Sidebar

Chúa Nhật

14.07.2024

Đức Thầy Vêrô_10


Bia trước lăng của Đức vua Gia Long,

Nguyên chữ nho dịch ra chữ quốc ngữ

 

KỂ TÍCH

Có người Thầy cả lớn quờn ở bên Tây, ên là Pinho, hiệu là Vêrô,

Thuở bé thơ đã học hành đạo lý trung quốc,

Thông suốt các kinh văn thánh hiền toàn hảo.

Đến tuổi khôn qua nước Việt Nam Ta,

Nhằm khi trong nước Ta đang phải đa đoan.

Người là khách tha bang, mà đã làm Thầy trong nước Ta.

Người đã tỏ bày tài văn học mình ra mà làm việc.

Vậy đã chung cùng ưu tư vối nhau,

Trong cơn nhà nước loạn ly hỗn độn.

Lại đã dành nấy phú việc đại sự cho người,

Làm Thầy nhà nước, mà đi viện binh giúp nước.

Thật người tận tâm tận lực, mà đi qua đi lại,

Hơn hai mươi năm gian nan cực khổ.

Người đã bày vẽ việc binh cơ đồ trận,

Chỉ cách xây thành, lập trấn.

Nhứt thiết các việc chỉ khởi bày gầy dựng,

Thì nhờ có người bày biểu,

Mà truyền để cho tới đời sau.

Bởi đó nước Ta đã đặng nhiều cách thế mà thạnh.

Vì có người làm Thầy có tài sức lắm.

Năm Kỷ Vì,

Người đã theo việc binh mà tới thành phủ Qui Nhơn.

Sang tới ngày mười một tháng chín,

Thì người đã tạ thế tại đó, là nơi bên cửa Thị Nại.

Khi ấy nguời đã đặng 57 tuổi.

Qua mạnh dông (tháng mười một),

Thì đặng sắc phong làm Thái Tử, Thái Phó Quận Công.

Đã chọn chôn xác người tại phía bắc thành Gia Định.

Vậy nơi xây đắp nầy là chốn nghỉ,

Cho đấng Thầy nhà nước đã mạng cố.

Nầy thật là dấu tích muôn đời.

Năm Canh Thân (1800)

Trọng thu, tháng tám, ngày lành, đã dựng bia.

Sắc tặng, cũng chữ nhu làm ra chữ quốc ngữ, cũng của Đức vua Gia Long.

Có sắc rằng:

Người hiền ngõ tôi đã quen biết xưa,

Chẳng nại đàng xa ngàn dặm mà tới,

Đang hội giao rất tốt,

Mà sao lại nỡ một buổi mà mất đi!

Tưởng đến đức cũ,

Nên rõ ra ơn nước Phalangsa phong chức:

Riêng Sai Thông Lịnh Sửa Sang Theo Ý Minh,

Tàu Chiến Thủy Bộ Binh Giúp,

Là Giám Mục Vêrô,

Là Thầy cả lớn quờn bên đất Tây,

Là khách nhứt hạng trong nước Việt Nam .

Ngày mới khởi cầm quờn, đã may gặp bạn rất lành.

Tin tưởng nhau lúc ban đầu còn u ám.

Ta đã kề tiếp đức âm người mà hỏi han,

Thì thật rất nhờ lắm.

Trong cơn nhà nước mắc nhiều hoạn nạn,

Trẫm khi ấy cực khổ trèo non vượt núi,

Cũng như đời nhà Hạ, vua Thiếu Khương.

Vậy đã khiến trở trời biển hai đàng,

Ông của Trẫm tin nghe theo, khác nào chức A Bảo,

Của Thái tử đời nhà Hán.

Tuy lời qua lại tỏ đã yên với nước tổ phụ,

Lấy binh đến giúp.

Nửa chừng việc với lòng trái nhau.

Song người đồng cừu, thì tính làm theo việc người:

Thà vì ngãi mà trọn với nhau..

Đều tựu hội lo mưu theo dịp dấy loạn ấy.

Năm Mậu Thân,

Trở về nước cũ mình thì rất trông tiếng tốt.

Năm Canh Tuất, thì cỡi thuyền lại chốn Đông Phò.

Khi ấy càng hậu lời giao ước hơn.

Thật rất phải đạo thầy dạy nuôi trẻ thơ ấu.

Thường ngày tiếp rước, hằng bày ra mưu lạ,

Mà yên trong cơn loạn rối.

Việc đạo đức, trong lời nói, tiếng cười,

Và ngãi nhơn đã hiệp nhau, như trâm với tóc vậy.

Việc kinh luân ngoài phong trần,

Tình rất tin nhau như liền dây cương,

Trước sau một lòng ngay thật, không hai.

Sinh ra mà gặp điều lạ thì đồng vui.

Những trông hẹn, trải qua năm tuổi tác lâu dài,

Mà vui vầy cùng nhau.

Ai dè bụi tro lại lấp chôn cây ngọc!

Ta thầm tới đó mà tặng phong

Làm chức Thái Phó, Tước Pinho Quận Công.

Lại thêm tặng hàm ân rằng:

Ngay Thật, Tốt Lành.

Cho đặng tỏ mùi thơm đức lớn kẻ đã khuất đời.

Và ngõ nên công nghiệp cả kẻ khách lành.

Hỡi ôi! Cái sao khách đêm sa!

Đi chốn thiên đàng khôn cầm lại,

Một chữ tặng khen thì rất lịch sự,

Như là mặc áo cẩm bào cho vậy.

Bởi tình Trẫm chẳng nguôi,

Hỡi ông thiêng liêng!

Đã gội nhuần Ta ơn sáng.

Nay Sắc phong.


Chôn cất xong việc Đức Thầy,

Xây lăng, đắp mả, để rày hậu lai.

Cây gỗ trọng, tạo lâu dài, 1575

Rõ ràng con thấy, ngày nay vững vàng.

Bia bài dựng để giữa lăng,

Tạc đề chữ thắm, chữ vàng, sắc phong.

Bá Đa Lộc trọng hết lòng,

Ấy là tên bụt, tặng khong khen người, 1580

Lưu danh thiên cổ để đời;

Chức thời Thái phó, chức thời Quận công.

Tặng đà gần bực ngôi rồng,

Bởi vua thương mến, bởi công nghiệp đầy.

Quân sư hồn ở thiên đài, 1585

Vua ban trọng kính là Thầy Nam phương.

Vua ngự bút, tiếng phi thường,

Biết ơn, cám nghĩa, khó lường, khó biên.

Năm mươi quân cấp thường xuyên,

Giữ lăng xem sóc, cần chuyên trau giồi. 1590

Ngày sau Minh mạng lên ngôi,

Mười ba năm mới bãi thôi giữ rày.

Đức vua còn nhớ Đức Thầy,

Kế Tây Sơn đã chuyến nầy làm hung,

Hùng binh trăm vạn kéo cùng, 1595

Đánh đồn, phá lũy, đùng đùng oai danh.

Ngụy vây Bình Định hãm thành,

Tờ tin phi báo chẳng lành khốn thay!

Đức vua thủy bộ cự ngay.

Súng hai bên bắn, chết nay muôn ngàn. 1600

Đánh trót năm, khó nỗi đang,

Binh vua mười vạn tai nàn mà ghê.

Vua quan bàn tính trăm bề,

Bỏ thành Bình Định, chỉ đề Huế kinh.

Tới nơi xuất trận lôi đình, 1605

Đánh Tây Sơn riết, muôn binh trốn đầy.

Tai nghe binh ó vang dầy,

Trống chiêng đánh giục, phủ vây bịt bùng.

Thổi kèn, cờ phất đã cùng,

Xông vào bắn vải khắp xung quanh thành. 1610

Tây Sơn khó nỗi đấu tranh,

Bởi vì binh mỏng thất thanh chạy dài.

Vua Cảnh Thịnh trốn bỏ ngai,

Nguyễn Ánh vào Huế, mừng nay không cùng.

Ngụy vây Bình Định tứ tung, 1615

Thương ôi! Võ Tánh bị trùng vô phương.

Ăn voi, ăn ngựa, hết lương,

Mặc đồ triều phục, toan đương hại mình.

Cả kêu tướng ngụy tỏ tình,

Xin đừng có giết, hành hình quan binh. 1620

Dặn dò bá tánh chư dinh,

Lên giàn chịu cháy; ngụy binh dăng thành.

Vua nghe, thương tiếc hùng anh,

Hai năm cầm cự, nay đành liều thân.

Khóc than, thương nhớ muôn phần, 1625

Đạo làm thần tử ưu quân nỗi nầy!

Trung thần mãn số chịu vây,

Xương tàn, cốt rụi, lửa vầy đốt ngay.

Ngụy quan lấy lại thành nầy,

Ở trong Gia Định ngày nay bất tường. 1630

Đông Cung Cảnh trấn Nam phương.

Người rày lên trái, bỏ đường kế vương.

Nhiều khi Hoàng tử toan đương,

Lúc còn mạnh mẽ, lo lường không an,

Tỏ cùng Giám mục nhiều đàng, 1635

Lòng buồn việc đạo mở mang chưa thành.

Ước trông sau sẽ ban hành,

Ước trông sau đặng ơn lành kế ngôi:

Ước trông sau hết dân tôi

Trở về đạo Chúa, hỡi ôi! Việc nầy. 1640

Từ khi ở cách Đức Thầy,

Thì theo xác thịt, tỏ bày vui say.

Ngày nay lâm phải bịnh nầy,

Mới lo nhớ Chúa, lòng rày chẳng khuây.

Ăn năn tội lỗi bấy chầy, 645

Cậy ông quan nhỏ rửa nay tội liền.

Hai mươi hai tuổi bỏ quyền.

Cha Nghi, người cũng qui thiên năm nầy.

Cha nầy công cả ai tày,

Cứu hồi vua khổ, giúp ngày ngụy vây. 1650

Vua thương, vua khóc dẫy đầy,

Vua phiền nhiều nỗi, trông ngày thới lai.

Khi vua lấy Huế lại đây,

Hai em Cảnh Thịnh bị nay bắt liền.

Phò mã Trị khó thăng thiên, 1655

Cũng đều bị bắt; vua truyền lịnh ra,

Đem vô Bình Định cả ba,

Ngụy quan xem thấy, hãi mà hồn kinh.

Đức vua rao khắp quan binh,

Tây Nam vây phủ, chớ đình huởn ra. 1660

Ngụy quan khi ấy bôn ba,

Bỏ thành Bình Định lén mà trốn đi.

Bấy lâu cực khổ xiết chi,

Đánh đà nhiều trận, nay thì mới xong.

Sớ tâu về trướoc bệ rồng, 1665

Vua hay mừng rỡ ngoài trong cơ đồ.

Ngụy vương nay đã đơn cô,

Chạy ra tỉnh Bắc, cải hô hiệu rày.

Bửu Hưng đặt lấy điềm may,

Lại sai quan sứ tâu bày vua Thanh. 1670

Xin binh cứu giúp đấu tranh;

Vua Tàu không chịu, bất thành, bất thanh.

Vua nay tu bổ hoàn thành,

Đình thần dưng sớ biển danh nước nhà.

Xin tức vị, hoàng đế tòa, 1675

Gia long đặt hiệu, chánh mà ngôi cao.

Bấy lâu văn võ ước ao,

Nay mừng chúc thọ, tống trao, nội trào,

Ra ân xá, khắp hết bao,

Thưởng quan, tha thuế, lịnh rao rành rành. 1680

Nguyễn vương nay mới ngự hành,

Trăm muôn binh sĩ kéo quanh các thành.

Đánh Bửu Hưng với các danh tướng cùng.

Giết hết ráo, tuyệt giặc hung, 1685

Kho tàng của cải về chưng vua rày.

Bạc, vàng, voi, súng vào tay,

Giặc nầy quét sạch ngày nay làu làu.

Đánh ngàn trận, chẳng phải mau;

An Nam mà giết với nhau làm vầy! 1690

Bốn mươi năm đã gần đầy

Nay qui nhứt thống về rày Nguyễn gia.

Bốn phương thâu lại một nhà,

Thanh bình nền đế trọn mà gần xa.

Phước nên khắp hết sơn hà,1695

Từ Nam chí Bắc nước nhà rộng thay.

Nước Nam từ có đến nay,

Một mình vua đặng gồm rày nhứt phương.

Công vua cao trọng ai bường:

Lao đao, cực khổ thảm thương trăm đàng. 1700

Lúc còn nhỏ, chịu cơ hàng,

Trèo non, vượt biển, gian nan muôn ngàn.

Lớn lên, văn võ lưỡng toan,

Cầm binh, tuyển tướng, ai đang, ai bì!

Các quan tây, khen thiếu gì, 1705

Siêng năng, khôn khéo, bá công,

Xứng vì vương đế, ngai rồng đáng ngôi.

Ngày nay cực khổ qua rồi;

Lọng tàn che phủ, trống hồi nhạc rung. 1710

Kỉnh thiên vua ngự chánh cung,

Thăng Long, Hà Nội, thùng thùng tiếng tung.

Bá quan triều hạ khắp cùng,

Lớp về bái mạng triều trung đã đầy.

Cẩm trướng giăng, cửa ngọc vầy, 1715

Kim lầu vua ngự, sắp bày nghiêm trang.

Nguyễn vương phán chỉ chiếu vàng,

Tống ra lời dụ, cho an, cho bình.

Kẻ làm giặc tới hạ mình,

Trở về đầu thú; xuống tình thứ tha. 1720

Dòng Lê, dòng Trịnh, hai nhà,

Vưng đam khí giái hàng mà Nguyễn gia.

Thưởng quan, thưởng tướng gần xa,

Bạc, vàng, gấm, nhiễu, phát mà nơi nơi.

Cố hương cho lính phản hồi, 1725

Lớp thời ban thưởng, cho thời thảnh thơi.

Tiệc bày vui đã trong đời.

Giải lao tướng sĩ, ban lời khen vang.

Thuế tha, ân xá nhiều đàng,

Đặt quan các tỉnh, sửa sang trong ngoài. 1730

Luật ra nhiều khoản an bài,

Ngự về kinh Huế, hưởng ngai ngôi rồng.

Bốn phương nam, bắc, tây, đông,

Sĩ, nông, công, cổ, đều đồng chúc vinh.

Đại Nam Việt quốc thinh thinh, 1735

Nguyễn gia ngự vị, thái bình muôn năm.

 

 

 

1317    16-03-2011 09:56:11