Sidebar

Thứ Hai
29.11.2021

PHẦN PHỤ TRƯƠNG

I. TÌNH HÌNH VÀ THÁCH ĐỐ VIỆC DẠY GIÁO LÝ NGÀY NAY

1. Nhận định về tình hình Dạy Giáo lý ngày nay

Có những dấu hiệu tốt: Nhiều giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân dấn thân vào hoạt động Dạy giáo lý cách hăng say và thường xuyên hơn.
Việc Dạy giáo lý hướng tới đức tin và truyền giáo hơn.
Quan tâm hơn để phát triển Dạy giáo lý cho người lớn
(ở Việt Nam chưa đủ).
Dạy giáo lý có chiều sâu và chất lượng hơn: đặt Chúa Kitô làm trung tâm, chú ý đến lịch sử cứu độ, đến đức tin các vị.

Những bóng tối tồn tại: Quan niệm về Giáo lý chưa đúng, vì còn theo quan niệm Dạy giáo lý "cổ điển", chưa đổi mới, nghĩa là coi giáo lý chỉ dành cho trẻ em, chỉ là dạy học cho thuộc lẽ đạo để lãnh các Bí Tích, thuộc lòng các Kinh để đọc... Đa số chưa có quan niệm Dạy giáo lý là giáo dục đức tin, là tập sống đời Kitô hữu. Việc Dạy giáo lý cho người lớn và trẻ nhỏ còn bỏ ngỏ
Dạy giáo lý có tham khảo Thánh Kinh nhưng chưa coi trọng Thánh Truyền và Huấn Quyền
(bên Tây Phương)
Trình bày về cùng đích của giáo lý chưa quân bình. Cùng đích của giáo lý là Hiệp Thông với Chúa Kitô, nhưng có khi chỉ nhấn mạnh đến Chúa Kitô là Thiên Chúa thôi, có khi chỉ nhấn mạnh đến Chúa Kitô là người thôi.
Về nội dung Giáo lý còn những thiếu sót, khi trình bày về Thiên Chúa, về con người, về tội lỗi, về ân sủng, về tứ chung. Dạy giáo lý về luân lý chưa vững chắc. Về lịch sử Giáo Hội và về giáo huấn xã hội của Giáo Hội chưa được quan tâm đúng mức.
Dạy giáo lý chưa được kết hợp với hoạt động Phụng Vụ và Bí Tích, không nói gì tới năm Phụng Vụ và các cử hành Phụng Vụ.

Về Sư phạm giáo lý, vì muốn thay đổi lối Dạy giáo lý cổ điển, nhiều người quá chú trọng đến các phương pháp và kỹ thuật của loài người, mà không tìm hiểu và quan tâm đến sư phạm của Thiên Chúa, sư phạm đức tin. Sư phạm chỉ chú ý đến nội dung và phương pháp: hoặc có nội dung tốt là đủ và dùng phương pháp nào cũng được, nên coi nhẹ phương pháp; hoặc theo một phương pháp đã chọn rồi không cần đến sư phạm của đức tin (phương pháp hoạt động).

Chưa quan tâm đến bối cảnh văn hoá tôn giáo khi truyền giảng đức tin, chưa chú trọng đến hội nhập đức tin vào văn hoá của người nghe.

Dạy giáo lý có huấn luyện để làm việc tông đồ và truyền giáo, nhưng còn huấn luyện để làm chứng, để đối thoại với các tôn giáo bạn, để dấn thân vào xã hội, để truyền giáo cho người lương thì còn rất yếu và chưa đủ.

2. Nhận định về việc Dạy giáo lý cổ điển

Đây là nhận xét của 60 Giám Mục và 150 chuyên viên về Dạy giáo lý thuộc về nhiều quốc gia tại Đức năm 1960:

Nhận xét chung là "Dạy giáo lý cổ điển nói với trí tuệ hơn là nói với con người toàn diện; và đưa ra một giáo lý cách biệt với đời sống".

Đi vào chi tiết: Dạy giáo lý cổ điển là Dạy giáo lý: có tính cách khái quát, hiểu biết sơ đẳng (notionel) có tính cách trừu tượng, không đi vào thực tế, giúp có quan niệm trong trí óc (conceptuel), có tính cách bài vở ở trường học (scolaire), cách biệt với đời sống, không gây xúc động tâm hồn và tạo sự phấn khởi.

Giáo lý cổ điển được soạn thảo nhằm mục đích minh giáo hay hộ giáo, và chỉ là bản toát yếu, hay yếu lược về giáo lý, giống như bộ áo giáp để bảo vệ các chân lý đức tin.

Giáo lý đó chỉ nói với lý trí và trí nhớ thôi, chứ không quan tâm đến đời sống người được dạy giáo lý, đến các vấn đề và hoàn cảnh riêng của họ, đến tuổi tác, khả năng và trình độ của họ (văn hoá, truyền thống...).

Sách Giáo Lý cổ điển được chia cắt thành từng câu giáo lý Hỏi - Thưa, dẫn đến hậu quả là không những chỉ giúp ghi nhớ cách máy móc, mà tệ hơn là còn che lấp không cho thấy được lịch sử cứu độ vừa hữu cơ (gắn bó chặt chẽ với nhau) vừa năng động.

Bố cục Sách Giáo Lý đó có ba phần, gồm: các điều phải tin, các điều phải giữ, các Bí Tích phải lãnh nhận như phương thức cứu rỗi, khiến có thể hiểu rằng theo Kitô giáo đòi tới "ba phải", nó như một gánh nặng chứ không như một Tin Mừng.

Việc nhấn mạnh đến 10 Điều Răn làm cho Kitô giáo mang hình ảnh "buồn rầu", có mặc cảm mất mặt, tội lỗi; một Kitô giáo dựa vào nỗi sợ bị phạt hoả ngục đời đời, thay vì một Kitô giáo gieo rắc niềm vui được giải thoát cứu độ. Nó cũng làm Giáo Hội mang hình ảnh một kim tự tháp nặng nề, độc tài, chứ không phải một cộng đồng đang sống và hoạt động nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn thúc đẩy.

Dạy giáo lý cổ điển đã trở thành một hệ thống dạy theo khuôn đúc sẵn (stéréotypé), đòi hỏi người học chỉ cần biết và lặp lại đúng các chân lý về tin lý và luân lý, thế là đủ để đảm bảo họ có đức tin và được gia nhập Giáo Hội. Vì đã bị trói buộc vào các công thức và khuôn đúc trừu tượng và cách biệt với đời sống như vậy, nên Dạy giáo lý cổ điển không còn dành chỗ nào cho kinh nghiệm riêng hay chung, cho việc tìm tòi, cho những vấn đề mới mẻ mà văn hoá thời nay đặt ra (văn hoá sự sống, văn hoá sự chết...)

Trong một thế giới đang bị tục hoá, không còn là môi trường tốt cho đức tin như trước đây nữa, thì hệ thống Giáo lý cổ điển theo lối diễn dịch và quy định các khuôn mẫu, càng ngày càng trở nên không thích hợp với con người thời nay nữa.

3. Năm thách đố cho việc Dạy Giáo Lý Ngày Nay.

Dạy giáo lý ngày nay phải tìm cách đối phó 5 thách đố:

Phải coi việc Dạy giáo lý là phục vụ đích thực cho sứ vụ Phúc Âm hoá, đặc biệt là sứ vụ truyền giáo cho lương dân.

Phải loan báo các mầu nhiệm cốt yếu của Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và mầu nhiệm Chúa Kitô; đặt Chúa Kitô làm trung tâm cho đời sống đức tin, để có kinh nghiệm sống với Ba Ngôi Thiên Chúa theo Đức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần.

Dạy giáo lý phải đào tạo nhân cách Kitô hữu theo sư phạm Kitô giáo, đó là sư phạm của Thiên Chúa, của đức tin.

Dạy giáo lý dành ưu tiên đối với nhi đồng, thiếu nhi, giới trẻ và người lớn, nhưng phải khởi sự trước hết từ người lớn; giáo lý giới trẻ cần phải tham khảo giáo lý người lớn.

Phải dành ưu tiên để đào tạo cho GLV có một đời sống đức tin sâu sắc.

4. Những thách đố cụ thể khác cho việc Dạy giáo lý ngày nay.

Tự do tôn giáo bị vi phạm: Có nhiều nơi hạn chế hoặc cấm dạy đạo, hành đạo, có nhiều tổ chức tôn giáo tìm cách ép buộc người khác theo đạo. Dạy giáo lý vừa phải đòi quyền tự do tôn giáo cho con người, đồng thời phải tôn trọng tự do đó của con người, không làm gì để ép buộc ai theo đạo.

Môi trường xã hội duy vật, tục hoá, dửng dưng với tôn giáo, theo một nhân bản độc đoán (loại bỏ truyền thống tôn giáo)… Dạy giáo lý phải sẵn sàng để bảo vệ và bênh vực cho đức tin, cho nhân sinh quan Kitô giáo.

Hoàn cảnh xã hội nhiều bất công, chênh lệch, kỳ thị, bạo lực, áp bức, tham nhũng, ích kỷ; nhiều người khao khát công lý, hoà bình, tình liên đới giữa giàu nghèo, tình trạng phát triển quá trớn và kém phát triển. Dạy giáo lý phải trình bày sức mạnh của Tin Mừng có thể giải thoát bất công áp bức và phải cổ võ tôn trọng nhân phẩm nhân quyền.

Tình trạng xã hội rất khác nhau về nhiều mặt: Tôn giáo, luân lý, ý thức hệ, chế độ xã hội, chính trị. Dạy giáo lý phải giúp nắm vững bản chất của Kitô giáo và sẵn sàng đối thoại với các hoàn cảnh khác biệt đa dạng của thế giới.

Có nhiều nền văn hoá khác nhau trên thế giới, cũng như ngay trong một cộng đồng tín hữu, Dạy giáo lý phải chấp nhận tình trạng đa dạng văn hoá, tìm hiểu những cái hay cái tốt để hội nhập Tin Mừng vào văn hoá, dùng văn hoá địa phương để truyền thông Tin Mừng cho người địa phương, giúp họ dễ hiểu, dễ đón nhận. Dạy giáo lý cần đối thoại với các nền văn hoá khác nhau.

Đức tin phai lạt: Kitô hữu sống trong thế giới đổi thay rất mau lẹ. Văn minh, kỹ thuật, khoa học" đang xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp. Dạy giáo lý cần giúp mọi lứa tuổi có một đức tin vững mạnh, sâu sắc, trưởng thành để có thể đứng vững trước những thay đổi mới mẻ, và phải giúp thực hiện cuộc đối thoại "đức tin-khoa học" (nhân bản vô tính, thụ thai trong ống nghiệm...).

Những thiếu sót và chia rẽ trong hoạt động Dạy giáo lý. Vẫn còn hai khuynh hướng:

- thứ nhất là bám chặt lấy quá khứ và từ chối thay đổi nội dung, phương pháp, cố gắng bảo thủ, chống lại đổi mới;

- thứ hai là ham thích đổi mới một cách phiêu lưu, làm biến chất nội dung giáo lý, cũng như mục đích của tôn giáo của nó.

Dạy giáo lý cần phải trình bày một nội dung trọn vẹn, được tổng hợp và được gắn kết chặt chẽ với nhau (Kinh Tin Kính), có chất lượng cao; đồng thời phải có sáng kiến để tìm tòi những cách trình bày dựa theo nền văn hoá địa phương, để phù hợp với người địa phương.

Dạy giáo lý cần tránh sa ngã theo một thái cực và phải dùng lấy cái hay của mỗi bên, chứ không dung hoà trộn lẫn; cần tổng hợp những cái hay, loại bỏ cái dở và tạo thành một khuynh hướng mới vừa hay vừa tốt hơn cả hay đã có.

Việc đối thoại đại kết, đối thoại liên tôn giáo, vấn đề hoà bình, vấn đề bảo vệ môi sinh, vấn đề truyền thông xã hội… cũng là những thách đố thời nay mà việc Dạy giáo lý phải đối phó.

KẾT: Là mục tử, là GLV, bạn đứng trước tình hình và những đố cho việc Dạy Giáo lý ngày nay, thử nghĩ cần phải làm gì? Thản nhiên, vô tư hay bắt tay vào việc canh tân và nỗ lực nhiều hơn nữa cho việc dạy Giáo lý?

II. TỔ CHỨC DẠY GIÁO LÝ TẠI GIÁO PHẬN

1. Nhiệm vụ Dạy giáo lý tại Giáo Hội địa phương

Giáo Hội địa phương là nơi Tin Mừng được loan báo, thông truyền và sống theo.

Giáo Hội địa phương và Giáo Hội phổ quát. Giáo Hội địa phương có ý chỉ giáo phận hoặc nhóm giáo phận ở một miền một nước, hoặc nhiều nước liên kết với nhau. Giáo Hội địa phương gồm cộng đoàn các môn đệ Chúa Kitô được thiết lập ở một nơi nhất định. Còn Giáo Hội phổ quát thì hiện diện trong mỗi Giáo Hội địa phương với tất cả những yếu tố căn bản. Giáo Hội phổ quát được khai sinh do Chúa Thánh Thần ngày Lễ Ngũ Tuần, đã sinh ra các Giáo Hội địa phương. Giáo Hội địa phương có mặt là để Phúc Âm hóa cũng như phổ quát. Dạy giáo lý là hoạt động Phúc Âm hóa nền tảng tại các giáo phận.

Công đồng Kitô hữu với trách nhiệm Dạy giáo lý. Tất cả mọi người trong cộng đồng đều có trách nhiệm trong việc dạy giáo lý, nhưng Giáo Hội trao phó chính thức cho một số thành phần Dân Chúa như sau:

Giám mục người có trách nhiệm thứ nhất, vì giám mục trước hết là "người loan truyền đức tin", rồi là "tiến sĩ đích thực" có đặc sủng để thi hành nhiệm vụ đó (xem Hiến Chế Giáo Hội số 25).

Các linh mục là mục tử và nhà giáo dục đức tin, phải khơi dậy tinh thần trách nhiệm về dạy giáo lý cho toàn xứ đạo, tổ chức việc dạy giáo lý, tuyển chọn và huấn luyện giáo lý viên, hội nhập dạy giáo lý vào chương trình Phúc Âm hóa của xứ đạo và giáo phận.

Cha mẹ là người giáo dục thứ nhất về đức tin cho con cái. Dạy giáo lý ở gia đình đi trước, đồng hành, và làm cho mọi thứ dạy giáo lý khác được phong phú. Vì thế cần huấn luyện bậc cha mẹ biết dạy giáo lý trong các "Giáo Hội tại gia" này.

Các tu sĩ: Giáo Hội mời gọi đặc biệt các người đã thánh hiến và ước mong các cộng đoàn tu sĩ dành tối đa khả năng và điều kiện sẵn có cho công việc dạy giáo lý này. Công việc mà các linh mục và giáo dân không thể thay thế họ được, do việc họ công khai làm chứng bằng đời tận hiến của họ như dấu chỉ sống động về Nước Thiên Chúa, trong việc dấn thân triệt để theo đòi hỏi của các mối phúc.

Giáo lý viên giáo dân: Có đặc điểm là sống giữa trần thế như mọi người nam nữ khác và họ dạy giáo lý trong điều kiện cụ thể chung của mọi người.

Các loại Giáo Lý Viên đặc biệt cần thiết theo nhu cầu rất khác nhau.

Đó là:
GLV tại xứ truyền giáo, họ có danh nghĩa tiêu biểu nhất, vì cộng tác vào nhiều hình thức dạy giáo lý.
GLV ở những nơi các linh mục ít lui tới được, họ gần giống giáo lý viên tại xứ truyền giáo.
GLV ở các họ đạo cũ đang cần được Phúc Âm hóa cách mới mẻ lại, đặc biệt cho thiếu nhi và giới trẻ.
GLV cho ấu nhi, thiếu nhi để chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu, thêm sức ngày nay càng cần thiết hơn vì gia đình không thể lo được.
GLV cho người lớn, giúp họ khai tâm vào Kitô giáo, hôn phối.
GLV cho người cao tuổi, người di cư.
GLV có khả năng tổ chức việc đào tạo giáo lý viên.

2. Đào tạo Giáo Lý Viên

Chỉ dẫn Tq.DGL (1997) cho biết nhiệm vụ chính của các linh mục coi xứ, phải cổ võ, tuyển chọn, huấn luyện, phân phối.

Tầm quan trọng: Mọi hoạt động mục vụ không do những người đã được đào tạo và chuẩn bị thì nguy hại cho phẩm chất của hoạt động ấy. Giáo phận phải dành ưu tiên tuyệt đối (priorité absolue) cho việc đào tạo GLV giáo dân. Cũng phải đào tạo về dạy giáo lý cho các linh mục và cả các đại chủng sinh nữa.

Mục đích và bản chất của việc đào tạo GLV: Mục đích cốt yếu là giúp có đủ khả năng tư cách để thông truyền sứ điệp Kitô giáo. Dạy giáo lý là để giúp hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô, thì phải đào tạo cho GLV biết loan báo Chúa Giêsu Kitô, và cuộc đời Ngài trong lịch sử cứu độ, để Ngài dẫn dắt đến với Chúa Cha, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần. Bản chất của nó có tính Giáo Hội.

Các tiêu chuẩn để đào tạo GLV:

Phải đào tạo để đáp ứng đủ nhu cầu Phúc Âm hóa của thời nay có nhiều giá trị, thánh đố và bóng tối. Do đó, phải nhằm đào tạo một đức tin sâu sắc, gắn bó với Chúa Kitô và Giáo Hội, và nhạy cảm với vấn đề xã hội.

Giúp GLV hiểu đúng về dạy giáo lý, không phải chỉ là giảng dạy, nhưng còn là giáo dục thành Kitô hữu toàn vẹn bằng việc khai tâm, giáo dục và giảng dạy. GLV phải đồng thời là thầy dạy, là nhà giáo dục, và là chứng nhân.

Giúp GLV tránh khuynh hướng thích đơn phương, muốn khác biệt (lập dị), nhưng biết trình bày một dạy giáo lý toàn vẹn đầy đủ, vừa hiểu biết cho thật đúng và cũng biết làm cho thật đúng, có tinh thần Giáo Hội và có tinh thần xã hội nữa.

Phải lưu ý đến tính cách giáo dân của GLV, để không đào tạo họ như đào tạo cho tu sĩ hoặc linh mục, vì họ là giáo dân sống giữa trần thế.

Phải gắn bó chặt chẽ sư phạm đào tạo GLV cách "toàn bộ" với sư phạm, đào tạo GLV riêng cho từng giai đoạn hay lứa tuổi, để họ làm quen với từng lứa tuổi giáo lý (dạy giáo lý ấu nhi, dạy giáo lý dự tòng)

Các chiều kích phải nhắm tới, đó là:

đào tạo chính bản thân GLV, từ chỗ là người và là Kitô hữu, trở nên một người tốt, một tín hữu sốt sắng và một tông đồ nhiệt thành;

rồi đào tạo cho họ có vốn kiến thức, vừa đúng với sứ điệp vừa hợp với văn hóa và trình độ người được dạy giáo lý;

sau hết đào tạo cho họ biết thực hành, biết thông truyền.

Đào tạo về Thánh Kinh và thần học làm sao để GLV có một hiểu biết hữu cơ về sứ điệp Kitô giáo, được kết cấu chung quanh Chúa Giêsu Kitô là trung tâm, nghĩa là phải kết hợp ba giai đoạn chính của lịch sử cứu độ (Cựu Ước, Chúa Giêsu Kitô, Giáo Hội) với bốn cột trụ của sứ điệp Kitô giáo: Kinh Tin Kính, Phụng Vụ, luân lý, cầu nguyện.

Đào tạo về khoa tâm lý và khoa xã hội, khoa giáo dục và khoa truyền thông xã hội. Khi dùng các "khoa học đời" này; cần tôn trọng tính độc lập của chúng; cần phân biệt xem xét theo Tin Mừng, chúng có những giá trị và giới hạn nào cần dùng chúng để phục vụ cho việc Phúc Âm hóa.

Đào tạo để thực hành Sư phạm giáo lý. Trước hết là phải tôn trọng khoa sư phạm độc đáo về đức tin, khoa này làm phát triển nơi GLV khả năng giáo dục đức tin, bao gồm:

Khả năng biết chú ý đến mỗi con người.
Khả năng khéo léo hiểu rõ ý nghĩa và đáp ứng đúng đòi hỏi của giáo dục.
Khả năng sáng kiến để làm cho tiến trình tập luyện luôn tiến hành.
Khả năng hướng dẫn một nhóm người đạt tới trưởng thành.

3. Các địa điểm và con đường để Dạy giáo lý:

Cộng đoàn Kitô hữu là trung tâm dạy giáo lý. Trung tâm này vừa là nguồn gốc, vừa là địa điểm, vừa là một mục đích của dạy giáo lý. Trung tâm này có nhiều địa điểm, nhiều con đường để dạy giáo lý như:

Gia đình là môi trường để đức tin lớn lên. Gia đình được định nghĩa là "Giáo Hội tại gia" nghĩa là mỗi gia đình Công Giáo đều có những nhiệm vụ như Giáo Hội tại khắp nơi, đó là: truyền giáo, dạy giáo lý, làm chứng, cầu nguyện...

Gia đình có những điểm độc đáo là: nơi khơi dậy cảm thức về Thiên Chúa, nơi tập đi những bước đầu tiên vào cầu nguyện, nơi huấn luyện lương tâm, huấn luyện cảm thức Kitô giáo về tình yêu của con người, được coi là phản ánh tình yêu Thiên Chúa là Cha.

Gia đình là nơi giáo dục bằng làm chứng hơn là giảng dạy, theo tùy tiện hơn là theo hệ thống, xảy ra thường xuyên hàng ngày hơn là được tổ chức một thời kỳ nào đó.

Hơn thế, ông bà còn góp phần quan trọng nữa, vì sự khôn ngoan và lòng đạo đức của các ngài thường là yếu tố quyết định cho bầu khi Kitô giáo thực sự tại gia đình.

Khóa dạy giáo lý Dự tòng được Giáo Hội thiết lập để chuẩn bị lãnh các Bí Tích khai tâm vào Kitô giáo. Khóa Dự tòng có liên quan chặt chẽ với cộng đoàn xứ đạo; vì theo nghi thức, cộng đoàn đón nhận, giúp đỡ người Dự tòng trong suốt thời ký khai tâm cho đến khi hoàn thành.

Xứ đạo là môi trường dạy giáo lý, xứ đạo được gọi là ngôi nhà của tình gia đình, tình huynh đệ, của sự tiếp đón niềm nở, nhờ đó mà các Kitô hữu nhận ra mình là Dân Thiên Chúa. Dạy giáo lý tại xứ đạo phải tôn trọng mấy điều kiện sau đây:

Dành ưu tiên loan báo Tin Mừng cho người lớn.

Quan tâm loan báo Tin Mừng cho những ai đã xa rời đức tin, hoặc sống dửng dưng với tôn giáo (lợi dụng các dịp Hôn phối, Rửa tội, Thêm sức, Bao đồng...)

Cần có một cộng đồng Kitô hữu nhỏ làm "nhân", gồm một số Kitô hữu trưởng thành, hoạt động cho việc dạy giáo lý và cổ võ các cộng đồng Giáo Hội nhỏ trong xứ đạo.

Rút ra từ dạy giáo lý cho người lớn để giúp dạy giáo lý cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên.

Các thứ hội, nhóm công giáo… đều là những tổ chức giúp sống đạo đức, làm việc tông đồ trực tiếp, làm việc bác ái, và giúp Kitô giáo hiện diện trong các thực tại trần thế. Cần có hình thức huấn luyện nào đó để bổ túc, để cụ thể hóa và chuyên biệt hóa những tì được huấn luyện bởi các tổ chức khác. Cần lưu ý ba khía cạnh sau:

Dạy giáo lý nơi các hội, nhóm vẫn phải là dạy giáo lý cơ bản và hữu cơ về đức tin Công Giáo.

Đ ặc sủng của các hội và nhóm cần được học hỏi, chẳng hạn linh đạo riêng; nhưng ưu tiên vẫn là huấn luyện cơ bản về Kitô giáo mà mọi Kitô hữu phải được tiếp nhận.

Hội hay nhóm không thể thay thế xứ đạo trong vấn đề dạy giáo lý. Xứ đạo vẫn là cộng đoàn giáo dục mà mọi tổ chức khác phải tham chiếu.

Cộng đoàn Giáo Hội cơ bản, là những nhóm Kitô hữu được nảy sinh do nhu cầu muốn sống đời sống Giáo Hội mãnh liệt hơn, hoặc do ước muốn tìm kiếm một chiều hướng nhân bản hơn, mà các cộng đoàn Giáo Hội lớn hơn khó có thể có được (xem Loan Tin Mừng 58).

Đây là dấu chỉ sức sống của Giáo Hội. Các môn đệ Chúa Kitô tập họp lại với nhau để chăm chú nghe Lời Chúa, để tìm ra những tương quan huynh đệ hơn, để cử hành những mầu nhiệm Kitô giáo trong đời sống đạo, và để dấn thân làm biến đổi xã hội.

Ngoài chiều kích Công Giáo tiêu biểu đó, họ còn nhắm đến những giá trị nhân bản quan trọng hơn, như: tình bạn và lòng tôn trọng người khác, tinh thần đồng trách nhiệm, óc sáng tạo, việc đáp ứng ơn gọi, quan tâm đến các vấn đề của thế giới và Giáo Hội.

Đây thực là cơ hội để có một kinh nghiệm cộng đồng làm cho nhau thêm phong phú, "một biểu lộ đích thực của hiệp thông và một phương tiện để xây dựng hiệp thông sâu sắc hơn".

Muốn cho cộng đoàn có giá trị đích thực, mọi cộng đoàn phải sống hiệp nhất với Giáo Hội địa phương và Giáo Hội phổ quát, phải hiệp thông thành thật với các chủ chăn, và Huấn Quyền, phải dấn thân để truyền giáo; nhưng tránh mọi thứ ẩn núp và lợi dụng để phổ biến một ý thức hệ nào khác.

4. Tổ chức Dạy giáo lý trong Giáo phận

Các nhiệm vụ chính của người có trách nhiệm:
Thực hiện một cuộc phân tích tình hình Giáo lý và các nhu cầu trong Giáo phận, để biết rõ các điểm sau:
Dạy giáo lý có vị trí nào trong tiến trình Phúc Âm hóa?
Sự quân bình và gắn bó với nhau giữa các lĩnh vực Dạy giáo lý thiếu nhi, thiếu niên, giới trẻ, người lớn...
Việc phối hợp dạy giáo lý với giáo dục Công Giáo trong gia đình, ở trường học, và các hình thức giáo dục đức tin khác.
Chất lượng nội tại: nội dung và phương pháp được dùng.
Đặc điểm của giáo lý viên và việc huấn luyện giáo lý viên.
Phân tích tình hình tôn giáo về 3 điểm:
Cảm thức về thánh thiêng, nghĩa là những kinh nghiệm có chiều sâu của con người có thể dẫn đến mầu nhiệm; cảm thức tôn giáo, nghĩa là những phương thế cụ thể mà một dân tộc nhất định nghĩ về Thiên Chúa và giao tiếp với Thiên Chúa; các tình trạng về đức tin, nghĩa là các loại tín hữu khác nhau, cùng với tình trạng luân lý khác nhau.

Lên chương trình hành động: Sau khi phân tích thì định mục tiêu rõ ràng, định hướng và đề ra các việc làm cụ thể, như:

Cổ võ và huấn luyện GLV. Giới thiệu các dụng cụ cần thiết: sách giáo lý, chỉ dẫn, chương trình, hướng dẫn giáo lý viên, vật dụng, phương tiện nghe nhìn.

Củng cố các tổ chức dạy giáo lý của giáo phận (cho dự tòng, cho giáo xứ, cho các người phụ trách giáo lý).

III. DẠY GIÁO LÝ LÀ BẢO TOÀN

TÍNH DUY NHẤT VÀ ĐIỀU CỐT YẾU CỦA ĐỨC TIN

Đặt vấn đề: Mục đích Dạy Giáo lý là đào tạo những người Công giáo tốt, biết Sống Đạo, nên ta hãy tự hỏi: Phải đưa vào tâm trí bạn trẻ những tư tưởng, ý nghĩ, hình ảnh nào để đạt mục đích ấy? Đâu là điều cốt yếu trong giáo lý?

Trả lời: Trước hết, khi dạy giáo lý, ta cần trình bày một cái nhìn mỹ lệ về tất cả thực tại Kitô giáo, về Chúa Kitô toàn diện, về Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, có nhiều người biết rất nhiều về tín lý; biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, biết về thiên tính Chúa Kitô và các ân xá, nhưng giữa các điều họ biết chẳng có một trật tự nào cả; điều quan trọng nhiều hay ít cũng lẫn lộn thành một mớ. Không bao giờ họ biết nhìn Đức Tin với tính cách duy nhất, không bao giờ họ biết nắm giữ các tín điều trong mối liên lạc chặt chẽ. Họ không bao giờ suy nghĩ: đâu là mục đích của đạo Công giáo? và các tín điều khác nhau giúp con người đạt tới mục đích ấy thế nào?

Vấn đề cốt yếu Đức tin Trọng tâm của Đức tin Công giáo là Chúa Giêsu Kitô.

Dạy giáo lý có nghĩa là đưa bạn trẻ tới Chúa Giêsu. Mà chính Chúa Giêsu lại tự xưng là Đường dẫn tới Chúa Cha: "Ta là Đường, là sự Thật và là sự Sống; không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Ta". (Ga 14,6).

Chúng ta đến với Chúa Cha bằng cách trở nên một với Chúa Giêsu. Chúa đã phán với các môn đệ: "Chúng con sẽ biết rằng, Ta ở trong Cha Ta và chúng con ở trong Ta và Ta ở trong chúng con" (Ga 14,20); Vì thế, Chúa đã cầu nguyện cho các kẻ sẽ tin Người để tất cả nên một "Để khi Cha ở trong Con, Con ở trong Cha và như thế chúng sẽ hoàn toàn nên một" (Ga 17,23).

Chúng ta có thể trở nên một với Chúa Giêsu nhờ Thánh Linh mà Chúa Giêsu sai xuống trong tâm hồn chúng ta, vì "Một người chỉ có thể thuộc về Chúa Kitô nếu có Thánh Linh ở trong họ", "Đó là Thánh Thần Chúa ở trong anh em" (Rom 8,9). Đấng Thiên Sai là Đấng sẽ rửa bằng Thánh Linh.

Vậy mục đích chính của Đạo Công giáo: Đưa con người đến kết hợp với Thiên Chúa, trong Chúa Kitô, nhờ Thánh Linh. Đ ó là tính duy nhất của giáo lý đức tin.

Nếu bạn biết rõ điều này, tức là bạn đã biết được đối tượng của đức tin. Một khi bạn đã nắm được sự kiện nồng cốt, thì tất cả những chân lý rời rạc trong Đạo sẽ trở nên đầy đủ ý nghĩa trong một mối liên hệ mật thiết với Đạo.

Bạn sẽ hiểu tại sao Thiên Chúa giáng sinh làm người để cứu chuộc chúng ta? Vì chỉ khi nào chính Đấng Cứu Thế là Thiên Chúa thì chúng ta mới có thể hợp nhất với Thiên Chúa bằng cách trở nên một với Người.

Bạn cũng sẽ hiểu công nghiệp của Chúa Kitô được áp dụng cho chúng ta như thế nào trong phép Thanh Tẩy; vì nhờ phép Thánh Tẩy chúng ta được sát nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, nhờ thế, chúng ta trở nên một nhiệm ngôi với Người; do đó, những việc làm của Người trở nên việc làm của chúng ta.

Rồi bạn cũng hiểu rõ hơn tại sao Đạo chúng ta là Đạo thật duy nhất? Vì chỉ có Đạo chúng ta mới đưa con người lên kết hợp với Thiên Chúa. Chỉ một Chúa Kitô có thể ban Thánh Linh, và nhờ Thánh Linh chúng ta trở nên một với Chúa Kitô và do đó nên một với Chúa Cha.

Một khi chúng ta đã nắm vững vấn đề nồng cốt của Đức Tin, thì tất cả những chân lý khác nhau trong giáo lý đều quy nhất và trở nên đầy ý nghĩa trong mối tương quan mật thiết.

IV. NỘI DUNG SỨ ĐIỆP TIN MỪNG

1. Nguồn mạch của Giáo lý

" Giáo lý múc lấy nội dung của mình từ nguồn mạch sống động là Lời Chúa, được lưu truyền trong Thánh Truyền và Thánh Kinh, vì Thánh Truyền và Thánh Kinh làm thành kho tàng thánh duy nhất chứa đựng Lời Chúa, được trao phó cho Giáo Hội" (DGL 27)

Lời Chúa chứa đựng trong Thánh Kinh và Thánh Truyền:

Được suy niệm và hiểu biết mỗi ngày càng sâu hơn nhờ cảm thức đức tin của Dân Chúa, được Huấn Quyền hướng dẫn.

Được cử hành trong Phụng Vụ, khi Lời Chúa được công bố, lắng nghe, chú giải.

Được toả sáng trong đời sống Giáo Hội, trong lịch sử hai ngàn năm qua, nhất là trong chứng tá của các Kitô hữu, đặc biệt là các thánh.

Được đào sâu thêm nhờ nghiên cứu thần học, giúp Dân Chúa tiến triển hơn trong việc tìm hiểu đức tin.

Được biểu lộ trong các giá trị tôn giáo và luân lý đích thực, có rải rác trong xã hội loài người và trong các nền văn hoá (mầm Lời Chúa), chẳng hạn Đạo Hiếu.

2. Năm tiêu chuẩn để trình bày Sứ điệp TIN MỪNG Từ nguồn mạch Lời Chúa, ta rút ra được năm tiêu chuẩn liên kết với nhau cách chặt chẽ để Dạy Giáo lý, là:

Đặt Chúa Giêsu Kitô làm trung tâm: theo nghĩa trung tâm của tất cả mọi sự: trung tâm của Lịch sử cứu độ, của Tân Ước, của bốn sách Tin Mừng, của chính Tin Mừng. Trung tâm này không ngừng dẫn đến Chúa Cha và Chú 1935