Đạo Phổ biến, nghĩa là ai cũng gia nhập được. Thực tế cho thấy, các dân tộc trên khắp năm châu bốn biển đều có người giữ đạo Công giáo.

Đạo Công Giáo không có tham vọng trở thành đạo Nhà Nước, chỉ có ước mong là đạo của mọi người để đem hạnh phúc cho mọi người.  

14. H. Tại sao những người cùng thờ Thiên Chúa, nhất là cùng phát xuất từ một gốc lại chia rẽ nhau. Như thế chân lý ở đâu?

Đ. Chân lý có điều hiển nhiên, rõ ràng như 2+2=4, trí tuệ dễ nhận ra và con người dễ nhất trí. Nhưng cũng có chân lý không hiển nhiên, rõ ràng, trí tuệ con người khó nhận ra, như có Thiên Chúa hay không.

Nhờ ơn huệ Chúa ban, có những người tin có Chúa, hơn nữa đã nhìn nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, như Chúa Giêsu nói: “Không ai đến với Cha, mà không nhờ Ta” (Jn. 14,6).

Nhưng trong số những người này, có người không tin điểm này, điểm kia trong những điều Chúa dạy, như Chính Thống Giáo, Tin Lành.  

Lý do:

Như đã nói, đức tin là ơn huệ Chúa ban nhưng có những người không sẵn sàng nhận ơn huệ ấy cách trọn vẹn như không tin vào quyền bính của Đức Giáo Hoàng, không tin vào một số Bí tích.

Như thế chân lý ở đâu?

Dĩ nhiên, chân lý trọn vẹn ở phía những ai chấp nhận ân huệ Chúa ban cách trọn vẹn không thêm không bớt. Đó là Giáo hội Công giáo.

Lịch sử cho thấy Giáo hội Công giáo là Giáo hội gốc. Đến thế kỷ XI mới có nhóm người tách ra gọi là Chính Thống Giáo. Đến thế kỷ XVI có thêm nhóm khác tách ra gọi là Tin Lành.

Giáo Hội Công giáo luôn cầu nguyện kêu mời và tạo điều kiện cho những anh em tách rời đó trở lại hiệp nhất với Giáo hội Công giáo. Đồng thời Giáo hội Công giáo cũng luôn tự kiểm điểm dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để đi đúng con đường Chúa Giêsu vạch ra và trung thực trong lời rao giảng.

2. Về niềm tin của Đạo Công Giáo

15. H. Người Công giáo thờ ai?

Đ. 1. Động từ THỜ và danh từ ĐẠO đã gây nhiều hiểu lầm giữa người Công giáo Việt Nam với đồng bào của mình.

a. Theo thần học Công Giáo thì THỜ và ĐẠO là thái độ, tâm tình của thụ tạo đối với Thượng Đế hoặc thần thánh siêu việt. Do đó chỉ có Đạo Trời và chỉ Thờ Trời mà thôi. Mọi đạo khác là dị đoan, là đa thần. Hiểu như thế, nên các nhà truyền giáo Tây Phương không chấp nhận bàn thờ ông bà và việc thờ cúng ông bà.

b. Theo văn hóa Việt Nam thì THỜ và ĐẠO là cách xử thế giữa hai chủ thể: giữa người với người, hoặc người với thần thánh. Ví dụ:

- Bàn thờ ông Thiên, bàn thờ tổ tiên, bàn thờ tổ quốc.
- Đạo vua tôi, Đạo Cha con, Đạo vợ chồng.
- Tôi ngày thờ Chúa, gái thờ chồng.

2. Hiểu theo nghĩa 1.a thì người Công giáo chỉ thờ một Thượng đế duy nhất, Đấng sáng tạo và điều hành vũ trụ, trong đó con người là thụ tạo ưu tuyển được Thượng Đế yêu thương như con. Từ đó con người có nhiệm vụ hiếu thảo đối với Thượng Đế, tức là tôn thờ, tìm hiểu và thực hiện ý của Ngài qua Thánh Kinh và qua tiếng nói của lương tâm lành mạnh; khám phá và khai thác vũ trụ, đồng thời loan báo niềm tin này cho những anh em chưa có. Niềm tin này như một kho tàng mà người biết phải loan báo cho người chưa biết.  

16. H. Đức Giêsu là ai? Tại sao gọi Ngài là Thiên Chúa?

Đ. 1. Ben-Hur được coi là một trong bảy cuốn phim vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Tác giả của chuyện phim này là Wallace cũng đã từng thắc mắc: “Gọi Đức Giêsu là vĩ nhân thì tôi đồng ý; gọi Ngài là nhà sáng lập đạo lớn nhất thì tôi cũng đồng ý; nhưng tôi không hiểu tại sao hằng tỉ người lại gọi Ngài là Con Thiên Chúa?”

Wallace đã ngấu nghiến bốn cuốn Phúc âm, tức là bốn cuốn tiểu sử của Đức Giêsu. Đọc xong rồi thì ông tuyên bố “Đức Giêsu là Con Thiên Chúa”. Ông viết cuốn Ben-Hur để đánh dấu khúc ngoặt này của đời ông.

2. Đức Giêsu một nhân vật Lịch sử mà đời sống của Ngài được tiên báo trong bộ sách Cựu Ước và được lịch sử của một dân tộc chờ đợi. Thế rồi Ngài đã sanh ra và sống đúng như Cựu Ước tiên báo.

Giáo Huấn và cuộc đời của Ngài được ghi trong bốn cuốn tiểu sử do bốn người viết đó là: Matthêu, Maccô, Luca và Gioan. Đọc bốn cuốn này độc giả sẽ khám phá ra rằng nhân vật Giêsu không phải chỉ là người, là siêu nhân mà còn là Thiên Chúa nhập thế mang xác phàm.

Dựa trên Thánh Kinh, Giáo lý Công giáo trình bày về Đức Giêsu như sau:

- Là Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể làm người, nghĩa là Ngài có hai bản tính: Thiên Chúa và loài người.

- Đầu thai do quyền năng của Thiên Chúa trong lòng trinh nữ Maria, sanh ra tại Bêlem nước Do thái, vào năm Thứ nhất của Kỷ nguyên này.

- Là người hoàn toàn như mọi người, trừ tội lỗi.

- Sống 33 năm, trong đó có 3 năm truyền đạo. Giáo lý của Ngài được tập trung vào hai điểm cốt yếu là yêu Chúa như Cha, yêu mọi người (kể cả kẻ thù) như anh em.

- Đã làm nhiều phép lạ như: hóa nước thành rượu, cho kẻ chết sống lại v.v … để tự chứng minh là Thiên Chúa.

- Bị lãnh đạo Do thái đóng đinh do lòng ganh ghét trước ảnh hưởng của Ngài trên quần chúng. Nhưng nói theo thì Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi, để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại.

- Đã phục sinh ngày thứ ba sau khi chết, sau đó 40 ngày thì Ngài thăng thiên.

- Sáng lập tổ chức Giáo hội Kitô giáo để nối tiếp sự nghiệp cứu độ của Ngài.

Đề nghị : Những ai muốn tìm hiểu Đức Giêsu, hãy đọc bốn Phúc âm với lòng chân thành tìm chân lý.  

17. H. Đạo Công giáo tin những điều khó chứng minh và khó cảm nghiệm quá.

Đ. 1. Lecomte du Nouy nhà sinh vật học Pháp, tác giả cuốn Định mệnh Con người (L’homme et sa destinée), được viện đại học Rockfeller (Mỹ) đặt tượng đài để tôn vinh, đã theo đạo Công giáo và tuyên bố về lý do theo đạo, đại ý như sau:

- Trong đạo Công giáo có nhiều mầu nhiệm mà lý trí loài người không hiểu được. Chính cái không thể hiểu ấy là cái siêu việt, cái đáng để ông thờ.

- Nếu ông giải đáp được mọi mầu nhiệm của đạo thì đạo chỉ là tương đối, chỉ là triết thuyết, là sản phẩm của lý trí loài người. Như thế không đáng để ông thờ.

2. Đạo Công giáo có nhiều mầu nhiệm, nhưng không phải là mơ hồ. Mỗi niềm tin đều có một cơ sở lý luận. Ví dụ:

a/ Không thấy Thượng Đế, nhưng vẫn tin Ngài như tác giả của một tác phẩm vĩ đại là vũ trụ. Chính khoa học cũng xác nhận rằng vật chất không tự hữu. Nếu nó không tự hữu thì phải phát xuất từ một siêu vật chất nào đó. Ta gọi siêu vật chất ấy là Thượng Đế, là Thiên Chúa.

b/ Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi ta không hiểu được, nhưng vẫn tin nhận vì tư cách của người dạy là Đức Giêsu. Ngài là ĐẠO là CHÂN LÝ thì lời Ngài dạy làm ta phải tin, khác nào học trò đón nhận lời thầy cô, mà không cần cảm nghiệm. Đức Giêsu không chỉ là một ông thầy ta gặp trong các lớp học mà Ngài là Tôn sư siêu việt, thông minh vô cùng, mà cũng chân thật vô cùng. Do đó giáo huấn của Ngài phải là chân lý.  

18. H. Đạo Thiên Chúa dạy có Thiên Đàng, hỏa ngục. Vậy Thiên Đàng, hỏa ngục là gì?

Đ. 1. – Trong đạo Thiên Chúa cũng như nhiều đạo khác vẫn tin có Thiên Đàng, hỏa ngục để thưởng công phạt tội. Loài người, mà lịch sử chưa giải quyết ổn: Có nhiều người xấu mà đời vẫn may mắn, có nhiều người lương thiện mà đời vẫn khổ đau. Có nhiều nỗi oan khiên mà vẫn chìm vào bóng tối. Từ đó nguời ta tưởng tượng ra nhiều nỗi đau khổ của hỏa ngục và nhiều hoan lạc của Thiên Đàng. Ví dụ:

- Ở hỏa ngục tội nhân bị ma quỷ chiên như chiên chuối. Ma quỷ cưa chân cưa tay, mổ bụng moi ruột, thở ra thở vào toàn là lửa…

- Trên Thiên Đàng có sông sữa, sông mật; có núi bánh, núi kẹo; có tiếng nhạc khoan thai dìu dặt v.v…

2. Những hình ảnh trên diễn tả hoả ngục và thiên đàng có tính hư cấu. Thiên đàng và hỏa ngục là thực tế tuyệt đối, thì lý trí và ngôn ngữ tương đối của loài người không thể diễn tả và tiếp thu được. Tất cả những hình ảnh trên nếu có trong đạo Thiên Chúa thì chỉ là cách nói để diễn tả cái đau khổ, cái hoan lạc vô cùng của hoả ngục và Thiên đàng mà thôi. Bỏ qua cái tưởng tượng phong phú của văn chương tôn giáo về hỏa ngục và Thiên đàng trên đây, ta trình bày về hỏa ngục và Thiên đàng như sau:

a. Thiên đàng là hạnh phúc tuyệt đối và vĩnh cửu Chúa dành cho những người trong kiếp sống hiện tại đã sống lương thiện, hoặc lúc chết đã được tha thứ do lòng sám hối chân thành. Hay nói cách khác Thiên Đàng là chính Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu tuyệt đối, được Đấng là tình yêu tuyệt đối yêu thương thì còn gì hạnh phúc bằng!

b. Hỏa ngục là đau khổ tuyệt đối và vĩnh cửu Chúa dành cho những người đã làm tội hoặc chết vào lúc chưa sám hối chi cả. Hay nói cách khác: Hỏa ngục là không được thấy Thiên Chúa, là không được Ngài yêu thương. Không gì khổ bằng khi người ta thấy mình không được yêu và sẽ muôn đời không được yêu!  

19. H. Theo giáo thuyết Công giáo, thì loài người đã được hình thành ra sao?

Đ. 1. – Theo Thánh Kinh thì sau khi sáng tạo vũ trụ Thiên Chúa đã lấy đất sét nắn tượng người, thổi hơi vào để tượng đất thành người, người ấy là Adam tức người đàn ông đầu tiên. Sau đó Thiên Chúa lấy một xương sườn của Adam làm nên người đàn bà đầu tiên là Eva. Đó là cặp vợ chồng đầu tiên, là tổ phụ của loài người.

Đức Giáo Hoàng Piô XII trong thông điệp Humani Generis (Loài Người) đã khẳng định rằng: Thánh Kinh không dạy cách Thiên Chúa sáng tạo loài người; công việc này là của khoa học. Thánh Kinh chỉ dạy chân lý tôn giáo, nghĩa là đoạn văn trên chỉ dùng hình thức văn chương óng ả để diễn tả rằng: Chính Thiên Chúa sáng tạo ra loài người, một tác phẩm ưu việt, vượt trên mọi thụ tạo khác; nó được Chúa yêu thương thân mật như Cha với con; vợ chồng là một xương một thịt…

2. Giả thuyết tiến hóa về nguồn gốc loài người có mâu thuẫn với giáo lý Công giáo không?

a. Giả thuyết tiên hóa về nguồn gốc loài người được trình bày như sau. Do điều kiện vật lý:

- Vật chất vô cơ tiến hóa thành vật chất hữu cơ.
- Rồi thành sinh vật đầu tiên và đơn giản là loài sứa.
- Rồi thành loài cá…
- Rồi thành vượn.
- Vượn thành vượn người.
- Vượn người thành loài người.

b. Giả thuyết trên không mâu thuẫn gì với giáo lý, vì đã rõ là Thánh Kinh không dạy về cách Chúa sáng tạo. Khoa học mà cụ thể là thuyết tiên hóa đang làm công tác đó.

Tuy nhiên, thuyết tiến hóa này chỉ phù hợp với giáo lý theo các điều kiện sau đây:

- Cuộc tiến hóa là kế hoạch của Chúa và do Ngài điều khiển.

- Mục tiêu của kế hoạch là tạo ra con người, tức là một thân xác có linh hồn do Thiên Chúa trực tiếp ban cho. Do đó cuộc tiến hóa để trở thành loài cao hơn.  

20. H. Đạo Công giáo có chủ trương luân hồi không?

Đ. 1. – Thuyết luân hồi chủ trương rằng khi một sinh vật chết, thì hồn đầu thai vào một thân xác khác thành một sinh vật mới. Nếu sống lành thì đầu thai làm kiếp người hạnh phúc. Nếu sống ác thì đầu thai làm kiếp con thú hoặc làm kiếp người bất hạnh. Cứ đầu thai mãi như bánh xe quay không ngừng. Chỉ khi nào hồn siêu thoát được vào Niết Bàn mới thôi đầu thai, mới chấm dứt vòng luân hồi.

2. Giáo lý Công giáo chủ trương chỉ có một kiếp sống trong trần gian. Khi chết thì hồn đi vào cuộc sống vĩnh cửu, hoặc hạnh phúc đời đời, hoặc đau khổ đời đời. Đến ngày tận thế, xác hợp lại với linh hồn và xác ấy sống vĩnh cửu trong một trạng thái mới, nghĩa là không có những nhu cầu trần gian, không lệ thuộc vào luật lý  

21. H. Các Thánh là những ai? Tại sao gọi là Thánh?

Đ. 1. Thánh là những tín hữu sống giáo lý của đạo hóa như xác phàm hiện nay, một cách anh hùng, đáng làm gương mẫu cho người đồng thời, hoặc thế hệ mai sau. Thánh cũng còn hiểu là những người đã được hạnh phúc thiên đàng, dù đã sống không gương mẫu, thậm chí tội lỗi, nhưng trong giờ phút chót đã sám hối, được Chúa cứu vớt.

2. Thánh hiểu theo nghĩa giáo luật là những tín hữu chết được Giáo hội ghi nhận là xứng đáng làm gương cho đồng đạo và làm hiển vinh Thiên Chúa. Thẩm quyền của Giáo hội cho lập hồ sơ nghiên cứu cuộc đời và cách chết của họ. Khi tòa án phong thánh nghiên cứu thấy quả thật đương sự sống và chết một cách đáng tôn vinh, đồng thời được đồng đạo tôn sùng, thì thẩm quyền tối cao là Đức Giáo Hoàng phong thánh.

Phong thánh có ba cấp bậc: cấp một là “Tôi Trung của Chúa”; cấp hai là “Á Thánh”; cấp ba là “Hiển Thánh”. Hai cấp trên thì được tôn vinh tại Giáo hội địa phương. Cấp hiển thánh thì được tôn vinh trong Giáo hội toàn cầu.  

22. H. Phải chăng những người không theo đạo Công giáo đều xuống Hỏa ngục?

Đ. 1. Không ai có quyền quyết đoán ai phải xuống Hỏa ngục.

2. Những người sống trước hoặc sau khi Chúa Giêsu thực hiện công trình cứu độ, đều có thể đuợc cứu, miễn là có ý ngay lành dù không biết gì về Thiên Chúa, nhưng luôn sống theo lương tâm trong sáng.

3. Tuy nhiên cần phải tin vào Đức Giêsu và sứ mạng của Ngài đồng thời lãnh nhận Bí tích Rửa tội và sống theo giáo huấn của Ngài để chắc chắn mình được cứu độ.

4. Chỉ những ai biết Đức Kitô và sứ mạng của Ngài mà cố tình khước từ, thì mới không được cứu độ.  

23. H. Linh mục cũng là người như mình tại sao tôi phải xưng tội với ông và tại sao ông lại có quyền tha tội cho tôi?

Đ. Đồng ý rằng Linh mục cũng là người như mình nghĩa là cũng yếu hèn, cũng có thể phạm đủ thứ tội, nhưng tín đồ vẫn đến thú tội với ông và ông vẫn cứ tha tội cho người ta. Lý do:

1. Mẹ tôi biểu chị tôi tắm cho tôi, dù chị tôi còn dơ hơn tôi, tôi vẫn để cho chị tôi tắm cho tôi và tôi cũng vẫn sạch, cũng vẫn mát và rất thương chị.

2. Linh mục tha tội cho tôi cũng như ông chánh án ngồi tòa án để phân xử. Ông là người nhưng ông vẫn kêu án xử hoặc tha bổng và được xã hội chấp nhận. Linh mục tha tội cho tín đồ và được tín đồ chấp nhận, vì Chúa đã trao quyền tha tội cho Linh mục cũng như mẹ ra lệnh để chị tắm cho em.

3. Linh mục cũng có tội như tôi, cũng có thể phạm đủ thứ tội… Nhưng dù sao trong nền giáo dục đặc biệt và trong hoàn cảnh đặc biệt, Linh mục khó phạm tội hơn người thường. Ví dụ: tôi và anh là người đời có thể chửi thề một câu mà không ai phê phán gì. Trái lại Linh mục mà chửi thề thì không ai bỏ qua được!  

24. H. Tượng Chúa tượng Bà bằng đất bằng xi-măng, tại sao tín đồ lại xá lạy lia chia. Vậy là dị đoan, là mê tín .

Đ. Đồng ý rằng tượng thánh bằng vật liệu xây cất, nhưng nó tượng trưng một nhân vật thánh. Cúi lạy tượng thánh là cúi lạy chính nhân vật mà tượng ấy biểu thị.

Điều này rất phổ quát trong đời sồng hằng ngày:

- Lá cờ tổ quốc bằng vải, đôi khi cũ mèm. Vậy mà ta vẫn phải nghiêm chỉnh chào, không phải là chào mảnh vải mà chào Tổ Quốc.

- Ảnh người yêu ta để trong ví, lâu lâu hôn một cái. Ta không hôn tấm giấy mà là hôn người yêu.  

25. H. Tại sao Công giáo thì bảo Đức Mẹ trọn đời đồng trinh, còn Tin Lành thì lại bảo Đức Mẹ chỉ đồng trinh khi sanh Đấng Cứu Thế. Sau đó Đức Mẹ ăn ở với chồng là Giuse như mọi người. Tôi cho rằng cả Công giáo, cả Tin Lành đều không đúng. Đã sanh con thì còn đồng trinh gì nữa?

Đ. Nếu chúng ta chỉ nói chuyện khoa học thì người đàn bà sanh con là tự nhiên mất trinh. Nhưng nếu ta nhận có Đấng vô hình, có chuyện Thần Linh thì việc Thiên Chúa đặc biệt can thiệp để một người con gái thụ thai rồi sinh con mà không qua đường thụ tinh thông thường thì việc sinh con mà còn trinh là điều có thể chấp nhận.

Còn chuyện mâu thuẫn giữa Tin Lành và Công giáo, xin được giải đáp như sau:

1. Sở dĩ Tin Lành tin Maria đồng trinh khi sinh Đức Giêsu vì đó là lời Kinh Thánh (Lc. 1, 26-38). Sở dĩ Tin Lành cho rằng sau khi sanh Đức Giêsu, Maria sống đời vợ chồng bình thường với Giuse, nên không còn đồng trinh nữa vì họ cũng dựa trên Kinh Thánh (Mt. 13, 55). Theo câu Mt. 13, 55 thì Đức Giêsu có bốn người em trai và ít nhất là hai em gái.

2. Công giáo thì tin Maria trọn đời đồng trinh nghĩa là không hề ăn ở với người nam. Lý do được viện ra:

- Những người em trai em gái nói đến trong Mt. 13, 55 chỉ là anh em bà con. Trong ngôn ngữ Do thái từ anh em, chị em hiểu được là anh chị em ruột hoặc anh chị em bà con. Tiếng Việt cũng thế.

- Dựa trên Thánh Kinh để minh chứng rằng những người anh em kia chỉ là anh em bà con. Mc 15, 40 cho thấy rõ Giacôbê và Giuse được nhắc tên trong Mt. 13,55 là con của một người đàn bà tên là Maria, bà này là một trong ba bà Maria có mặt dưới chân thập giá đó là Maria Mẹ Chúa, Maria Mađalêna và Maria Mẹ Giacôbê với Giuse (Jn. 19, 25; Lc. 24, 10).

- Dựa trên tâm lý xã hội. Lc. 2, 41-52 kể chuyện hồi Chúa lên 12 tuổi đã theo mẹ và cha đi lễ ở Giêrusa lem. Những chi tiết sau đây cho thấy Maria chỉ có một con duy nhất là Đức Giêsu:

- Nếu Maria có nhiều con, ta giả thiết lúc ấy Chúa Giêsu 12 tuổi thì các em của Ngài sẽ là 10 tuổi, 8 tuổi, 6 tuổi, 4 tuổi, 2 tuổi và một đứa đang ở trong bụng mẹ. Không lẽ gì một người đàn bà có bấy nhiêu đứa con mà bỏ bảy con thơ ở nhà rồi cùng chồng và con đầu lòng đi lễ xa mà thời gian gồm 4 ngày đi, 8 ngày ở, 4 ngày về, vị chi là 16 ngày.

- Lễ này không bắt buộc phụ nữ phải về thủ đô mà chỉ buộc đàn ông cỡ 14 tuổi trở lên.

- Dựa trên tâm lý xã hội và tục lệ. Jn. 19, 25-27 cho ta thấy là trước khi chết Chúa gởi gắm mẹ Ngài cho Gioan, một đệ tử thân mến. Sau khi Chúa chết, Maria Mẹ của Ngài về ở với Gioan. Nếu Chúa có 4 em trai và ít nhất là 2 em gái, thì Chúa không thể giản dị gởi mẹ cho đệ tử như thế. Các em của Ngài sẽ chống đối kịch liệt. Trao mẹ cho đệ tử trong trường hợp ấy là làm nhục cho các em. Tâm lý và tục lệ xã hội không thể chấp nhận điều đó.

3. Về cách sống đạo Công giáo

26. H. Đạo Công giáo thờ cúng Chúa thế nào? Tại sao người Công giáo tới nhà thờ thường xuyên, mất nhiều thời giờ quá?

Đ. A. Đạo Công giáo tin tuyệt đối rằng Thiên Chúa (Thượng Đế, Tạo Hoá, Ông Trời…) là Cha yêu thương của loài người. Vì thế sự thờ cúng đều xoay quanh việc biểu lộ lòng hiếu thảo. Việc hiếu thảo thuộc phạm vi tâm lý xã hội được hướng dẫn bởi đức tin:

- Tưởng nhớ Chúa như con cái nhớ nhung cha mẹ.

- Đọc kinh, cầu nguyện giống như con cái kể lể tâm sự với cha mẹ.

- Đặc biệt là người Công giáo hội họp tại nhà thờ coi nhau như anh em sum họp về nhà cha mẹ. Ở đó họ cùng nhau đọc kinh, cầu nguyện, nhất là họ dâng Thánh lễ có Linh mục chủ sự.

Ta có thể tạm mô tả Thánh lễ như sau:

Ngày Tết con cái làm ăn từ khắp nơi sum họp về nhà cha mẹ, mỗi người mang về một món quà biếu cha mẹ để tỏ lòng yêu mến, biết ơn công sinh thành, đôi khi tặng quà để đền bù những lần làm mất lòng cha mẹ, và cũng đôi khi tặng quà để sau đó xin cha mẹ giúp đỡ tiền bạc, đồ đạc…

Cũng thế, hằng ngày, nhất là ngày Chúa nhật tín đồ tập trung về nhà thờ để dâng lên Chúa một món quà cao quý là chính Đức Giêsu Con của Chúa chịu chết để đền tội loài người. Món quà ấy được dâng lên để tỏ lòng:

- Yêu mến Chúa.
- Biết ơn Chúa.
- Sám hối với Chúa.
- Xin ơn phù trợ hồn xác.

Nói tóm lại thì việc thờ cúng của người Công giáo là đọc kinh cầu nguyện riêng tư hoặc tập thể. Nhưng việc thờ cúng cao quí nhất, vĩ đại nhất là Thánh lễ.

B. Nếu ta quan niệm việc thờ cúng là tỏ lòng thảo hiếu với Chúa là Cha thì:

1. Không nên phiền trách con cái thăm viếng cha mẹ thường xuyên làm mất thời giờ.

2. Một ngày 24 giờ, trong đó có 8 giờ lao động, 8 giờ ngủ nghỉ, còn lại 8 giờ để giải trí hoặc lo chuyện gia đình. Nếu ta lấy ra trong số 8 giờ cuối này chừng 10 phút – 60 phút để cầu nguyện với Chúa là Cha của mình thì có gì là nhiều đâu. Ấy là chưa kể đến cái bổ ích về tinh thần do việc cầu nguyện mang lại. Thời giờ cầu nguyện không phải là “mất” mà là “được”.  

27. H. Đạo Công giáo có những giới luật nào?

Đ. Nếu nói theo sách vở thì đạo Công giáo có 10 giới luật của Chúa và 6 giới luật của Giáo hội (tổ chức thừa kế sự nghiệp của Chúa Giêsu).

a/ 10 giới luật của Chúa:

Thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.

Thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ (không thể khi không có lý do chính đáng).


Thứ ba: Giữ ngày Chúa nhật (nghỉ lao động và đi Thánh lễ).


Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ (trọng kính vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi các Ngài còn sống. Khi các ngài chết thì cầu nguyện để các Người siêu thoát).


Thứ năm: Chớ giết người (tôn trọng mạng sống của ta và của tha nhân).


Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục (tiết dục đúng lúc đúng cách).


Thứ bảy: Chớ lấy của người.


Thứ tám: Chớ làm chứng dối (tôn trọng sự thật).


Thứ chín: Chớ muốn vợ chồng người (cấm ngoại tình).


Thứ mười: Chớ tham của người (muốn chiếm đoạt của cải người ta mà chưa lấy được thì đã là tội).

b/ 6 giới luật của Giáo hội:

Thứ nhất: Xem lễ ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.

Thứ hai: Chớ làm việc xác (lao động chân tay) ngày Chúa nhật cùng các ngày lễ buộc.

Thứ ba: Xưng tội trong một năm ít là một lần.

Thứ bốn: Chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh.

Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội thánh buộc.

Thứ sáu: Kiêng thịt ngày thứ sáu cùng những ngày khác Hội thánh dạy.

2. Nói một cách trí thức và ngắn gọn thì Đạo Công giáo chỉ có một giới luật, đó là Yêu.

a/ Yêu Chúa hơn hết và đối xử với Ngài như một người con hiếu thảo đối xử với một người Cha tuyệt hảo: tôn thờ, yêu mến, tin tưởng và luôn luôn làm vui lòng Chúa.

b/ Yêu mọi người, yêu từ người thân đến kẻ thù.  

28. H. Đạo Công giáo dạy phải yêu thương và nhường nhịn kẻ thù (Ai tát má phải, thì đưa má trái cho người ta tát nữa). Như thế phải chăng là hèn nhát?

Đ. 1. Yêu người, yêu đồng loại… đó là giáo huấn ta đón nhận từ cửa miệng cha mẹ. Nhưng yêu kẻ thù là giáo lý đặc biệt của Đức Giêsu. Giáo lý này có vẻ xa lạ với mọi người, thậm chí Đức Khổng cũng ngần ngại trước câu hỏi “Có nên lấy đức mà báo oán không? Cuối cùng Ngài đã trả lời “Lấy đức báo đức, lấy oán trả oán”.

Nhưng dù sao mỗi người cũng nhận thấy rằng nếu lấy oán báo oán thì oán sẽ chồng chất. Loài người đã thấm đòn với quyết tâm đè bẹp kẻ thù, sau bao nhiêu thế hệ tung tiền ra để chế tạo vũ khí hủy diệt đối phương mà cuối cùng chỉ là hủy diệt loài người, hủy diệt lẫn nhau. Trong chiến tranh hiện đại không có người thắng kẻ thua, mà cả hai cùng bị tiêu diệt. Các thế lực chống đối đã ngồi lại với nhau để tìm hòa bình cho nhân loại, đó là một thức tỉnh quí báu.

2. Chúa dạy “Ai vả má phải, ngươi hãy đưa má trái cho người ta vả nữa” là một giáo huấn không hiểu theo nghĩa đen. Chính Chúa đã không làm như thế, vì làm như thế không phải là bác ái mà là khiêu khích. Trước tòa án tôn giáo, Cai-pha hỏi Chúa về giáo lý của Ngài, thì Ngài trả lời “Ngài cứ hỏi những người đã nghe tôi vì tôi không giảng chùng lén mà giảng công khai trong đền thờ”. Người cận vệ đã vả mặt và nói “Tại sao mi dám hỗn với Thượng đế?”. Chúa không đưa má kia cho hắn vả mà còn nói “Nếu tôi nói sai thì sai chỗ nào? Nếu tôi nói đúng thì tại sao anh lại đánh tôi?”

Câu nói “Hãy đưa má kia cho người ta vả nữa” chỉ là câu nói cường điệu nhấn mạnh tinh thần tha thứ hào hiệp. Vả lại nhịn vì hèn nhát với nhịn vì cao thượng. Ta không được hèn, nhưng phải bao dung và quảng đại.

29. H. Đạo Công giáo có thờ ông bà tổ tiên không và thờ cúng thế nào?

Đ. 1. Lòng hiếu thảo đối với công sinh thành gắn liền với tâm tư con người trải qua mọi thời và mọi nền văn hóa. Giới răn thứ IV của Thập giới là “Thảo kính cha mẹ”. Nhưng cách biểu lộ lòng hiếu thảo thì khác nhau tùy từng nền văn hóa. Có những nền văn hóa biểu lộ lòng hiếu thảo một cách rùng rợn. Có bộ lạc bán khai hiếu thảo bằng cách ăn thịt cha mẹ khi các ngài về già. Việc làm của họ thì ghê tởm, nhưng lý luận của họ thì tuyệt vời. Họ đã trả lời cho những người chê trách họ: “Các ông mới bất hiếu, các ông bỏ cha mẹ vào hòm, đóng đinh kêu côm côm. Như thế chưa vừa lòng, các ông còn vùi cha mẹ xuống đất cho giòi bọ rúc rỉa… Còn chúng tôi, thì chúng tôi ăn thịt cha mẹ để sự sống của các ngài lưu truyền mãi trong con cháu từ đời này qua đời nọ”.

Ta không nên nghi ngờ lòng hiếu thảo của bất cứ tôn giáo nào, văn hóa nào mà chỉ tìm hiểu để thấy cách hiếu thảo của họ.

2. Về việc thờ cúng. Người Công giáo cũng thờ cúng cha mẹ, nhưng cách thờ cúng thế nào thì tùy thuộc niềm tin và diễn tiến của lịch sử.

a/ Trước Công Đồng Vatican II, người Công giáo Việt Nam thờ cúng cha mẹ bằng kinh kệ gọi là kinh cầu hồn. Bà con thân thuộc sum họp lại tư gia người quá cố hiệp ý cầu nguyện cho người quá vãng. Con cháu còn mời bà con sum họp trong thánh đường dâng Thánh lễ an táng, giáp tuần, giáp tháng, giáp năm. Trong nhà có hình ông bà để tưởng niệm hằng ngày, nhưng không có bàn thờ ông bà, không dâng nhang. Người Công giáo quan niệm bàn thờ và việc chỉ dành cho Chúa mà thôi. Vả lại việc thờ cúng ông bà trong văn hóa Việt Nam trước đây có pha phôi một vài ý niệm không phù hợp với giáo lý đạo Công giáo, đó là tin ông bà về ăn đồ cúng, hoặc sự phảng phất của linh hồn chưa đầu thai.

b/ Sau Công Đồng Vatican II, việc thờ cúng ông bà được phân tích kỹ càng.

- Thứ nhất: Những dị đoan mê tín xung quanh việc thờ cúng ông bà đã rơi rụng mà chỉ còn lại cái tinh túy, cái đáng kính.

- Thứ hai: Việc thờ cúng ông bà ở Việt Nam thuộc văn hóa chung của dân tộc. Do đó Hội Đồng Giám Mục Việt Nam qua những văn thư 1965, 1974 đã khẳng định là người Công giáo Việt Nam được thờ cúng ông bà theo cách thức mà đồng bào vẫn làm.

(Xem thông cáo của HĐGM/VN về việc thờ cúng ông bà tổ tiên ở Phụ Lục).  

30. H. Tại sao đạo Công giáo không cấm sát sinh và người Công giáo lại không ăn chay, hay ăn chay quá ít?

Đ. 1. Về vấn đề sát sinh

a/ Giáo lý Công giáo coi con người là thụ tạo siêu việt. Còn các loài thụ tạo khác như khoáng vật, thực vật và động vật chỉ là những công cụ phục vụ con người. Đốn cây, xẻ đá hay giết súc vật chỉ là những hành động có cùng một ý nghĩa nhắm mục đích nâng cao mức sống con người về y khoa, nghệ thuật, dinh dưỡng… Dĩ nhiên giết con thú có thể gây xúc động về tâm lý mà con người phải quan tâm dưới cái nhìn sư phạm tâm lý.

b/ Luật cấm sát sinh không thể thực hiện được:

- Sinh vật dưới dạng vi trùng có trong nước mà ta nấu. Nấu một nồi nước có thể giết hàng ngàn hàng triệu sinh vật nhỏ li ti.

- Khoa giải phẫu bắt buộc phải sát trùng dụng cụ và cả da thịt nơi được giải phẫu.

- Nông nghiệp bắt buộc giết rầy, cua, chuột, chim… phá hoại mùa màng.

- Ngành chăn nuôi và đánh cá sẽ bị giải thể nếu ta giữ luật cấm sát sinh… và nếu thế nền văn minh này sẽ thay đổi hoàn toàn theo chiều hướng đi xuống.

- Thực vật cũng có sự sống. Tiêu diệt sự sống của thực vật có phải là chắc chắn không sát sinh không?  

2. Không ăn chay, ăn chay quá ít!

a. Đạo Công giáo có ăn chay, ăn chay khác với cách ăn chay của các tôn giáo bạn như Phật giáo, Cao Đài. Ăn chay theo các tôn giáo bạn là ăn lạt, ăn ngũ cốc, kiêng khem chất thịt mỡ. Ăn chay theo luật Công giáo là ăn khắc khổ, thiếu thốn với mục đích:

- Nhắc nhở ta rằng loài người yếu đuối và hay sa ngã, nên phải khiêm tốn với Chúa và tha nhân.

- Nhắc nhở ta rằng phải khắc khổ để đền tội.

- Nhắc nhở ta rằng phải rèn luyện ý chí ngõ hầu có thể đương đầu với các cám dỗ.

Tu đức Kitô giáo cũng nhìn nhận việc ăn chay có giá trị trị bịnh và nâng cao tư tưởng, nhưng chỉ nói ăn chay là một trong nhiều phương tiện giúp ta thăng hoa đời sống tinh thần. Kitô giáo nhấn mạnh hơn vào cuộc sống bác ái xã hội. Ăn chay được áp dụng nhiều cho tu sĩ chiêm niệm.

b. Ăn chay ít. So với các tôn giáo bạn thì Công giáo ăn chay ít thật. Lý do:

- Sinh hoạt căn bản của đạo không phải là ăn chay, mà là yêu Chúa, yêu tha nhân.

- Ăn chay được áp dụng tùy tiện cho từng người trong từng hoàn cảnh. Người lao động nặng, người phụ nữ mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ được khuyến cáo thận trọng trong việc ăn chay và được khuyên nhủ nên làm việc bác ái từ thiện thay cho việc ăn chay.

- Tại Việt Nam số ngày ăn chay trong năm chỉ còn là 2, vì Việt Nam qua một giai đoạn chiến tranh lâu dài, rồi lại qua một giai đoạn kế tiếp lâm cảnh nghèo nàn lạc hậu, dân chúng thiếu chất dinh dưỡng, nên Giáo hội không muốn thấy luật ăn chay làm cho tín đồ Việt Nam đã thiếu dinh dưỡng lại thiếu thêm nữa. Sức khỏe rất cần cho việc sản xuất.  

31. H. Đạo Công giáo có làm chính trị không?

Đ. Chính trị là nghệ thuật lãnh đạo quần chúng. Tầm hoạt động của nó bao trùm mọi sinh hoạt của nhân dân, đáp ứng mọi nhu cầu chánh đáng của nhân dân. Nếu hiểu chính trị là như thế thì người Công giáo rất tích cực làm chính trị. Lãnh đạo để giúp nhân dân hưởng công bằng bác ái thì mọi người có khả năng lãnh đạo đều phải coi là mình có bổn phận tham chánh. Tuy nhiên Giáo hội Công giáo phân biệt chánh trị công dân với chánh trị đảng phái:

1. Chánh trị công dân là làm mọi bổn phận công dân như tuân hành luật lệ Nhà Nước để Tổ Quốc và nhân dân hạnh phúc, thịnh vượng thì mọi tín đồ Công giáo phải thi hành một cách tích cực.

2. Chính trị đảng phái là qui tụ đảng viên, tham gia chánh quyền để có điều kiện thực hiện lý tưởng của mình thì Giáo hội khuyến khích tín đồ, nhưng lại cấm giáo sĩ và tu sĩ. Giáo hội muốn giáo sĩ và tu sĩ lo ngành chuyên môn của mình là tu hành và lãnh đạo tín đồ trong lãnh vực thuần túy tôn giáo.

32. H. Đạo Công giáo khe khắt quá. Đặc biệt là vấn đề hôn nhân: Không được ly dị mặc dầu đôi vợ chồng không thể sống chung được nữa.

Đ. 1. Trước hết phải nói đến hiệu quả của ly dị. Mọi người đều nói rằng: Ly dị là thảm họa của gia đình và xã hội. Cảnh sát các quốc gia cho biết hầu hết các trẻ em bụi đời, cao bồi du đãng là con cái của các gia đình ly dị, hoặc không hạnh phúc.

Người làm lưật cho phép ly dị nhưng vẫn khuyên đừng ly dị. Một viện sĩ Liên xô đã phát biểu: “cho phép ly dị, nhưng đừng ly dị”.

Tòa án xử các vụ ly dị vẫn có truyền thống hòa giải. Tòa tìm mọi cách để hai vợ chồng hòa hợp. Cho phép ly dị chỉ còn là sự đầu hàng của tòa án mà thôi.

2. Khi xin ly dị hai vợ chồng chỉ giải quyết nguyện vọng của mình mà quên quyền lợi của con cái, quên rằng một đứa trẻ của gia đình ly dị sẽ lâm vào hoàn cảnh sống thê thảm như thế nào. Cha mẹ đòi quyền ly dị mà không để cho con cái đòi quyền không ly dị, như vậy không phải là công bằng. Quan tòa chỉ hỏi ý kiến hai vợ chồng, nếu một trong hai không đồng ý ly dị thì tòa không xử cho ly dị. Thế tại sao không hỏi ý kiến người thứ ba là con cái, những người ảnh hưởng trực tiếp vụ ly dị. Một đứa con của gia đình ly dị, tuy còn cha mẹ nhưng kể như hai lần mồ côi. Đứa trẻ mồ côi cha vẫn được nghe mẹ nhắc nhở đến cha với lòng kính trọng trìu mến. Còn đứa trẻ ở với mẹ ly dị sẽ được nhắc nhở đến người cha như thế nào?  

3. Giáohội Công giáo không cho ly dị vì những lý do sau đây:

a. Luật ấy là Thiên luật. Thánh Kinh dạy: Vợ chồng là một xương một thịt và vợ chồng là do Chúa nối kết thì loài người không được tháo gỡ.

b. Giáo lý Công giáo quan niệm giữa vợ chồng có một sự gắn bó có tính cách máu huyết. Nếu cha mẹ thương con không điều kiện thì vợ chồng cũng thương nhau không điều kiện. Cha mẹ nào cũng muốn con mình khỏe mạnh thông minh, nhưng không vì thế mà loại đi những đứa con tàn tật và u mê. Có con ưu tú thì thương và sung sướng. Có con tàn tật thì thương và đau khổ. Tình vợ chồng cũng được quan niệm như thế.

c. Với ý thức như thế vợ chồng theo Kitô giáo phải chuẩn bị hôn nhân kỹ hơn và lo chăm sóc để duy trì và phát triển tình yêu vợ chồng. Nếu họ không thành công, thì Giáo hội chỉ có một lối giải quyết là ly thân. Đó là điều vạn bất đắc dĩ. Đó là chọn cái xấu nhỏ để tránh cái xấu lớn trong cái lẽ tương đối của cuộc đời.  

33. H. Nhiều người Công giáo chẳng tốt hơn ai, đôi khi còn có người xấu hơn người ngoại. Như thế thì theo đạo Công giáo để làm gì?

Đ. 1. Mọi phương tiện giao thông vận tải như hàng không, hỏa xa, tàu thủy, xe đò… đều có nhiều tai nạn: máy bay rớt, xe hỏa lật, tàu chìm, xe khách đụng nhau… nhưng không phải vì những tai nạn ấy mà ta thôi không sử dụng chúng. Máy bay vẫn rớt, ta vẫn đi máy bay. Cũng thế trong đạo có nhiều người hư hỏng, nhưng không vì thế mà ta không nhập đạo.

2. Theo đạo Công giáo là theo Đức Giêsu và thực thi giáo huấn của Ngài để được cứu độ. Người có đạo là bạn đồng hành chứ không phải là người mẫu. Vả lại con người yếu hèn vẫn thường làm nhiều điều xấu trái với lương tâm. Thấy người đạo làm điều xấu thì ta thông cảm và tội nghiệp cho họ, chứ không vì thế mà ta bỏ không theo Đức Giêsu.  

34. H. Tại sao không để con cái lớn khôn hãy rửa tội cho chúng. Vì như thế việc “có đạo” mới thật là tự do?

Đ. Một người cha sanh ra con, thì dù con chưa trưởng thành vẫn phải dạy nó nhận ông bà nội, ngoại và tập cho nó lễ độ đúng với tương quan ông cháu, cha con.

Cũng vậy cha mẹ Công giáo xác tín Chúa là Cha, thì bắt con phải nhận Chúa và đối xử với Chúa theo tình cha con dù nó chưa ý thức.

Nếu phải chờ cho chúng trưởng thành để có tự do gọi Chúa là Cha hay không thì không khác gì ta sanh con ra, rồi chờ khi khôn lớn mới hỏi nó xem nó có nhận ta là cha mẹ hay không!  

35. H. Tu hành trong đạo Công giáo thế nào?

Đ. Giới tu hành trong đạo Công giáo đó là giáo sĩ và tu sĩ.

1. Giáo sĩ nằm trong cơ cấu lãnh đạo hành chánh. Cụ thể là Linh mục coi họ đạo, Giám mục, Giáo hoàng trong danh từ chuyên môn của đạo thì Giám mục và Giáo hoàng được gọi là giáo phẩm.

2. Tu sĩ là các thầy dòng, các bà phước. Họ dâng hiến cuộc sống phục vụ Giáo hội và tha nhân trong các ngành chuyên môn như giáo dục, xã hội, khoa học… với tất cả tấm lòng bác ái vị tha.

Cả giáo sĩ và tu sĩ Công giáo đều giống nhau ba điểm:

- Sống độc thân để có điều kiện phục vụ tha nhân 100%

- Có tinh thần khó nghèo tức là coi tiền bạc là phương tiện phục vụ chứ không coi nó như phương tiện để hưởng thụ. Riêng các tu sĩ thì không có tư hữu, tất cả tài sản là của Dòng Tu. Tập thể sẽ cung cấp phương tiện cho tu sĩ sống và hoạt động tùy nhu cầu và hoàn cảnh.

- Tùng phục cấp lãnh đạo như đại diện của Chúa.

- Tu sĩ phải sống cộng đoàn, không sống một mình. Trong khi giáo sĩ thì không buộc sống cộng đoàn. Mỗi dòng tu theo đuổi một mục đích riêng tùy nhu cầu của Giáo hội và xã hội. Mỗi dòng tu có phương pháp riêng để đào tạo tu sĩ của mình về mặt tu đức và hoạt động. Mỗi dòng cũng có y phục riêng, nhưng đều quan niệm tu phục không làm nên tu sĩ.  

36. H. Theo đạo Công giáo có phải đóng tiền không?

Đ. 1. Không ai đóng tiền gia nhập đạo Công giáo, cũng không tín đồ Công giáo nào phải đóng tiền nguyệt liễm, niên liễm.

Tuy nhiên vào các ngày Chúa nhật tín đồ có thể tự nguyện bỏ một chút tiền vào thùng tiền nhà thờ để lo dầu đèn. Tiền này hoàn toàn tự nguyện không ai nài ép ai.

Vậy Giáo hội lấy tiền đâu để sinh hoạt, xây cất và sửa chữa nhà thờ ? Cũng vẫn chỉ là sự cúng hiến của nhiều người hằng tâm hằng sản. Việc này phát xuất từ lòng mộ đạo, muốn cho Chúa có một nơi thờ phượng xứng đáng, ngay cả khi tín đồ còn nghèo nàn. Tình yêu là động lực đóng góp. Điều kiện này rất dễ hiểu:

a/ Cha mẹ có thể mặc áo cũ, nhưng không tiếc tiền may áo mới đẹp cho con cái.

b/ Con cái nghèo nhưng không muốn thấy cha mẹ ăn mặc rách rưới.

2. Nếu Giáo hội yêu cầu tín đồ đóng góp tiền bạc thì đó cũng là lẽ thường vì:

- Giáo hội phải có tiền giúp đỡ người nghèo, mà đó là bổn phận của mọi tín đồ.

- Mọi tín đồ có bổn phận phát triển sinh hoạt của đạo mình giống như mọi con cái có nhiệm vụ đóng góp cho sinh hoạt của gia đình, khi họ đã trưởng thành.

37. H. Dân nghèo tại sao xây nhà thờ tốn phí hằng trăm triệu?

Đ. Xây nhà thờ đẹp có nhiều ý nghĩa:

- Một tác phẩm văn hóa nghệ thuật thì phải đẹp mới vừa ý người sáng tác.

- Nó là nơi thờ phượng thì phải tương đối xứng đáng với lòng thành kính của nhân dân.

- Nó là niềm hãnh diện của một tập thể. Không ai muốn thua ai. Tập thể nào cũng muốn thành công ở mức độ hơn người.

Nó còn là chuyện tình cảm. Cha mẹ nghèo chịu ăn mặc sơ sài, nhưng vẫn cố gắng để con mình mặc đẹp không thua ai. Vì thương mà ra thế. Tín đồ cũng vì kính mến Chúa nên cố gắng xây nhà Chúa cho đẹp đẽ khang trang, dù nhà mình còn lụp sụp. Điểm tâm lý này cũng có thể chấp nhận, vì nó cũng rất bình thường và cũng rất là người.

4. Về một số xung khắc

a. Liên quan đến lòng nhân lành Chúa

38. H. Cuộc sống con người sao cực khổ quá, Tạo Hóa dựng nên con người để mà khổ sao?

Đ. 1. Khổ là một kinh nghiệm cụ thể, nhưng không phải mọi người đều khổ, và cũng không mấy ai khổ hoàn toàn mà chỉ từng lúc. Vậy khổ chỉ là chuyện tương đối, và không thuộc bản chất con người được Chúa tạo dựng.

2. Nguyên nhân gây ra đau khổ đa số là chính con người không sống theo trật tự của thiên nhiên, của Thượng Đế. Thí dụ: cái khổ do chiến tranh, do đàn áp bóc lột, do tham vọng đê tiện của con người… Nhiều thiên tai cũng do hành động của con người, chỉ một số ít trường hợp là rủi ro. Thiên Chúa không muốn những chuyện đó mà nó vẫn cứ xảy ra. Vì đa số là do lỗi con người.

3. Thiên Chúa dựng nên con người có mục đích chia sẻ hạnh phúc tuyệt đối của Người. Nhưng hạnh phúc đó không được ban ngay ở đời này, con người còn được đặt trong một thử thách để chứng tỏ tư cách xứng đáng được hưởng hạnh phúc này. Thử thách đó là: được đặt trong một thế giới còn bất toàn, con người được ban cho có lý trí, ý chí, sức mạnh và cả sự nâng đỡ của Thiên Chúa, đó là những tài năng tinh thần mà loài vật không được ban. Cùng với đức tin, con người phải biết sử dụng những tài năng đó một cách khôn ngoan, có hiệu quả, để làm chủ, thắng vượt, chế ngự, tránh né, hoặc ít ra cũng can đảm, kiên nhẫn chịu đựng… Nhờ đó chứng tỏ là một con người trưởng thành, hoàn thiện, xứng với phẩm giá của mình và đáng được hạnh phúc chân thực và vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho sau này.  

b. Liên quan đến khoa học

39. H. Hình như Kinh Thánh của người Công giáo có những điều không phù hợp với khoa học?

Đ. Trong Kinh Thánh có những điều có vẻ phản khoa học, chẳng hạn: vũ trụ được tạo dựng trong vòng 6 ngày, mà thứ tự lại phi lý như có thảo mộc sinh sống trước khi có ánh sáng mặt trời, hay là tuổi tác của các Tổ phụ thọ cả hơn 900 năm, rồi đại hồng thủy ngập cả trái đất v.v… Nhưng ta nên hiểu rằng: Kinh Thánh, văn chương, nghệ thuật, khoa học… mỗi ngành có ngôn ngữ của nó. Ngôn ngữ của khoa học thì hiểu chính xác theo nghĩa đen của văn chương nghệ thuật và Kinh Thánh thì nhiều khi phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa tượng trưng. Đằng khác, Kinh Thánh không có ý dạy khoa học mà chỉ dùng ngôn ngữ đa dạng để trình bày một giáo thuyết siêu việt có tính cụ thể mà thôi.

Hãy lấy thí dụ: Người Việt Nam cũng như người Phương Tây đều nói: “Mặt trời mọc ở đằng Đông”. Nếu hiểu theo khoa học thì hoàn toàn sai! (Trái đất quay chứ mặt trời đâu có di chuyển!) nhưng người ta vẫn cứ nói như thế vì nó diễn tả hiện tượng cách bình dân chứ không phát biểu một chân lý khoa học. Các họa sĩ siêu thực vẽ những bức họa chẳng bao giờ có trong thực tế mà cũng vẫn được khen là tài giỏi!

Trong Kinh Thánh, nhất là những gì xảy ra trước khi có con người, hoặc khi con người chưa có khả năng ghi chép, thì những biến cố đó phải được hiểu về ý nghĩa thiêng liêng hơn là về hiện tượng. Thí dụ: Trong việc tạo dựng: Ý thiêng liêng (Ý chính) là “mọi sự trên vũ trụ này đều nhờ Thiên Chúa mà hiện hữu, chứ không phải ngẫu nhiên mà có”. Đó là điều phải tin. Còn việc dựng nên trong 6 ngày thì chỉ là cách diễn tả, người ta không buộc phải tin y như vậy. Chuyện đại hồng thủy phải hiểu là biến cố đã xảy ra ở một miền nào đó thôi. Tuổi các Tổ Phụ được hiểu là rất cao, nhưng không hẳn phải đúng 930 tuổi như Ađam.

Cũng có những biến cố không hợp với khoa học, vì nó vượt trên khả năng cắt nghĩa của khoa học, như việc Chúa Giêsu Phục sinh, hoặc Người cho kẻ chết sống lại, hóa nước thành rượu v.v…

Nói tóm lại, trong Kinh Thánh: có những phần phải hiểu đúng theo nghĩa đen, nhưng có những phần phải hiểu theo nghĩa ám chỉ, nghĩa thiêng liêng, còn sự việc chỉ là cách diễn tả một chân lý trừu tượng. Không nên nhìn Kinh Thánh (cũng như văn chương nghệ thuật) qua con mắt nhà khoa học.

40. H. Đạo Công giáo làm khựng lại đà tiến của khoa học, chẳng hạn vụ đàn áp nhà bác học Galilê.

Đ. 1. Vụ ông Galilê. Ông Galilê, một nhà thiên văn Công giáo tài ba tạo được kính thiên văn có tầm hoạt động xa, đã chứng minh giả thuyết mới “Trái đất xoay chung quanh mặt trời”. Mới vì trước, cả thế giới vẫn theo thuyết của Ptôlêmê là mặt trời xoay chung quanh trái đất, và Kinh Thánh cũng nói “mặt trời sừng sững mọc lên…”. Qua việc làm này, ông bị một tòa án Giáo hội phạt chịu quản chế sống trong một biệt thự, sách bị liệt vào loại cấm, nhưng vẫn được viết sách và tiếp xúc với mọi người. Nhưng khoảng 30 năm sau, sách của ông được rút khỏi danh mục “sách cấm”. Về chuyện này, công bình mà nói:

- Ông bị phạt về kỷ luật hơn là về tín lý, vì gây xáo trộn, và vì ông đã hứa chỉ viết như một giả thuyết, nhưng đã không giữ lời hứa đó khi in sách. Trong số 7 vị xét xử chỉ có 5 ký tên. Đức Giáo Hoàng không có ý kiến gì.

- Dù sao đây cũng là một điểm đen trong lịch sử Giáo hội, mà lý do chỉ vì một số vị trong giáo quyền bấy giờ đã lầm lẫn giữa lãnh vực đức tin và khoa học trong Kinh Thánh.

2. Giáo hội có cản trở bước tiến của khoa học không?

Hiển nhiên là không mà còn ngược lại:

- Thuyết trái đất xoay quanh mặt trời không phải là thuyết của Galilê đề xuất. Hàng trăm năm trước, người đề xuất là Hồng Y Nicolas de Cuse, và rồi sau đó khoảng nửa thế kỷ: nhà bác học vật lý nổi tiếng, Linh mục Copernic cũng đã chứng minh cho lý thuyết trên. Tiếc là hai vị này không phát minh ra được kính thiên văn để xác minh, nên thuyết đó chưa được chấp nhận. Dầu sao cũng chính các giáo sĩ Công giáo đã mở màn cho lý thuyết hiện đại này.

- Người ta thống kê số nhà bác học nổi tiếng của thế kỷ XIX có khoảng hơn 300, thì số lớn trong đó là người Công giáo. Công nguyên được ấn định từ Giáo hội. Chính Đức Giáo Hoàng Grêgôriô cũng đã đóng góp vào việc ấn định niên lịch hiện sử dụng (vì trước đó có sự tính sai về thời gian).

- Giáo hội lan rộng tới đâu thì ở đó giáo dục, khoa học, nghệ thuật, văn chương… được phát triển mạnh mẽ tới đó. Như tại Việt Nam , chữ quốc ngữ là một công trình quí giá được khởi đầu do một số giáo sĩ Công giáo vào giảng dạy ở Việt Nam . Bao nhiêu công trình điêu khắc nghệ thuật, bao nhiêu sách vở tài liệu giá trị… đang được lưu giữ tại thư viện và viện bảo tàng Vatican đã giúp ích không ít cho thế giới.

Tóm lại, nếu chỉ vì một chấm đen nhỏ bé của vụ Galilê mà phủ nhận công trình đóng góp lớn lao của Giáo hội Công giáo cho khoa học, thì quả là một bất công quá lớn.  

c. Liên quan đến chính trị

41. H. Đạo Công giáo đã làm được gì tốt cho đất nước Việt Nam ?

Đ. Bản chất đạo Công giáo là yêu thương vì Thiên Chúa người Công giáo thờ là Thiên Chúa tình thương. Do đó Giáo hội Công giáo đi tới đâu là gieo rắc tình thương tới đó.

Các hoạt động tình thương của đạo Công giáo tại Việt Nam đại để là:  

1. Về văn hóa, nghệ thuật

- Chữ Quốc Ngữ. Đã bao nhiêu thế kỷ, dân tộc ta muốn có một thứ chữ riêng, dễ nhớ dễ học mà vẫn chưa tạo ra được. Do đó văn tự Trung Quốc khó học, khó nhớ, giữ mãi vị trí bá chủ. Chữ Quốc ngữ dân tộc ta sử dụng hôm nay là do các Linh mục Công giáo, đứng đầu là Cha Alexandre de Rhode hình thành và từng bước hoàn chỉnh dựa vào các mẫu tự La tinh.

Không ai có thể phủ nhận cái giá trị siêu đẳng của công trình này.

Mở mang dân trí . Nơi nào có nhà thờ, là chỗ đó có trường học. Trải qua nhiều thập niên. Giáo hội Công giáo Việt Nam đã đóng góp rất nhiều trong việc mở các trường từ mẫu giáo đến đại học để nâng cao dân trí. Giới trí thức Việt Nam đa số xuất thân từ các trường Công giáo.

- Công trình kiến trúc nghệ thuật. Rải rác khắp mọi nẻo đường đất nước, nhiều thánh đường nguy nga đã mọc lên. Có những kiến trúc tân kỳ như khu Thánh đường Phát Diệm đã góp mặt vào kho tàng văn hóa chung của đất nước.  

2. Về bác ái xã hội

- Nhiều bệnh viện đã được xây cất để phục vụ bệnh nhân.

- Nhiều nhà hưu dưỡng dành cho những người già cả, đơn chiếc và nghèo túng

- Nhiều cô nhi viện nhận và nuôi dạy các trẻ em bị bỏ rơi v.v…

Tại các cơ sở bác ái từ thiện, các bệnh viện công hay tư, các trại cùi… người tu sĩ Công giáo tận tụy hy sinh phục vụ ngày đêm. Họ làm việc vì tinh thần nhân đạo và vì lòng mến Thiên Chúa thể hiện qua những người đau khổ.

Tuy nhiên cái đáng nói nhất là đạo Công giáo dạy cho hàng triệu tín đồ của mình tinh thần đoàn kết yêu thương, đức công bằng chính trực, lòng xả kỷ, vị tha, và nếp sống văn minh tiến bộ…  

42. H. Đạo Công giáo hình như có một quá khứ không tốt đẹp vì có liên hệ với thực dân Pháp trong quá trình đánh chiếm và đô hộ Việt Nam .

Đ. Đọc lịch sử Công giáo, cũng như lịch sử vô tư của nước Việt Nam , chúng ta thấy:

1. Giáo hội Công giáo Việt Nam không bao giờ chủ trương cộng tác với bất cứ thế lực ngoại bang nào để khuynh đảo đất nước hay để dâng nộp xứ sở cho thực dân.

2. Người Công giáo Việt Nam nói chung, trong bất cứ thời đại nào, đều nhiệt tình đóng góp sức nguời sức của, chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Đạo Công giáo du nhập Việt Nam từ thế kỷ XVI, mãi đến thế kỷ XVIII, thực dân Pháp mới nhòm ngó và có ý đồ xâm lăng nước ta. Thời đó việc tìm kiếm thị trường buôn bán và chiếm đất đai hải ngoại làm thuộc địa nổi lên như một phong trào tại các nước Châu Âu. Người Pháp chẳng phải chỉ nhòm ngó có Việt Nam mà còn bao nhiêu nước khác ở khắp các lục địa, đặc biệt là Phi Châu. Như thế nguyên nhân đưa người Pháp đến Việt Nam không phải là đạo Công giáo mà chính là phong trào tìm thuộc địa của các nước Châu Âu.

Cái cớ người Pháp vịn vào để xâm lăng Việt Nam chẳng phải tại các vua chúa Việt Nam cấm đạo mà là vì công dân của họ bị bắt bớ, hành hạ và giết chết. Thực ra chính quyền Pháp đâu có thương mến gì đạo Công giáo hoặc có ý bênh vực gì các công dân đi truyền đạo của họ. Giả như không có cấm đạo, giết tín đồ… thì người Pháp cũng sẽ tìm ra cớ khác mà xâm lăng nước ta thôi. Nhưng đáng tiếc thay, vua chúa triều Nguyễn đã cấm đạo, đã tàn sát dã man đạo đồ, đạo trưởng, trong đó có các đạo trưởng người Pháp! Và đó là cái cớ để thực dân vịn vào mà thôn tính Việt Nam . Công bình mà xét, chính nhà cầm quyền Việt Nam hồi đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái nhục mất nước chỉ vì chính sách sai lầm đến ngu muội của họ đối với tôn giáo.

Trong quá trình thực dân Pháp đánh chiếm và cai trị nước ta, đã có nhiều người Việt Nam và ngoại quốc sống tại Việt Nam cộng tác, làm tay sai cho chúng. Những kẻ gọi là phản bội tổ quốc này đi với giặc cũng tại nhiều nguyên do: tiền tài, danh vọng, địa vị và cả nguyên do bị nhà nước săn đuổi vì đạo nữa. Ngoài cái nguyên nhân theo giặc để được vinh thân phì da đáng kết án, còn thì cứ thông thường mà xét: Nếu trong gia đình anh em ruột thịt cấu xé nhau, cá lớn nuốt cá bé, tất nhiên “cá bé”, để tự vệ, phải cầu cứu người dưng che chở thôi. Lúc đó, cái tội làm tan nát gia đình đâu phải của “cá bé” mà chính là của lũ “cá lớn” vậy!  

d. Liên quan đến các tôn giáo khác.

43. H. Trong truyện yêu thương giữa người Công giáo với người lương, tại sao lại ép người lương trở lại Công giáo?

Đ. Đạo Công giáo là đạo yêu thương (mến Chúa yêu người), mà yêu thương thì không thể bắt ép người ta được. Các bậc lãnh đạo trong Giáo hội hiểu rõ điều đó hơn ai hết nên không bao giờ bắt ép ai nhập đạo và cũng chẳng bao giờ rửa tội cho ai nếu biết họ xin nhập đạo chỉ vì nể nang, sợ sệt… chớ không phải vì thật tâm ước muốn.

- Tuy nhiên trong các cuộc hôn nhân khác đạo, phía Công giáo (cha mẹ hay người phối ngẫu) thường khuyên mời “đối tượng” trở lại đạo của mình, vì những lý do sau đây:

Phía Công giáo tin tưởng đạo mình là chân thật, là tối hảo. Người theo đạo nhờ Lời Chúa dạy và nghị lực Chúa ban mà cố gắng sống cho ra người đức hạnh… Do đó họ thấy rất nên và rất cần giới thiệu đạo mình cho “đối tượng” và muốn “đối tượng” cũng được hưởng các ân huệ của đạo như họ mà trở nên người tốt lành thánh thiện.

- Phía Công giáo nghĩ rằng: “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”. Cái thuận đây, là nếu vợ chồng cùng nhìn về một hướng, cùng đồng hành trên một con đường và cùng chung phương thế cần sử dụng để tiến tới mục đích tối hậu: Hạnh phúc lứa đôi. Đạo Công giáo đáp ứng được cái “thuận” ấy. Phía Công giáo ước muốn cho “đối tượng” cùng có một niềm tin như mình là vì vậy.  

44. H. Cha ông theo đạo nào, ta cũng theo đạo ấy, theo đạo khác dù hay hơn, là bất trung, bất hiếu?

Đ. Tục ngữ có câu: “Con hơn cha là nhà có phước”. Do đó

Nếu con cái học giỏi hơn,
Nếu con cái giàu sang hơn,
Nếu con cái có địa vị hơn, ắt cha mẹ rất vui sướng, rất hãnh diện.
Nhưng nếu cha mẹ đã thất học, đến lượt con cái cũng vẫn dốt nát.
Nếu cha mẹ suốt đời rau cháo, con cái vẫn cứ nghèo mạt,
Nếu cha mẹ đã sống đời đầy tớ, đến lược con cái cũng vẫn chỉ là tay sai, điếu đóm…
Thiết tưởng còn gì khổ đau cho cha mẹ hơn!

Bất trung bất hiếu

- Là nếu con cái bỏ đi mọi nề nếp gia phong mà chạy theo những thuyết lai căng, hết còn tín ngưỡng vào bất cứ tôn giáo nào.

- Là nếu con cái làm ngược ý cha mẹ, lao mình vào ăn chơi trác táng, biếng nhác học tập, lưu manh côn đồ… vừa phá tán sản nghiệp cha mẹ đã khổ công gây dựng vừa bôi tro trét trấu lên danh dự của tổ tiên.

Là nếu con cái khờ khạo đến nỗi không dám ở nhà lầu, không dám đi xe máy, xe hơi, không dám học hành đỗ đạt cao, không dám sử dụng những thành quả tiến bộ của khoa học hiện đại… Chỉ vì xưa kia cha mẹ nghèo khổ, ở nhà tranh, đi chân đất!...

Về phương diện đạo giáo cũng vậy, nếu con cái tìm được chân lý mà theo… cha mẹ sẽ mỉm cười sung sướng vì thấy con cái may mắn hơn mình, khôn ngoan hơn mình, phúc đức hơn mình. Ngược lại nếu cứ nhất định không theo vì nghĩ rằng: “Cha mẹ đạo nào, con đạo ấy” thì chắc chắn cha mẹ sẽ buồn khổ y như trường hợp thấy con cái nhất định không chịu đi giày chỉ vì cha mẹ xưa kia suốt đời đi chân đất!  

45. H. Tôi muốn theo đạo vì thấy rõ là Chân lý, nhưng chỉ ngại mang tiếng là theo đạo vợ (hay đạo chồng).

Đ. Không phải hễ biết Chúa, hễ hiểu Thánh Kinh, có khi thuộc lòng nhiều câu nhiều đoạn… là đương nhiên có đức tin, có thể trở thành người có đạo!  

Đức tin phải do Chúa ban cho mới được. Thiên Chúa lại ban đức tin cho người ta qua rất nhiều hình thức: có người mãi đến tuổi hoa niên mới được nghe nói về Đức Kitô, rồi tìm đọc Phúc âm để hiểu biết thêm, cuối cùng mộ mến và tin theo Ngài. Có người bị tai nạn hay bệnh tật vào nằm bệnh viện, may mắn được một y tá tận tình chăm sóc. Hỏi ra thì mới biết y tá đó là một tín đồ thuần thành của Chúa v.v… Vì mến người y tá đó mà họ mến đạo của người ấy luôn.

Riêng bạn, có lẽ trước đây chưa bao giờ bạn nghĩ đến Chúa. Nhưng Chúa thì vẫn nghĩ đến bạn và đã tạo cơ hội cho bạn gặp một người Công giáo (vợ hay chồng của bạn) để rồi từ một tình thương trong sáng giữa hai người, bạn tìm hiểu Chúa và cuối cùng quyết tâm theo Chúa!

Công giáo là đạo chung của mọi người, của tôi cũng như của bạn. Người bạn trăm năm của bạn chỉ là “cơ hội” giúp bạn tìm gặp Chúa như bao nhiêu trường hợp của những người khác. Như thế thì đâu còn lý do để bạn “ngại mang tiếng theo đạo vợ (hay đạo chồng)”.

Phụ lục

Thông cáo của các Giám mục về lễ nghi tôn kính ông bà tổ tiên

Chúng tôi, các Giám mục chủ tọa khóa hội thảo VII về Truyền bá Phúc âm toàn quốc, tại Nha Trang từ ngày 12-14/11 /1974, đồng chấp thuận cho phổ biến và thi hành trong toàn quốc, những quyết định của Ủy ban Giám mục về Truyền bá Phúc âm ngày 19/4/1972, chiếu theo thư chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 14/6/1965, về các lễ nghi tôn kính ông bà tổ tiên như sau:

Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng, hội nghị nhận định: “Những cử chỉ, thái độ, lễ nghi có tính cách thế tục, lịch sự xã giao, để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động” (Thông cáo HĐGMVN, 14/6/1965).

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch…

2. Việc đốt hương nhang, đèn nến, trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ gia tiên và giường thờ tổ tiên, là những cử chỉ, thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã… và giảm thiểu, canh cải những lễ vật để biểu dương ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rễ được làm “Lễ tổ, lễ Gia Tiên” trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà.

5. Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng như Giáo hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng, quen gọi là “Phúc thần” tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc, hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”.

Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm, nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu, khích lệ, thông cảm… Đối với giáo dân cần phải giải thích cho hiểu việc tôn kính tổ tiên và những vị anh hùng liệt sĩ, theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyền “Phải thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.

Tại Nha Trang, ngày 14-11-74

Đồng ký tên:

- Philipphê NGUYỄN KIM ĐIỀN, TGM. HUẾ
- Giuse TRẦN VĂN THIỆN, GM. MỸ THO
- Giacôbê NGUYỄN VĂN MẦU, GM. VĨNH LONG
- Giacôbê NGUYỄN NGỌC QUANG, GM. CẦN THƠ
- Phanxicô X. NGUYỄN VĂN THUẬN, GM. NHA TRANG
- Phêrô NGUYỄN HUY MAI, GM. BAN MÊ THUỘT
- Phaolô HUỲNH ĐÔNG CÁC, GM. QUI NHƠN.
3261    15-04-2012 20:37:46