Sidebar

Thứ Ba
05.07.2022

Gia Huấn Ca_01


GIA HUẤN CA
Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu là Ức Trai, là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Quê ông là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương và về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi, xã Nhị Khê, tỉnh Hà Tây. Ông là con trai của ông Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán.

Ông đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo để lật đổ ách thống trị của nhà Minh, là quân sư đắc lực của Lê Lợi (vua Lê Thái Tổ sau này) trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh cho Lê Lợi.

Năm 1433, sau khi vua Lê Thái Tổ mất, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Kiếp Bạc, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.

Toàn thể gia đình ông bị giết (tru di tam tộc) năm 1442 sau khi vua Lê Thái Tông chết đột ngột ở Lệ Chi Viên (Gia Lương, Bắc Ninh ngày nay) do có vợ thứ của ông là Nguyễn Thị Lộ theo hầu.

Mãi đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới xuống chiếu giải oan cho ông. Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của ông, UNESCO đã công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới.

Các tác phẩm văn thơ:
Ông trước tác rất nhiều, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm, song đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên. Nguyễn Trãi là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến, điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập.

Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1417-1427). Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của đất nước ta cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
(trích theo bản dịch của Ngô Tất Tố)

Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục, coi là "thiên cổ hùng văn".
Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí.
Tác phẩm Gia Huấn Ca được người đời truyền tụng và cho là của ông, nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng.


LỜI MỞ ĐẦU

Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghỉ,
Hễ làm người dạy kỹ thì nên,
Phấn son cũng phải bút nghiên,
Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào.


DẠY VỢ CON

Nhân thong thả lựa vần quốc ngữ,
Làm bài ca dạy vợ nhủ con:
Lời ăn nết ở cho khôn,
Chớ nên đa quá, đa ngôn chút nào!

Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt,

Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông,
Một vừa hai phải thì xong,
Giọt dài giọt ngắn cũng không ra gì?

Khi đứng ngồi chứ hề lơ lẳng,
Tiếng nhục nhằn nữa nặng đến mình,
Hạt mưa chút phận lênh đênh,
Tấm son tạc lấy chữ trinh làm đầu.

Kìa mấy kẻ làu làu tiết ngọc,
Đem sắc danh nguyện lúc lửa châm,
Con hiền cha mẹ an tâm,
Một nhà khen ngợi, nghìn năm bia truyền.

Nọ những kẻ nước nguyền non hẹn,
Thấy mùi hoa bướm nghển, ong chào,
Miệng đời dê diếu biết bao,
Đông ra quốc pháp, nhục vào gia thanh.

Đem người trước lấy mình ngắm lại,
Khôn ba năm đừng dại một giờ,
Đua chi chén rượu câu thơ,
Thuốc lào ngọt nhạt, nước cờ thấp cao.

Đám dồi mỏ ra vào săn sóc,
Lại bài phu, tam cúc, đánh đinh,
Đố mười, chẵn lẻ, đố kinh,
Tổ tôm, kiệu chắn, sám quanh tứ chiều.

Đi đứng đắn, chớ điều vùng vẫy,
Khi tối tăm đèn phải phân minh,
Hoặc khi hội hát linh đình,
Được lời dạy đến thì mình hãy ra.

Ra phải có mẹ già em nhỏ,
Đừng đánh đàn, đánh lũ không hay,
Nói đừng chau mặt, chau mày,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào!

Của tằn tiện, chắt chiu hàn gắn,
Khách buôn tàu chưa hẳn nơi đây !
Cũng đừng vắt nước cổ chày,
Tiếp tân tế lễ là ngày nên hoang.

Ăn ở chớ lòng mang khoảnh khắc,
Mua bán đừng điêu trác đong đưa,
Mua đừng ráo riết quá lừa,
Bán đừng bo xiết, ích ta hại người.

Chớ tắt mắt của người kém cỏi,
Đừng đảo điên có nói làm không,
Giàu sang cũng chớ khoe ngông,
Miễn mình ấm phận chớ lòng khinh ai.

Khó khăn chớ vật nài oán hối,
Hết bĩ rồi tới buổi thái lai,
Cầm cân, tạo hóa đổi dời,
Giàu ba họ, khó ba đời mấy ai?

Đừng học cách tham lời đặt lãi,
Lợi kẻ cho thì hại kẻ vay,
Dễ dàng nợ phải lay nhay,
Đến đầu đũa quá, e cay đắng nhiều.

Hoặc lỡ thiếu phải điều lĩnh tạm,
Dù ít nhiều liệu sớm tính xong,
Chẳng nên mê mẩn hơi đồng,
Qua lần cho khỏi thì lòng mới nguôi.

Thói mách lẻo, ngồi rồi bỏ hết,
Hễ điều gì nói ít mới hay,
Lân la giắt rợ, giắt rây,
Đã hư công việc, lại dày tiếng tăm.

Việc chợ búa chăm chăm chúi chúi,
Buổi bán xong liệu vội ra về,
Cửa nhà trăm việc sớm khuya,
Thu va thu vén mọi bề mới xong.

Phòng những kẻ có lòng gian vặt,
Nhỡ xảy ra một mất mười ngờ,
Tiếc thầm đứng ngẩn, ngồi ngơ,
Đau buồn thôi lại đổ cho tại trời.

Từ chốn ở, nơi ngồi thay thảy,
Rác ngập đường nhìn vậy chan chan,
Ai vào rác ngập ướt chân,
Bát mâm tơi tả chiếu chăn đầy giường.

Tuy khó rách, giữ gìn thơm sạch,
Có hay gì chiếu lệch bụi nhơ,
Đồ ăn thức nấu cho vừa,
Thường thường giữ lấy muối dưa ngon lành.

Nghề bánh trái chiều thanh vẻ lịch,
Cũng học dần thói cách người ta,
Vá may giữ nếp đàn bà,
Mũi kim nhỏ nhặt mới là nữ công.

Thủa tại gia phải tòng phụ giáo,
Khi lấy chồng giữ đạo chính chuyên,
Lại là hiếu với tổ tiên,
Những ngày giỗ tết không nên vắng nhà.

Đồ cúng cấp hương trà tinh khiết,
Theo lễ nghi khép nép, khoan thai,
Ăn nhiều ăn ít cho rồi,
Nhớ điều ghẻ lạnh lễ thôi lại về.


VỚI MẸ CHA

Dù nội, ngoại hai bề cũng vậy,
Đừng trành hanh bên ấy, bên này,
Cù lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.

Bởi thương đến mới năng mắng quở,
Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
Ân cần kẽ tóc, chân tơ,
Tấm lòng chép để mấy lời tạc ghi.

Đừng nặng nhẹ, tiếng chì tiếng bấc,
Đừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
Có thì sớm tiến trưa dâng,
Cơm ngon canh ngọt cho bằng chị em.

Dù chẳng có thì yên một phận,
Người trên ta há giận ta sao!
Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
Đánh đằng cửa trước, chạy vào cửa sau.

Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
Xem cháo cơm, thang thuốc mọi bề,
Ra vào thăm hỏi từng khi,
Người đà vô sự, ta thì an tâm.

Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi,
Đừng điều tranh cạnh chia bai,
Xấu trong làng nước, để cười mai sau.


VỚI CHỒNG

Đạo vợ chồng tình sâu nghĩa ái,
Lại chẳng nên mặt tái, mày tăm,
Chuyện đâu bỏ đấy cho êm,
Đừng đem bên ấy về gièm bên ta.

Sách có chữ "nhập gia vấn húy",
Khi nói năng phải kỹ kiêng khem,
Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,
Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà.

Chớ nên cậy mình ta tài sắc,
Chồng nói ra nhiếc móc chê khen.
Nói càn như ở bậc trên,
Thường khi động đến tổ tiên quá lời.

Cơn giận đến, sự đời ngang ngửa,
Dở dói ra nát cửa tan nhà,
Chữ "tùy" là phận đàn bà,
Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài.

Dù lỗi phận gặp người tửu sắc,
Hay gặp người cờ bạc lưu liên,
Nhỏ to tiếng dịu lời êm,
Dần dà uốn mãi may mềm được chăng !

Phải chồng ngược, cắn răng chịu khổ,
Chớ nghiêng đầu, ngảnh cổ thiệt thân,
Duyên may gặp được văn nhân,
Thuộc câu "tương kính như tân" làm lòng.

Nghiệp đèn sách khuyên chồng sập sã,
Tiếng kê minh gióng giả đêm ngày,
Khuyên chồng nhớ đến đạo thầy,
Vật dâng lớn nhỏ gọi nay lễ thường.


VỚI VỢ LẺ

In lấy chữ tao khang chi nghị,
Đừng mang câu đố kỵ chi thường,
Dây bìm cho tựa cành vàng,
Trước chàng đẹp mặt, sau nàng đỡ tay.

Câu "đường cái" xưa nay cũng vậy,

Trai làm nên lấy bảy lấy ba,
Lấy về hầu hạ nhà ta,
Thêm hòe, nẩy quế có là con ai?

Cũng da thịt cũng tai mắt thế,
Kém ta nên phận ế hoa ôi,
Nghĩ tình ăn cạnh nằm ngoài,
Ấm no nên xót lấy người bơ vơ.

Thế mới phải phép thờ phu tử,

Ấy mới là đạo xử hài hòa,
Chữ "Tùy" rắn khúc nghi gia,
Môn đường thong thả, một nhà vẻ vang.

VỚI BẠN HỮU CỦA CHỒNG

Kìa những đứa mặt thường cau có,
Khách đến nhà chửi chó mắng mèo,
Cất lời nặng cỡ đá đeo,
Đã ra thét tớ lại vào mắng con.

Khách về đoạn sợ mòn mất chiếu,
Chồng ra đường chẳng kẻo mặt mo!
Hễ ngày bạn hữu giao du,
Sai người trải chiếu, sắp đồ tiếp ra.

Dù trăm giận thì ta để bụng,
Có trọng người mới trọng chồng ta.
Tùy người thết đãi rượu trà,
Nhớ rằng: Của gửi chồng ta đi đường!

VỚI CHỊ EM

Ấy là vẹn cương thường bằng hữu,
Lại phải tường trong đạo chị em,
Đạo em thì phải trông lên,
Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều.

Miếng bùi ngọt chia đều như một,
Khi nắng mưa ấm sốt đỡ tay,
Với nhau như bát nước đầy,
Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà!

Đạo thúc tẩu một nhà minh bạch,

Lánh hiềm nghi tăm tích rõ ràng,
Trộm trông bóng đuốc Vân Trường,
Nức danh ba nước treo gương muôn nhà.


VỚI TRONG HỌ NGOÀI LÀNG

Cả trong ngoài cùng là đàn cháu,
Xem như con yêu dấu chẳng sai,
Đồng quà, tấm bánh hôm mai,
Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.

Từ họ mạc, láng giềng, hàng xóm,
Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,
Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm,
Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.

VỚI NHỮNG KHI SẢN DỤC

Ấy ngôn hạnh các lời hằng giữ,
Lại cần điều cư xử cho tuyền,
Hễ ngày sóc, vọng, hối, huyền,
Cùng ngày nguyệt tín phải khuyên dỗ chồng.

Khi thai sản trong phòng gìn giữ,
Học cổ nhân huấn tử trong thai,
Dâm thanh chớ để vào tai,
Ác ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!

Từ xuất nhập, khởi cư, hành động,
Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh,
Đứng ngồi chính đại quang minh,
Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch mình.

Chớ vịn cao cũng đừng mang nặng,
Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều,
Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.

Khi sinh nở thai hòa vô sự,
Cẩn từ khi trong cữ ngoài tuần,
Chiều sương chớ để áo quần,
Đỉnh đầu phải cúi, bước chân phải dò.

Nơi bếp vách đừng cho hơ lửa,
Ngọn đèn hoa chớ quở quá ngôn,
Kiêng khem trăm sự vuông tròn,
Trước mình yên dạ, sau con ít sài.


VỚI CON CÁI

Ngày con đã biết chơi biết chạy,
Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao,
Đừng cho chơi búa chơi dao,
Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày.

Lau cho sạch không hay dầm nước,
Ăn cho vừa, đừng ước cao lương,
Mùa đông tháng hạ thích thường,
Đừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con.

Dạy từ thu ở hãy còn trứng nước,
Yêu cho đòn bắt chước lấy người,
Trình thư a, vâng dạ , đứng ngồi,
Gái trong kim chỉ , trai ngoài bút nghiên.

Gần mực đen, gần đèn thì sáng,
Ở bầu tròn, ở ống thì dài,
Lạ gì con có giống ai,
Phúc đức tại mẫu là lời thế gian.

Làm m ẹ chớ ăn càn, nói dở ,
Với con đừng chửi rủa quá lời,
Hay chi thô tục những người,
Hôm nay cụ cụ , ngày mai bà bà.

Gieo tiếng ra chết cây, gãy cối,
Mở miệng nào có ngọn có ngành,
Đến tay bụt cũng không lành,
Chồng con khinh rẻ , thế tình mỉa mai!


Ấ y những thói ở đời ngông dại,
Khôn thì chừa, mới phải giống người,
Sinh con thì dạy thì nuôi,
Biết câu phải trái lựa lời khuyên răn.

VỚI DÂU RỄ

Tuổi cả khôn, hôn nhân trạch phối,
Giàu đừng tham, khó đói chớ nề,
Dâu hiề n, rể thảo tìm về ,
Xem tông xem giống kẻo mê mà lầm.

Xử với rể một niềm kính trọng,
Dù dở hay, đừng giọng mỉa mai,
Với dâu, dạy bảo phải lời,
Bắt khoan bắt nhặt, biết ai cho vừa!

VỚI TÔI TỚ

Gương giáo tử nhường đưa mặt nhận,
Mực trì gia đặt hẳn ân uy,
Bọt bèo là phận nô t ỳ ,
Dạy nghiêm, ở thảo hai bề vẹn hai.

Có câu ví "Chiều người lấy việc",
Chẳng há nên ráo riết người ta,
Hay thì nó ở lâu ra,
Dở thì nó bước nào ta bận gì.

Một đôi kẻ phải khi lỡ độ ,
Có thì cho chẳng có thì thôi,
Chẳng nên nhiếc mắng nhiều lời,
Cơ hàn hầu dễ có ai muốn gì.


1386