Sidebar

Thứ Hai
26.09.2022

Hiểu Và Sống Phụng Vụ_Phần 02_ Thánh Lễ


PHẦN II: THÁNH LỄ
Khai Mạc Thánh Lễ

Hội Thánh luôn luôn nhận ra mình nơi cộng đoàn các Kitô hữu đầu tiên ở Giêrusalem, như sách Công Vụ Tông Đồ diễn tả: " Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý " (Cv 4, 32). " Họ chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn sống với nhau trong tình huynh đệ, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng " (Cv 2,42). Nếu đó là dấu hiệu làm cho người ta nhận biết môn đệ Chúa Kitô, thì không bao giờ dấu hiệu đó lại dễ nhận thấy hơn là lúc các Kitô hữu họp nhau để cùng chia sẻ bữa tiệc của Chúa mà nhớ đến Người. Khi tuyên xưng Chúa chịu chết, khi mừng Người sống lại và chờ đợi Người lại đến, thì đó là lúc các Kitô hữu được người đời nhìn nhận là Hội Thánh của Chúa: một cộng đoàn huynh đệ họp nhau để nghe lời các tông đồ giảng dạy, một lòng cầu nguyện và cử hành lễ bẻ bánh với nhau.

KHAI MẠC THÁNH LỄ
Cộng Đoàn Huynh Đệ

Các nghi thức khai mạc thánh lễ có mục đích tạo nên bầu không khí hợp nhất trong cộng đoàn để giúp cho dễ đón nhận Lời Chúa và tham dự bữa tiệc của Người. Mối đồng tâm nhất trí sẽ tăng thêm trong buổi cử hành, để đạt tới mức cao nhất, vào lúc cộng đoàn rước Mình và Máu Chúa Kitô. Đó là lúc mọi người làm thành một thân thể trong Chúa. Nhưng ngay từ khi mới gặp nhau, các Kitô hữu từ những chân trời và môi trường khác nhau đã coi nhau như anh em. Đức Kitô hiện diện giữa họ, làm cho họ hợp nhất với nhau. Nào Người đã chẳng nói: " Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa họ " (Mt 18, 20) sao ? Linh mục đứng đầu cộng đoàn nào đã chẳng được đặt ra để làm công việc này nhân danh Người ư ? Chính Đức Kitô " chủ tọa cộng đoàn huynh đệ " qua con người Linh mục (theo thánh Inhaxiô thành Antiôkia).

Ca Nhập Lễ

Thánh lễ bắt đầu bằng ca nhập lễ. Bài ca này hát đang khi rước chủ tế và các người giúp lễ ra bàn thờ, có mục đích đưa tâm trí người tham dự vào mầu nhiệm của mùa phụng vụ hay ngày lễ, nhưng nhất là để kết hiệp mọi người cùng chung lời với nhau. Vì thế, được phép chọn nhiều bài khác nhau cho thay đổi, nhưng phải liệu sau cho mọi người cùng tham dự. Hát là đặc điểm của tình yêu và là cách bộc lộ hồn nhiên của niềm vui. Đó là hai lý do khiến cho nên bắt đầu thánh lễ bằng một bài hát, và tiếng hát phải làm cho toàn buổi lễ có một vẻ tưng bừng hớn hở.

Lời Linh mục chào cộng đoàn

Sau khi bái kính bàn thờ, và đôi khi xông hương, chủ tế làm dấu thánh giá và xin Chúa hiện diện ở giữa cộng đoàn, để chào mọi người tham dự. Chúa Girêsu đã chào các tông đồ như thế, mỗi lần hiện ra với các ông, sau khi sống lại: " Bình an cho các con " (Ga 20,19). Các lời lẽ chủ tế dùng để chào cộng đoàn và cộng đoàn dùng để đáp lại, đều lấy trong các thư của thánh Phaolô, vì thánh nhân thích những lời lẽ như sau để chào cộng đoàn và những người thánh nhân nói cùng: " Cầu chúc anh em được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô... " (2 Cr 13,13), hoặc: " Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em được tràn đầy ân sủng và bình an... " (Gl 1,3), hay: " Chúa ở cùng anh chị em "
(2 Tx 3,16), và mọi người đáp lại: " Và ở cùng Cha " (2 Tm 4,22). Lời chủ tế chào cộng đoàn và cộng đoàn đáp lại cho thấy mầu nhiệm về Hội Thánh, khi Hội Thánh họp nhau lại.

Liền sau đó, chủ tế tiếp xúc thân mật hơn với cộng đoàn, nói một đôi lời dẫn nhập giúp cộng đoàn sống tinh thần phụng vụ của ngày hôm đó, bằng cách đặt liên lạc giữa cuộc đời của họ và buổi lễ sắp cử hành.

Nghi thức sám hối

Để chuẩn bị đón nhận Lời Chúa và cử hành thánh lễ, cộng đoàn nên lưu ý đến lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu khi Người mới bắt đầu ra giảng: " Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng " (Mc 1,15). Cộng đoàn cũng phải vâng lệnh Người truyền là: phải làm hòa với anh em mình, trước khi dâng của lễ trên bàn thờ (Mt 5,24). Vì thế, chủ tế kêu gọi mọi người phải nhận mình là người có tội trước mặt Chúa. Cùng nhận mình là những người tội lỗi, phải chăng đó cũng là một cách thế nhận ra mình là anh em, khi thấy mình cùng chung một thân phận yếu đuối ?

Có nhiều cách cử hành nghi thức sám hối, như xưng chung các tội, cầu nguyện đối đáp, nguyện xin Chúa thương xót, hoặc làm phép và rảy nước thánh để nhớ đến phép Rửa. Nghi thức này bao giờ cũng kết thúc bằng lời nguyện xin Chúa tha thứ do chủ tế đọc.

Tôn vinh Chúa Kitô.

Sau nghi thức sám hối thường có lời tung hô Chúa Kitô, tức kinh " xin Chúa thương xót " ; và kinh Vinh Danh trong các ngày lễ đặc biệt. Bài ca này, do các thiên thần hát trong đêm Giáng Sinh, kết thúc bằng lời tung hô Chúa Kitô "ngự bên hữu Đức Chúa Cha " ; " Chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Thánh " . Kinh Vinh danh ban đầu chỉ hát trong lễ Phục Sinh, là bài ca Phục Sinh tuyệt vời của Kitô hữu.

Lời nguyện nhập lễ

Cộng đoàn Tín hữu mỗi lúc một liên kết thêm với nhau trong tiếng hát, trong lời đối đáp với chủ tế, trong nghi thức sám hối và lời tung hô Chúa Kitô. Bây giờ có thể bộc lộ mối dây liên kết đó trong lời cầu nguyện của chủ tế kết thúc nghi thức nhập lễ.

Trước hết, chủ tế mời cộng đoàn cầu nguyện, rồi yên lặng trong giây lát cho mọi người hồi tâm lại trước mặt Chúa. Sau đó, chủ tế cất tiếng ca tụng một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Thiên Chúa hay một trong những ân huệ Chúa ban, rồi bày tỏ lời cầu nguyện riêng của ngày hôm đó, xin Chúa Cha, nhờ Con của Người là Chúa Giêsu Kitô. Cộng đoàn thưa " Amen " để biểu lộ sự đồng tình với chủ tế.

PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Phép Thánh Thể là mầu nhiệm đức tin. Vì vậy cộng đoàn Kitô hữu cần phải lắng nghe Lời Chúa để nuôi dưỡng đức tin, trước khi tiến đến bàn tiệc của Người. Trong sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta thấy các Kitô hữu họp nhau vào ngày Chúa Nhật để nghe các tông đồ giảng dạy và bẻ bánh với nhau (Cv 20,7-11). Chính Chúa Giêsu cũng đã công bố và giải thích Lời Chúa trong hội đường Nazareth . Tại đây, " Người đã đứng lên đọc sách thánh "
(Lc 4,16).

Các Bài Đọc

Trong các Chúa Nhật và Lễ Trọng, có ba bài đọc. Những ngày khác chỉ có hai bài: một bài trích từ Cựu Ước hoặc Tân Ước, và một bài Tin Mừng. Trong cả hai trường hợp, sau bài đọc 1 có hát hoặc đọc Thánh Vịnh đáp ca.

Bài Đọc Cựu Ước: Bài đọc Cựu Ước gồm một đoạn sách Luật Môsê (Ngũ Thư), sách Ngôn Sứ hay sách Khôn Ngoan và hát Thánh Vịnh. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã giải thích cho các tông đồ " tất cả những gì sách Luật Môsê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Người " (Lc 24,44). Hội Thánh cũng dạy chúng ta rằng " lịch sử cứu độ là mầu nhiệm Chúa Kitô "
(PV, số 35).

Người đọc Sách Thánh đứng trên bục, hơi cao hơn một chút cho mọi người trông thấy. Xưa kia, kinh sư Esdras đã đọc sách Luật giữa cộng đoàn dân chúng, chính ông đã khai mở cho việc đọc Lời Chúa trong phụng vụ Do thái giáo: " ông Esdras đứng trên một bục gỗ đã đóng để dùng trong dịp đó. Ông mở sách; toàn dân trông thấy ông, vì ông đứng cao hơn cộng đoàn " (Nhm 8,4-5). Trong Hội Thánh, công việc đọc Lời Chúa được giao cho người đọc sách. Ai đã chịu phép Rửa đều có thể làm công việc này, đó là một công tác phục vụ đích thực.

Thánh Vịnh đáp ca do một người xướng, và cộng đoàn đáp lại bằng câu điệp ca. Thường câu điệp ca giải thích ý nghĩa Kitô giáo của Thánh Vịnh. Theo truyền thống có từ thời các tông đồ, khi nghe Thánh Vịnh là chúng ta nghe tiếng Chúa Kitô hoặc tiếng Hội Thánh, là Thân Thể của Người. (Bài Thánh Vịnh có liên hệ chặt chẽ với bài Kinh Thánh vừa đọc, vì thế không nên hát một bài khác thay thế, như thấy làm ở một vài nơi).

Bài Đọc Tân Ước: Khi đọc Tân Ước, chúng ta đón nhận lời giáo huấn trực tiếp của các tông đồ. Chính các ngài truyền cho chúng ta giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô. Trong mùa Phục Sinh, ba bài đọc đều rút ra từ Tân Ước, vì bài sách Công Vụ Tông Đồ thay thế bài Cựu Ước. Cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu quả thật đã mở đầu lịch sử Dân mới của Chúa. Ngoài mùa Phục Sinh, chỉ đọc một hoặc hai bài Tân Ước, một bài lấy trong thư các tông đồ, còn bài kia lấy trong sách Tin Mừng.

Đọc một đoạn thư thánh Phaolô, thánh Phêrô, thánh Gioan hay thánh Giacôbê cho cộng đoàn nghe, đó là một công việc hết sức quan trọng, vì nó chứng tỏ lời giáo huấn của các tông đồ vẫn còn hướng dẫn Hội Thánh qua các thời đại. Nó chứng minh một cách hùng hồn rằng Hội Thánh của Chúa Kitô được xây dựng trên nền tảng là các tông đồ (xem Ep 2,20; Kh 21,14). Đó là lý do tại sau, trong đa số các Chúa Nhật, phụng vụ đọc liên tục thư các thánh tông đồ.

Bài Tin Mừng

Cao điểm của phần Phụng Vụ Lời Chúa là bài Tin Mừng, " vì trong phụng vụ, Thiên Chúa nói với Dân Người; Đức Kitô còn loan báo Tin Mừng " (PV số 33). Vì thế, Hội Thánh tỏ ra rất kính cẩn khi đọc Tin Mừng. Cộng đoàn đứng lên hát " Allêluia " để chào kính Đức Kitô sắp công bố Tin Mừng và tung hô đáp lại khi được nghe loan báo. Sách Tin Mừng có đèn nến bao quanh và trong ít nhiều lễ thầy Phó tế hay Linh mục lại còn xông hương lên sách trước khi đọc nữa. Sau bài Tin Mừng, dân chúng lại tung hô một lần nữa để bày tỏ niềm hân hoan tán đồng lời giảng dạy của Chúa Giêsu.

Bài Giảng và Kinh Tin Kính.

Bài Giảng: Giảng là phận sự của Linh mục hay Phó tế, thường là phận sự của Linh mục chủ tọa cộng đoàn nhân danh Chúa Kitô. Mục đích của bài giảng là giải thích Lời Chúa vừa mới đọc và cụ thể hóa Lời ấy trong đời sống các Tín hữu. Trong bài giảng, chủ tế hay phó tế phải cho người ta thấy rằng mầu nhiệm Chúa Kitô, được loan truyền trong các bài đọc, vẫn " luôn luôn hiện diện và hoạt động " trong các buổi cử hành phụng vụ (PV số 35), nhất là khi cử hành Phụng Vụ Thánh Thể; việc cử hành này liên hệ mật thiết với Phụng Vụ Lời Chúa, cả hai chỉ là một việc thờ phượng (PV số 56). Ta cũng thấy, trong hội đường Nazareth, sau khi đọc sấm ngôn, Chúa Giêsu liền nói: " Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh các ngươi vừa nghe " (Lc 4,21), và chiều ngày Phục Sinh, Người giải thích cho hai môn đệ trên đường Emmau " những đoạn Kinh Thánh liên quan đến Người " , trước khi cho các ông nhận ra Người khi Người bẻ bánh (Lc 24,27).

Kinh Tin Kính

Trong các Chúa Nhật và Lễ Trọng, kinh Tin Kính chính là câu trả lời của giáo dân, sau khi được nghe loan báo Tin Mừng. Qua lời tuyên xưng này, Hội Thánh tỏ ra hoàn toàn nhất trí trung thành với lời giảng dạy của các tông đồ.

Lời Nguyện Giáo Dân

Lời nguyện giáo dân kết thúc phần Phụng Vụ Lời Chúa và khai mạc phần Phụng Vụ Thánh Thể. Bổn phận của các Kitô hữu là khi hội nhau phải " dâng lên Chúa những lời cầu xin, những kinh nguyện, những lời van nài và tạ ơn cho mọi người " , như thánh Phaolô khuyên nhủ (1Tm 2,2). Đó là mục đích của lời nguyện giáo dân. Trong lời nguyện này, chúng ta lần lượt bày tỏ cùng Chúa những nhu cầu của Hội Thánh, của quốc gia xã hội, của những người bị thử thách nhất, và của những người đang hiện diện trong cộng đoàn. Các ý cầu nguyện này do một trong các người giúp lễ, hoặc một người trong cộng đoàn xướng lên. Sau mỗi ý cầu nguyện, cộng đoàn thưa: " Xin Chúa nhậm lời chúng con " , hoặc hát lên một câu có ý nghĩa tương tự, hoặc yên lặng cầu nguyện. Cuối cùng, chủ tế đọc một lời nguyện thu tóm tất cả các ý cầu nguyện đó lại, rồi cộng đoàn thưa " Amen " để biểu lộ sự đồng tình.


1660