Sidebar

Thứ Ba
05.07.2022

Nhị Thập Tứ Hiếu_02


13. LỤC TÍCH

Lục Tích sinh vào đời Đông Hán, mới lên 6 tuổi, đã biết hiếu thảo. Có một hôm theo cha sang quận Cửu giang với Viên Thuật; Thuật làm tiệc thết đãi. Tích thấy trong tiệc có quít ngon, bèn lấy dấu 2 quả bỏ vào tay áo, khi ra về cúi chào Viên Thuật không may quít ở trong tay áo rơi ra, Thuật nói đùa: "Sao lấy quít dấu như thế?" Tích trả lời: "Vì mẹ tôi thích ăn quít, nhân thấy quít ngon, dấu đi vài quả đem về biếu mẹ tôi". Thuật khen là người có hiếu.

Hán Lục Tích thuở còn sáu tuổi,
Quận Cửu Giang đến với họ Viên,
Trẻ thơ, ai chẳng yêu khen,
Quýt ngon đặt tiệc tiểu diên đãi cùng.
Cất hai quả vào ngay trong áo,
Tiệc tan xong, từ cáo lui chân,
Trước thềm khúm núm gửi thân,
Vô tình quả quýt nảy lăn ra ngoài.
Viên trông thấy, cười cười hỏi hỏi,
"Sao khách hiền mang thói trẻ thơ?"
Thưa rằng: "Mẹ vốn tính ưa,
"Vật ngon dành lại để dưa mẹ thì."
Viên nghe nói, trọng vì không xiết,
Bé con con mà biết hiếu thân,
Cho hay phú giữ thiên chân
Sinh ra, ai cũng sẵn phần thiện đoan.


14. GIANG CÁCH

Giang Cách sinh vào đời nhà Hán, mồ côi cha từ lúc bé, thờ mẹ rất hiếu, nhà nghèo, gặp buổi loạn lạc, cõng mẹ đi lánh nạn, giữa đường gặp bọn giặc toan bắt ông đi, Ông khóc van với giặc nói là ông còn mẹ già, chỉ có hai mẹ con nương tựa nhau, nay bị bắt đi, thì không có ai nuôi mẹ già. Bọn giặc nghĩ thương tình, tha không bắt ông đi nữa, Ông cõng mẹ chạy về Hạ bì, rồi ông cố sức làm thuê làm mướn, cũng nuôi mẹ được no đủ qua cơn loạn lạc.

Hán Giang Cách cô đơn từ bé,
Bước truân chuyên với mẹ đồng cư,
Ðương cơn loạn lạc bơ vơ,
Một mình cõng mẹ vẩn vơ dọc đường.
Từng mấy độ chiến trường gặp giặc,
Giặc cố tình hiếp bắt đem đi,
Khóc rằng: "Thân mẹ lưu ly,
"Tuổi già, bóng chếch biết thì cậy ai ?"
Giặc nghe nói thoắt thôi, chẳng nỡ,
Rồi dần dà qua ở Hạ Bì,
Dấn mình gánh mướn, làm thuê,
Miễn nuôi được mẹ, quản gì là thân.
Mọi đồ vật sắm dần đủ hết
áng xuân phong tươi nét từ nhan,
Cho hay những lúc gian nan,
Thật vàng, dẫu mấy lửa than cũng vàng.


15. HOÀNG HƯƠNG

Hoàng Hương sinh vào đời Đông Hán, năm lên chín tuổi mẹ chết, thương khóc thảm thiết, trong làng ai cũng khen là người có hiếu. Ở với cha, sớm khuya hầu hạ, không lúc nào rời, mùa đông thì nằm ủ vào chăn chiếu của cha để lấy hơi nóng của mình vào chăn chiếu cho cha khỏi lạnh, mùa hè thì lấy quạt quạt màn gối của cha cho hết hơi nóng, vì thế cha lúc nào cũng được vui vẻ, quanh năm không biết có mùa đông mùa hè. Quan thái thú quận ấy thấy Hương là người hiếu thảo, làm sớ tâu lên vua Hán ban cho Hương tấm biển chữ vàng là người con hiếu hạnh.

Ðời Ðông Hán, Hoàng Hương chín tuổi,
Khuất bóng từ dòi dõi nhớ thương,
Hạt châu khôn ráo hai hàng,
Tiếng đồn vang dậy trong làng đều khen.
Thờ nghiêm phụ cần chuyên, khuya sớm,
Ðạo làm con chẳng dám chút khuây,
Trời khi nắng hạ chầy chầy,
Quạt trong màn gối, hơi bay mát rầm.
Trời đông buổi sương đầm, tuyết thắm,
ấp hơi mình cho ấm chiếu chăn,
Vì con, cha đưọc yên thân,
Bốn mùa không biết có phần hạ, đông,
Tiếng hiếu hạnh cảm lòng quận thú
Biển nên treo chói đỏ vàng son,
Cho hay tuổi trẻ mà khôn,
Nghìn thu biết đạo làm con mấy người?


16. VƯƠNG THÔI

Vương Thôi người nước Ngụy (đời Tam quốc) cha ông làm quan triều Ngụy, sau Tây Tấn diệt Ngụy, thống nhất thiên hạ, cha ông bị Tây Tấn giết hại, ông thương xót quá, phục ở bên mộ mà khóc mãi, đến nỗi nước mắt của ông chảy ra thấm xuống gốc cây trắc bên mồ tươi lại. Cả đời ông không bao giờ ngồi ngảnh mặt về hướng tây (vì Tây Tấn ở về phương tây ), để tỏ ý ông không làm tôi nhà Tây Tấn. Mẹ ông lúc sinh thời hay sợ sấm, nên khi mẹ ông chết rồi, hễ khi nào mưa có sấm, ông lại ra áp mồ và khấn rằng: "Có con ở đây rồi", để cho vong hồn mẹ khỏi sợ. Ông là người tài giỏi, vua nhà Tây Tấn thường mời ra làm quan, ông nhất định không chịu ra, ở nhà mở trường dạy học, mỗi khi ông giảng sách cho học trò, đến thiên Lục Nga trong Kinh Thi có câu rằng : "phụ hề sinh ngã" thì ông lại thương cha chảy nước mắt khóc. Vì thế, học trò cũng cảm động, bỏ thiên Lục Nga không dám đọc đến nữa.

Ngụy Vương Thôi gặp đời Tây Tấn,
Vì thù cha lánh ẩn, cao bay,
Bên mồ khóc đã khô cây,
Trọn đời ngồi chẳng hướng Tây lúc nào .
Khi sấm sét tìm vào mồ mẹ,
Lạy khóc rằng: "Con trẻ ở đây ."
Bởi vì tính mẹ xưa nay,
Vốn từng sợ sấm những ngày gió mưa .
Nên coi sóc chẳng từ sớm tối,
Thần phách yên, dạ mới được yên,
Trong khi đọc sách giảng truyền,
Tới câu "sinh ngã" lệ tràn như tuôn.
Ngập ngừng kẻ cấp môn cũng cảm,
Thơ "Lục Nga" chẳng dám còn ngâm,
Cho hay thử lý, thử tâm,
Sư, sinh cũng tấm tình thâm, khác gì .


17. NGÔ MÃNH

Ngô Mãnh sinh vào đời nhà Tấn, lên 8 tuổi, thờ cha mẹ rất hiếu, nhà nghèo, mùa hè nhiều muỗi, không có tiền mua màn, ông sợ cha mẹ bị muỗi đốt không ngủ được, ông cởi trần nằm cho muỗi đốt, không dám xua, sợ rằng nếu mình xua đi thì muỗi lại đến đốt cha mẹ chăng?

Tấn Ngô Mãnh tuổi thì lên tám,
Lòng sự thân chẳng dám khi nhàn,
Cực về một nỗi bần hàn,
Có giường trong đặt, không màn ngoài che .
Trời đương buổi đêm hè nóng nảy,
Tiếng muỗi kêu vang dậy đương mùa .
Xót thay! hai đấng nghiêm, từ,
Ðể người chịu muỗi, bây giờ biết sao ?
Nghĩ da thịt phương nào thay lấy ?
Quyết nằm trần, muỗi mấy chẳng xua,
Rầu lòng cho muỗi được no,
Ðể người êm ái giấc hoè cho an.
Tuổi tuy bé, nhưng gan chẳng bé,
Dạ ái thân đến thế thời thôi .
Cho hay phú tính bởi trời,
Những đau trong ruột, dám nài ngoài da .


18. VƯƠNG TƯỜNG

Vương Tường sinh vào đời nhà Tấn, mẹ chết sớm, ở với cha, bị mẹ kế cay nghiệt, ngày thường xui dục, làm cho cha ông ghét bỏ ông, nhưng ông vẫn dốc lòng hiếu thảo với cha và mẹ kế. Mùa đông nước đóng váng, mẹ kế muốn ăn cá tươi, ông cởi trần nằm trên váng nước, để tìm cá, bỗng tự nhiên váng nước nứt đôi ra, có hai con cá chép nhảy lên, ông đem về cho mẹ kế xơi. Thấy ông hiếu thảo như thế, sau cha và mẹ kế ông cảm động, lại yêu quý ông lắm.

Người Vương Tường cũng là đời Tấn,
Tủi huyên đường sớm lẩn bóng xa .
Mẹ sau gặp cảnh chua ngoa,
Tiếng gièm thêu dệt với cha những điều .
Lòng cha chẳng còn yêu như trước,
Lòng con thường chẳng khác như xưa .
Mẹ thương muốn bữa sinh ngư,
Giá đông trời lạnh, bây giờ tìm đâu ?
Trên váng đóng, quyết cầu cho thấy .
Cởi áo nằm rét mấy cũng vui .
Bỗng đâu váng lở làm hai,
Lý ngư may được một đôi đem về .
Bữa cung cấp một bề kính thuận,
Mẹ cha đều đổi giận làm lành,
Cho hay hiếu cảm tại mình,
Dẫu trăm giận, lúc hạ tình cũng thôi .


19. DƯƠNG HƯƠNG

Dương Hương sinh vào đời nhà Tấn, mới 14 tuổi, tính rất hiếu, cha đi đâu cũng theo đi hầu. Có một hôm, hai cha con cùng đi thăm ruộng đường xa, giữa đường gặp con hổ nhảy sổ đến định vồ cha ông, ông tay không, quyết xông vào dánh nhau với hổ, hổ phải bỏ chạy, cha con đều được vô sự cả.

Tấn Dương Hương mới mười bốn tuổi,
Cha bước ra hằng ruổi theo cha .
Phải khi thăm lúc đường xa,
Chút thân tuổi tác thoắt xa miệng hùm.
Ðau con mắt, hầm hầm nổi giận,
Nắm tay không, vơ vẩn giữa đường,
Hai tay chặn dọc, đè ngang,
Ra tay chống đối với hổ lang một mình.
Hùm mạnh phải nhăn nanh, lánh gót,
Hai cha con lại một đoàn về .
Cho hay hiếu mạnh hơn uy,
Biết cha thôi lại biết chi có mình.


20. MẠNH TÔNG

Mạnh Tông người ở Giang Hạ, về đời Tam Quốc, mồ côi cha, ở với mẹ, tính rất hiếu. Một hôm mẹ bị ốm, thèm ăn canh măng, nhưng vì khi ấy đương mùa đông, khó tìm được măng, ông lần vào rừng tre, một mình ngồi khóc, bỗng chốc có mấy giò măng mọc ở dưới đất lên, ông đem về nấu canh cho mẹ xơi, rồi mẹ khỏi ốm.

Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăng khăng.
Tuổi già trằn trọc, băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.
Trời đông tuyết biết tìm đâu được
Chốn trúc lâm phải bước chân đi .
Một thân ngồi tựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc, nằn nì với cây .
Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng, mặt đất nổi lên,
Ðem về điều đặt bữa canh,
Rồi bệnh mẹ lại lành như xưa .
Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Ðể về sau nhớ lấy cỏ cây .
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.


21. SỬU KIM LÂU

Kim Lâu người nước Tề, tính rất hiếu, được bổ làm thái thú ở quận Bình Lăng, đến nhận chức chưa dược 10 hôm, bỗng tự nhiên thấy tâm thần bàng hoàng, mồ hôi chảy ra như tắm, ông biết là ở nhà có việc chẳng lành, bèn từ chức về quê ; khi về đến nhà thì cha bị ốm đã hai ngày, ông thấy thầy thuốc nói rằng: "Những người ốm mà phân đắng thì dễ chữa, không đáng lo ngại, người nào ốm mà phân ngọt, ông lấy làm lo ngại, cứ đêm đêm ba lần đốt hương hướng về sao Bắc Đẩu mà khấn, xin chết thay cho cha. Sau nằm thấy có người cầm một thẻ vàng có mấy chữ: "Sắc trời cho bình an". Ngày hôm sau cha ông được qua khỏi.

Sửu Kim Lâu có danh Tề quốc
Huyện Bình Lăng nhậm chức thân dân.
Tới nha chưa được một tuần,
Mồ hôi như dội, tâm thần thường đau .
Treo ấn ruổi vó câu buồn bã,
Về thăm cha, bệnh đã hai ngày .
Nếm dơ vẫn cứ lời thầy,
Ngọt ngào đầu lưỡi, chua cay trong lòng.
Thấy chữ dạy: "Bệnh trung nghi khổ"
Ước làm sao bệnh đỡ mới cam.
Ðêm đêm hướng Bắc, triều tam,
Xin đem tánh mạng thay làm thân cha .
Lòng cầu khẩn thấu tòa tinh tú,
Chữ bình an vui thú đình vi .
Cho hay mảy động huyền vi,
Thay mình truyện trước còn ghi kim bằng.


22. THÔI PHỤ ĐƯỜNG THỊ

Đường thị là vợ một nhà họ Thôi, thờ mẹ chồng rất hiếu, mẹ chồng tuổi già răng móm, không nhai được cơm. Đường thị cứ hàng ngày tắm rửa sạch sẽ, rồi đến cho mẹ chồng bú; hằng mấy năm mẹ chồng không phải ăn cơm mà cũng no. Cảm ơn ấy mẹ chồng không biết lấy gì đáp lại, khi mẹ chồng sắp chết, có khấn nguyện với trời xin cho con cháu dâu nhà họ Thôi ngày sau, ai ai cũng được hiếu thảo như Đường thị cả. Rồi sau các con cháu dâu nhà họ Thôi bắt chước nhau người nào cũng hiếu thuận. Vì thế, nhà họ Thôi được hưng thịnh.

Dâu họ Thôi, ai bằng Dương thị,
Thương mẹ chồng niên kỷ đã cao,
Không răng, ăn dễ được nào,
Ngày ngày lau chải, ra vào thăm coi .
Lấy sữa ngọt thay mùi cơm cháo,
Mấy năm trời chẳng gạo mà no .
Vì đâu dốc dạ thờ cô,
Da mồi, tóc bạc, bốn mùa như xuân.
Ơn lòng ấy khôn phần báo lại,
Buổi lâm chung, nhủ với hoàng thiên,
Xin cho nguyền được như nguyền,
Dâu dâu ngày khác lại hiền như dâu .
Ai nghe cũng răn nhau hiếu kính,
Cửu Thôi gia hưng thịnh đời đời .
Cho hay gia khánh lâu dài,
Báu nào còn báu hơn người dâu ngoan.


23. CHU THỌ XƯƠNG

Chu Thọ Xương sinh vào đời nhà họ Tống, ông là con vợ thứ, năm ông lên bảy tuổi, thì mẹ đích ông đuổi mẹ ông đi, sau ông được làm quan, nghĩ đến công mẹ đẻ khó nhọc, nay mình được sung sướng, để mẹ đẻ lưu lạc trong lòng không đang. Ông quyết từ quan đi tìm mẹ đẻ. Trước khi đi, ông có thề rằng: "Nếu không tìm thấy mẹ, thì chết cũng đành". Sau ngẫu nhiên đi đến Đồng Châu thì mẹ con gặp nhau. Mẹ con xa cách nhau đã 50 năm nay lại được gặp nhau, rất là vui vẻ, ông bèn đem mẹ về phụng dưỡng.

Châu Thọ Xương làm quan Tống đại,
Mẹ sinh ra bảy tuổi lìa lòng.
Bởi vì đích mẫu chẳng dung,
Ðem thân bồ liễu bạn cùng nước non.
Muôn nghìn dặm mẹ con xa cách
Năm mươi năm trời đất bơ vơ .
Sinh con những tưởng cậy nhờ,
Cái thân sung sướng bây giờ mà chi ?
Bỏ quan chức, quyết đi tìm tõi,
Nặng lời thề nói với gia nhân,
Thân này chẳng gặp từ thân,
Thời liều sống thác với thân cho đành.


24. HOÀNG ĐÌNH KIÊN

Hoàng đình Kiên sinh vào đời nhà Đường, làm quan đến chức Thái sử (quan coi việc chép sử) thờ cha mẹ rất hiếu, tuy mình làm quan sang, có nhiều đầy tớ hầu hạ nhưng các đồ của cha mẹ dùng để đại tiểu tiện, dù dơ bẩn đến đâu, ông cũng tự tay rửa lấy, không sai người nhà lau rửa bao giờ cả.

Triều Nguyên Hữu có thầy Tăng Trực,
Là họ Hoàng ngồi chức sử thần,
Ơn vua đã nhẹ tấm thân,
Phận con, vẫn giữ thờ thân như ngày .
Ðồ dơ bẩn tự tay lau chuốt,
Việc tầm thường chẳng chút đơn sai,
Há rằng sai khiến không ai,
Ðem thân quan trọng thay người gia nô .
Chức nhân tử phải cho cần khổ,
Có mẹ cha mới có thân ta,
Cho hay đạo chẳng ở xa,
Hãy làm hiếu tử mới ra trung thần.
Bấy nhiêu tích cổ nhân về trước,
Cách nghìn xưa như tạc một lòng.
Kể chi kẻ đạt, người cùng,
Lọt lòng ai trốn khỏi vòng di luân.
Buổi công hạ cảm thân dày đội,
Xa hương quan, gần cõi Thánh Hiền.
Trông vào những thẹn bóng đèn
Muốn lưu gia phạm, nên truyền quốc âm.


2410