Sidebar

Thứ Ba
27.02.2024

Sấm Truyền Cũ_Truyện 101_110


SẤM TRUYỀN CŨ
Truyện Thứ Một Trăm Lẻ Một đến Thứ Một Trăm Mười

TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM MỐT
VUA SALÔMONG LẬP ĐỀN THÁNH

(Trước Giáng sinh 1012 năm)

Vua Salômong lâu năm trị nước bằng an, nội trào ngoài quận đều đặng thái bình; bỡi vua phú quý kể chẳng xiết, thì tràn ra đến binh dân phú tức thanh nhành, ai nấy đặng ăn no ngủ ấm, vui vầy lạc nghiệp, ban trưa dựa bóng cây im mát, chẳng còn ưu tư sợ hãi; lại khi ấy chẳng có ai chuộng vàng bạc cho lắm, vì là của thường có; và những vua chúa phú quý sang trọng, vì chẳng bằng vua Salômong chúc nào. Vậy những đồ vật thực trong đền vua, dùng mỗi một ngày mười thùng bột lọc, hai mươi thùng bột thứ hạng cho kẻ giúp việc, cùng mười con bò béo, lại hai mươi con bò thứ hạng và một trăm cho chiên, còn các giống hưu nai cùng chim lớn nhỏ, thì kể chẳng xiết. Trong đền có bốn muôn con ngựa để kéo xe, lại một muôn hai ngàn ngựa cầm tàu, có quân đội ngũ, hàng ngày tập luyện coi sóc ngựa ấy. Cho nên vua Salômong khi ấy đặng thiên hạ gọi là Vua bằng an.

Ý ĐCT cho vua nầy đặng thong dong vô sự, để mà lo cất đền thánh, vua Đavít đã sắm sửa toan làm thuở trước, song le mắt trỡ giặc giả làm chẳng đặng. Vậy vua Salômong lấy cả sức trí khôn ngoan sáng láng, làm việc cực trọng ấy, nên moi đặt ba ngàn sáu trăm quan để áp tác các thợ, lại chọn tám muôn quân cưa và đẽo đá trên núi, cùng bảy muôn tráng lực, để khiêng đá ấy cho đến nơi lập đền thánh. Sau nữa vua gởi lời cùng vua nước Tirô, xin đánh các gỗ súc trên núi Libanô thuộc về địa phận nước ấy. Vậy người bày biện sắp đặt các việc sán tạo đền thánh cực trọng ấy chẳng có đền đài lầu các nào dưới thế gian nầy ví cho bằng. Từ vua Salômong lên quờn đặng bốn năm, thì khỉ sự làm việc trọng ấy cho đủ bảy năm mới hoàn tất đền thánh. Khi ấy vua chừng đặng hai mươi tuổi, mà đặng phước trọng cất đền thờ ĐCT, là khi khắp bầu thế giái chưa có nơi nào làm đền thánh mà thờ phượng Chúa. Vậy đền thánh nầy oai nghi trọng vọng, đồ sộ tốt lành, hơn mọi đền đài lầu các, vua chúa thế gian trước sau đã lập.

Ông thánh Amvolôxiô Giám mục thánh Sư gẫm rằng: chớ chi vua Salômong khi đã lo hết sức mà lập đền thánh cho sáng danh Chúa, thì cũng lấy lòng khiêm nhượng, mà sắm sửa trong linh hồn một đền thờ cực trọng là đền thờ ĐCT yêu chuộng hơn đền vàng tòa báu. Song le khi vua còn trẻ, thì làm những việc cao trọng dường ấy; ai ngờ đến lúc tuổi già, thì làm hại linh hồn và xác mình, mắc phải danh nhơ tiếng xấul nên gương dạy dỗ kẻ dâng của lễ nơi đền thờ ĐCT, thì phải biết, dầu mà của ấy rất trọng trước mặt thế gian, thì cũng chẳng nên lấy đó mà cậy sức mình cùng lo ra kiêu ngạo. Vì chưng phước thật, chẳng phải là đặng vang hiển dưới thế gian, song phước thật là ở khiêm nhượng trươc mặt ĐCT. Chúa muốn của tế lễ loài vật, là của chẳng làm phỉ lòng Chúa, song le lòng khiêm nhượng ăn năn thảm thiết, ấy của tế lễ đẹp lòng Chúa hơn hết. Sự sang trọng thế gian, là gánh nặng nề, ai mong gánh ấy, mà khỏi ngã xuống là họa. Ai ở khó khăn hèn mạt, ấy kẻ đi đàng, mà thong dong nhẹ nhẽ thì thường lề khỏi tai nạn mà đặng nghỉ ngơi an lòng mà chờ.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM HAI
VUA SALÔMONG LÀM LỄ KHÁNH TÂN ĐỀN THÁNH
(Từ tạo thiên lập địa đặng 3000 năm.
Trước Chúa ra đời đặng 1004 năm)

Khi vua Salômong đã cất xong Đền Thánh, và sắm sửa các giống vàng bạc, cho các thầy dùng làm việc thờ phượng Chúa đoạn, thì mới toan làm lễ khánh tán Đền thánh, cùng đem Hòm Bia Truyền Thiên Chúa, đặt giữa căn bàn thờ trong. Vua dạy đòi cả và dân trong nước tụ hiệp lại, còn các thầy đi rước Hòm Bia Truyền Thiên Chúa, ở nơi nhà tạm vua Đavít đã làm năm trước

mà đem về Đền Thánh mới. Vua Salômong đi trước dẹp đàng, mà các thầy thì khiêng Hòm Thánh, và tế lễ muôn vàn chiên bò, theo đàng đi. Khi tới Đền Thánh, liền để giữa căn trong, tức thì có một áng mây bỡi trời mà xuống, che phủ cả và Đền Thánh; cho nên các thầy kinh khủng mà ngưng việc tế lễ lại, bỡi vì sợ hãi quá. Vua Salômong thấy ĐCT làm dấu tỏ ch nhậm lấy đền thời nầy, thì vua quỳ gối trước bàn thờ, giơ tay lên cao, mà nguyện rằng: Ai ngờ là ĐCT khấng hạ sự sang trọng Người xuống đất, mà ở cùng thiên hạ ! Kìa cả và trời đất trử chữa tôi còn chẳng đáng ! Huống chi đền thờ nầy, tôi dưng Chúa, lẽ gì Chúa ngự trong ấy cho xứng đáng ! vua cầu cùng ĐCT, xin ban xuống mọi sự lành cho cả và dân, cùng xin Chúa hãy nhậm lời kẻ đời nầy và kẻ đoi sau, hễ ai đến cầu xin trong đền thờ, mà kêu van than khóc, biết mình là kẻ có tội mà cầu nguyện, thì xin Chúa tha thứ cho kẻ ấy. Vua lại xin rằng: Đến ngày sau, hoặc là có giặc nào đến đánh nước nầy phải túng thế, thì xin cho đặng phép Chúa bỡi đền thánh nầy mà dẹp an giặc, lại hoặc là ngày sau, người ta phạm tội ỗi, làm cho trên trời khô khan như gan đồng, dưới đất cứng như đá, ấy là tai hạn làm cho cả và thiên hạ phải gầy mòn khô héo; mà dân chạy đến cầu xin trong đền thờ nầy, thì xin Chúa mở mạch nước bỡi trời sa xuống, mà rưới đượm đất đai, cho đặng hóa sanh hoa quả như thuở trước. Sau hết vua lại nguyện rằng: Xin Chúa ghé mặt, lắng tai trong đền thờ nầy luôn, mà xe nghe lời kẻ đời sau, sẽ xin Chúa cho đặng sự lành. Vua Salômong làm lễ khánh tán đền thờ nầy đủ mười lăm ngày, và tế lễ trong bấy nhiêu ngày ấy. Tính hết hai muôn hai ngàn con bò, một vẹo hai muôn con chiên.

Các Thánh gẫm rằng: Vua Salômong tôn kính thờ phượng ĐCT dường ấy, lẽ thì giáo hữu còn phải có lòng thờ phượng ĐCT hơn nữa. Đền thờ cực trọng vua ấy làm thuở trước, nên ví dụ các nhà thánh vì chưng trong nhà thánh có ĐC Giêsu ngự thật trên bàn thờ. Mà áng mây che phủ đền thánh vua Salômong, ấy là ví dụ phép Thánh Thể, ĐCG để truyền cho chúng tôi dùng, cho đến tận thế.

Ông thánh Gioan Kim Khẩu Giám mục thánh Sư gẫm rằng: Chẳng có giống gì trên trời cao xa, đàng cho chúng tôi kính chuộng, hơn Mình Máu Thánh ĐCG, ngự trên bàn thờ, khi thầy làm lễ Misa.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM BA
BÀ HOÀNG HẬU NƯỚC SABA ĐẾN CHẦU VUA SALÔMONG

Khi cấy đền thờ ĐCT xong, thì vua Salômong mới cất đền riêng cho mình, làm mười bốn năm mới rồi. Trong đền ấy mọi nơi những vàng bạc và các giống ngọc châu báo vô giá, và các giống kỳ vật ngoạn hảo, những trợ trí tài mực thước, sắp bày thứ tự nguy nga trăm thứ, làm cho con mắt người xem chẳng hay no. Cho nên danh tiếng vua nầy bay ra khắp mọi nơu, muôn dân thiên hạ náo nức tuôn đến, cho đặng thấy mặt vua, và mọi sự sang trọng người là thể nào.

Thuở ấy có một bà hoàng hậu nước Saba, địa xứ ở phương nam xa xác, khi nghe lời người ta đồn thổi vua Salômong sang trọng quá phẩm, bèn toan trẩy sang nước Giuđêa, mà xem cho hản, kẻo lòng nghi ngại; thì sắm sử quân, gia hầu hạ nghiêm tranh, và dọn của lễ dưng cho vua Salômong, là hai mươi hòm vàng, và hội trai cùng các giống bột châu báu, và hương kỳ nam, cùng các giống hương lạ hiếm. Vậy bà hoàng hậu vào đền ra mắt vua, bèn thấy các sự sang trọng quí quý vua Salômong, lại nghe những lời rất khôn ngoan vua phán, và thấy trí tuệ vua thông suốt mọi sự sâu nhiệm; lại thấy trong đền đài đâu đo thứ tự, nam nhơn tì nữ, dưới trên xứng đáng,m khéo sắp đặt dường ấy, thì bà hoàng hậu mới tâu vua rằng: Bây giờ tôi thấy tỏ tường mọi sự thiên hạ đồn thổi bấy lâu, mà tôi tin chẳng đặng, song bây giờ mắt tôi đã thấy sự người ta đồn thổi, thì còn kém xe ngàn trùng. Các thị trào nhà vua đặng nghe lời khôn ngoan vua phán, thì có lộc là thể nào ! Thật Đ C T thương dân nước này quá hậu, ban cho đặng một vua rất thông minh và sang trọng như vậy. Đoạn bà hoàng hậu từ giã vua Salômong, mà trở về nước mình. Khi ấy vua Salômong cũng biếu cho và hoàng hậu nhiều vật quý trọng hơn của bà ấy đã dưng. Bà hoàng hậu cùng gia nhơn đều mầng rỡ, nhắc đi nhắc lại những lời tai đã nghe, và mọi sự mắt đã thấy.

Ông thánh Amvoloxiô Giám mục thánh Sư rằng: Bà hoàng hậu nầy ở phương nam xa xác, mà đến nghe lời vua Salômong, nên ví dụ Hội Thánh ngày sau có người ở xa đàng, phước đức, cũng đến cùng Đ C G mà học hành cùng Người mọi lẽ khôn ngoan công chính, lại đặng của Người ban, là đức tin lòng mên. Đ C G phán rằng: Khi nghe truyện bà nầy, thì hãy sợ, vì chưng bà hoàng hậu sứ aba đã bỏ nước mình chịu khó trẩy đi đàng xa, chẳng nại công lao, cho đặng nghe thấy vua Salômong phán đoán lẽ khôn ngoan công chính. Huống chi kẻ có đạo càng phải chịu khó mà nghe những lẽ con ĐCT phán đoán, và lấy lời Người dạy như mực tài, chỉ đáng phưoc đức cho ta noi theo. Vậy chúng tôi muốn đặng phước thật, thì chẳng nên theo lẽ khôn ngoan thế gian, một phải theo lẽ khôn ngoan ĐCG mà che bỏ sự sang trọng giả trá thề gian, mà chuộng sự sang trọng ĐCG đã hứa cho chúng tôi trên nước Thiên đàng.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM BỐN
VUA SALÔMON PHẠM TỘI

Vua Salômong từ thuở mới lên ngôi, cho đến hơn năm mươi tuổi, thì làm những việc có công danh, chẳng ngờ khi đến già cảm thì lại làm những sự xấu xa nên gương làm chứng loài người ta dầu sáng láng khôn ngoan, thì bổn tính cũng còn yếu đuối như kẻ khác, nên chẳng có lẽ gì mà dám cậy sức mình đặng bền đỗ. Ấy cũng tại sự phải lòng người nữ, thì làm cho tính người ta ra hoan đàng hư hốt. Vua Salômong thuở trước, hết lòng kính chuộng ĐCT, rày mê đắm những sự dơ dáy, dám cả lòng bỏ Chúa, mà theo lạy bụt thần dân ngoại. Bỡi vua nầy mê dâm dục thới quá, nên cưới nhiều vợ, và trong những đờn bà ấy cò nhiều kẻ còn ngoại. Vua cưới vợ ngoại là cả dám phạm lịnh Chúa, vì ĐCT cấm dân Chúa chẳng đặng cưới vợ ngoại mà rằng: Đến ngày sau bay cưới vợ ngoại, thì nó sẽ dỗ dành bay và giục lòng bay lạy bụt thần ma quỷ, cho đẹp lòng nó. Lại vua Salômong cất đền thánh cực trọng, để thờ phượng ĐCT, thì nay cũng cất chùa mà thờ phượng các bụt nước Êgíp tô, nước Ammon, nước Môáp, và nhiều giống bụt khá làm vậy nữa. Những đờn bà ấy muốn đi lạy bụt nào, thì vua lại đi theo mà a dua cho đẹp lòng nó; nó xin vua cất chùa mới nào, trong thành Giêsuralem cùng các xứ xung quanh, thì vua phát vàng bạc mà làm, nên vua đã làm mất lòng ĐCT quá lẽ.

Vậy ĐCT hiện đến cùng vua Salômong mà quở rằng: Bởi vì mầy phạm lịnh Tao, bỏ nghĩa Tao, thì Tao sẽ chia nước mầy ra làm hai, mà phú phần nhiều cho tôi tớ mầy trị lấy, để cho mầy biết suy, Tao có phép phạt là thể nào. Song bỡi tao còn nghĩ đến Đavít, là người thiết nghĩa cùng Tao, thì Tao sẽ đế một chút dấu tích cho dòng dõi mầy đặng trị.

Vua Salômong nghe bấy nhiêu lời, thì bỡ ngỡ lăm, Sau có một người bộ thần nội điện, tên là Giêrôbôam, ra ngoài thành Giêrusalem nơi vắng vẻ, gặp thánh tiên tri giữ đang; mà thánh tiên tri ấy mặc áo mới, người liền xé áo ra làm mười hai phần, mà bảo Giêrôhôam, cất lấy mười phần, cùng phán rằng: ĐCT đã định cho ông ngày sau lên trị mười dòng trong nước nầy. Đến khi vua Salômong mắng tiếng thánh tiên tri đã phán hứa như vậy, thì vua toan bắt Giêbôam mà giết; cho nên Giêbôam phải trẩy sang nước Êgíp tô mà tị nạn cho đến khi vua Salômong băng hà, thì mới trở về quê xứ.

Vua Salômong trước khi sinh thì, có ăn năn trở lại hay chăng, thì trong sách Sấm truyền chẳng có nói đến sự ấy; biết một điều là vua ấy đã mất lòng ĐCT quá lẽ, mà chẳng bếit vua ấy có trở lại cùng Chúa chăng ! Kìa chẳng có tội nào làm hại cho ta bằng tội dâm dục ! Tội nầy làm cho kẻ khôn ngoan trở nên người ngây dại ! Tội nầy lại mỡ đàng cho ta phạm trăm tội khác, và sau hết làm cho ta phải khốn và xác và hồn !

Ông thánh Augutinô Giám mục thánh Sư rằng: Ông Gióp ngồi trên đống phân mà đặng phước hơn vua Salômong ngự trên tòa vàng; vì chưng ông Gióp phải khốn nạn mà hết lòng nhịn nhục, khiêm nhượng tin cậy Chúa; còn vua Salômong cả đời hưởng mọi sự sang trọng sung sướng, đến cùng đời, lại sa ngã xấu xa, lưu truyền muôn đời một danh nhơ tiếng xấu và phần rỗi lại càng phải hiễm nguy hơn nữa.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM NĂM
VUA RÔBÔAM LÊN TRị VÌ
(Trước Giáng sinh 975 năm)

Khi vua Salômong băng hà đoạn thì thái tư tên là Rôbôam lên quờn nối ngôi. Vậy chư tướng cùng nhân dân đều đến tâu vua, xin giảm một hai phần thuế cho dân, kẻo nặng quá mà dân chịu chẳng nổi, thì vua kỳ ba ngày để tính việc ấy. Khi đầu vua Rôbôam hiệp nghị cùng các quan lão thần khôn ngoan, là những quan đã giúp việc nước cùng vua Salômong thuở trước. Các quan ấy khuyên tằng: Rày vua mới lên ngôi, lòng nhơn dân hãy còn xao xuyến. Xin vua nới bớt cho dân, hầu đẹp lòng nó: đến ngày sau muốn làm thể nào, khi ấy sẽ hay. Vua còn niên ấu, bỏ lời các quan lão thần khôn ngoan mà đi bàn tính cùng các quan trẻ tuổi, là trang tác chơi bời cùng vua bất lâu, thì các quan ấy tâu rằng: Vua chịu thua dân làm chi ? Phải làm cho nó sợ thì hơn, kẻo ngày sau nó quen dễ ngươi, mà sinh sự lớn; xin đức vua phải quở nó rằng: Cha tao thuở trước lấy roi mà đánh bay, rày tao sẽ lấy gậy sắt mà đánh bay. Dân nghe lời thể ấy thì hiểu vua chẳng có lòng thương, liền bỏ ra về hết. Ý ĐCT muốn phạt vua kiêu ngạo dại dột nầy, vì chẳng biếng xét, mà nói những lời độc ác làm vậy, thì muốn lấy sự dại dột nầy, mà phạt tội vua Salômong, như lời thánh tiên tri đã phán năm trước. Cả và dân nghe những lời dữ tợn hung bạo nầy, thì mười dòng dân Isarae trở lòng ngụy cùng vua và ném đá quan trục thuế, mà rước Giêrôbôam lên trị mười dòng, còn hai dòng phục vua Rôbôam mà thôi.

Bấy giờ vua Rôbôam giận lắm, liền tu chỉnh binh mã, lại tuyển một vẹo tám muôn binh bỡi hai dòng Giuđa cùng Bengiaminh mà đi đánh. Khi ấy Giêrôbôam trị mười dòng Isarae, thì cũng sắm sửa cất binh cự địch. - Thuở ấy một thánh tiên tri đến can vua Rôbôam, mà rằng: Vua đừng đi đánh làm chi vô ích: việc nầy ĐCT đã định, nào có sức gì cải đặng ? Thì vua nghe lời mà bãi binh về. Vậy tư ấy về sau, con cháu ông Giacóp chia ra làm hai nước: một nước gọi là Giuđêa, phục dòng dõi vua Đavít; một nước gọi là Isarae, có vua riêng vỗ trị lâu năm, cho đến khi vua cùng dân sự nước ấy phạm tội quá lẽ, thì ĐCT phạt phải làm tôi tá nước Axiria. - Vậy vua Rôbôam còn trẻ tuổi mà ngây muội, nên gương cho ta đặng hay, sự khôn ngoan sáng láng là ơn riêng ĐCT ban xuống, chẳng phải gia tài cha mẹ để truyền cho con cháu đâu. Vua Salômong rất khôn ngoan mà sinh ra con dại dột. Đó là hình phạt ĐCT, vì tội vua cha.

Các thánh gẫm rằng: Vua Rôbôam nghe lời kẻ dại dột, mà bỏ lời người khôn ngoan, thì nên ví dụ kẻ đời sau bỏ lời các thánh Sư và che bai Hội Thánh, mà nghe lời kẻ dại dột bày đặt lẽ trái, dua nịnh cùng tánh xấu nó, và làm cho nó phải khốn như vua Rôbôam mà chớ.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM SÁU
ĐCT PHẠT THÁNH TIÊN TRI KIA

Vậy vua Giêrôbôam lên trị nước Isarae chẳng bao lâu thì đã trở lòng cùng ĐCT. Vua ấy nghĩ rằng: nếu để dân Isarae đi tế lễ ĐCT nơi thành Giêrusalem, như Chúa đã truyền dạy thuở trước, ắt lần lần nó sẽ trở lòng ngụy cùng mình, mà về đầu nước Giuđêa chẳng sai. Vậy vua ấy dạy đúc hai con bò vàng, một con thì đặt ở thành Bêthêlê, là giáp cõi đầu nước Isarae; con khác ở thành Đăn, là rốt bờ cõi địa phận nước ấy; mà truyền lịnh cho cả và dân trong nước, phải đi thờ lạy hai hình bò ấy; đó là Chúa đã sanh thành mọi loài, cùng đã cứu dân Isarae khỏi làm tôi nước Êgíptô thuở trước.

Vua tốn hao nhiều của mà làm bàn thờ, tết lễ hai bụt mới dựng nên đó, và đặt nhiều thầy làm sãi và cấp nhiều bỗng lộc mà nuôi nó, lại ra sức làm cho trọng thể, bắt chước các thói phép làm tại đền thờ thành Giêrusalem. Ngày kia, khi vua Giêrôbôam ở thành Bêthêlê tế lễ bụt ấy, thì ĐCT sai thánh tiên tri đến nửa mùa, đang khi làm việc nơi bàn thờ quái dị ấy: thánh tiên tri chẳng nể vua, cùng chẳng sợ dân sự đang tựu hiệp ở đó, cả tiếng mà nói rằng: Ớ bàn quái dụ kia, mầy phải biết, đến ngày sau sẽ có một vua bỡi dòng dõi ông Đavít, tên là Gio-si, sẽ giết các sãi nầy, và đổ máu ra trên bàn thờ nầy. Mà cho vua cùng dân sự biết, ta nói lời chơn thật, thì ta phán rằng: ớ bàn thờ kia, mầy phải vở ra làm hai trước mặt thiên hạ. Người phán bấy lời, tức thì bàn thờ ấy liền vỡ ra làm hai. Vua bèn kinh khủng cùng giận lắm, liền chỉ tay lên mà truyền rằng: Hãy bắt thằng nầy cho tao; song vừa nói thì tay vua liền cứng ngay ra, co vào chẳng đặng. Khi ấy vua mới chịu phép, mà thưa thánh tiên tri lời khiêm nhượng, xin cầu nguyện cho cánh tay vua đặng lành đã. Thánh tiên tri cầu nguyện đoạn, vua liền co đặng tức thì. Vua thấy nhiều phép lạ như vậy, thì kính sợ cùng dưng cho người nhiều của lễ, lại mời ăn một bàn cùng vua. Nhưng mà tiên tri nầy chẳng khấng chịu, mà tâu vua rằng:

ĐCT dạy tôi chẳng nên ăn uống vật gì ở đây Nói đoạn người liền trở về nhà, Bấy giờ có một đứa giả trá chạy theo ông nầy, và gặp người ngồi nghỉ giữa đàng, dưới bóng cây im mát thì nói cùng người rằng: Tôi cũng là tiên tri như ông, có Thiên thần dạy tôi chạy theo ông, xin ông đến nhà tôi mà ăn bữa cùng tôi. Vậy nó phỉnh ông ấy, mà đem người về nhà.

Đang khi ăn uống nói khó cùng nhau, thì thằng giả trá mới nói tiên tri rằng: Bỡi vì ông chẳng vưng lịnh ĐCT, mà đã nghe lời tôi phỉnh đỗ, thì ông chẳng về đến nhà, ông sẽ phải chết dọc đàng mà chớ.

Khi đã ăn bữa đoạn, thánh tiên tri mới lên lừa mà trở về; chẳng ngờ khi đã đi một đỗi, bèn có con sư tử chạy đến giết người; nhưng mà nó chẳng ăn thịt, cùng chẳng làm hại chi con lừa, một bỏ xác người ở đó mà thôi. Đến khi tiên tri giả trá kia mắng tiếng thì mới đi tìm mà cất xác người, và thương tiếc cùng ngợi khen đức người.

Ông thánh Ghêlêgoriô Giáo tông gẫm rằng: thánh tiên tri nầy làm nhiều phép lạ, trước mặt vua cùng cả và dân. Khi thì làm cho cánh tay vua phải cứng đi, khi làm cho co lại đặng; khi dạy bàn thờ đá bể ra làm hai, làm cho cả và dân kinh khủng, song bởi tiên tri nầy khi ấy lo ra kiêu ngạo, khen mình là người ĐCT dùng làm những việc rất cả thễ mà bởi có lòng kêu ngạo như vậy, thì đã ra tối trí, mà nghe lời phỉnh dỗ, nên phải chết. ĐCT phạt tiên tri ấy ở đời nầy, cho đặng cứu linh hồn đời sau, kẻo hoặc lại sinh sự kiêu ngạo khác, mà phải mất linh hồn chăng.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM BẢY
TƯỚNG LĂNGBÊRI SOÁN NƯỚC ĐOẠN TỰ VẬN

Vua Giêrôbôam trị nước Isarae đặng hai mươi hai năm, những cải lời thánh tiên tri, mà thờ bụt thần, lại giục dân theo mình nữa. Vua cai trị mấy năm thi luôn luôn những làm mất lòng ĐCT, và hằng khiêu chiến cùng vua nước Giuđêa luôn. Vua Giêrôbôam chết một cách rất khốn nạn, và thái tử tên là Nađáp lên thế ngôi. Song cha nào con nấy, vua mới nầy cũng bắt chước vua cha, bỏ Chúa mà thờ bụt, nên chẳng bao lâu sau phải tay Chúa phạt. Vì chưng có một tướng, tên là Bada, nỗi dậy cướp nước chiếm ngôi, cho nên Nađáp trị nước đặng hai mươi năm mà thôi. Bađa lên làm vua nước Isarae, đánh giặc dữ tợn lắm, và hằng giao chiến cùng vua nước Giuđêa, tên là Axa, là cháu vua Rôbôam. Song vua nầy nhơn đức, có lòng thờ phượng ĐCT cùng phá các việc dị doan ma qủy trong nước ; bởi đó ĐCT cho vua đặng thắng trận cả đời, làm cho vua Isarae phải thua luôn. Chẳng khỏi mấy năm, vua Bada băng hà, con người lên trị đặng hai năm mà thôi, vì chưng có một tướng tên là Lăngbêri, trở lòng ngụy, giết vua đang khi ăn bữa. Bấy giờ Lăngbêri liền chiếm ngôi, nhưng trị nước chẳng đặng bao lâu, trị đặng bảy ngày mà thôi, vì có một tướng khác, tên là Amri, lại trở lòng phản cùng Lăngbêri, mà phá thành lũy tướng ấy ở. Khi ấy tướng Lăngbêri đã cùng lực hết thế, nên nó trở lòng dữ cùng mình, như đã có lòng dữ cùng vua mình khi trước. Vậy nó cùng con cái nó lên lầu, đoạn phóng hỏa, mà chết thiêu trên ấy hết. Những vua những tướng giành xé giết lẫn nhau, mà phải chết khốn nạn, làm chứng ĐCT ghét cùng phạt những đứa bạo ngược, những tôi thần bất trung. Phải chi Lăngbêri làm tướng, mà ở hết lòng cùng vua thì nay còn danh thơm tiếng tốt ; mà bỡi vì thêm lòng muốn làm lớn hơn, mà chiếm đoạt ngai vàng, thì phải khốn: là phải chịu lửa thiêu, cùng cả và dòng họ, kẻo trong đời còn dấu tích đứa rất quái gở phản ngụy cùng vua chúa như vậy!


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM TÁM
CON QUẠ NUÔI THÁNH TIÊN TRI ÊLIA

Vua amri trị nước được mười hai năm rồi băng hà. Con người, tên là Akháp, lên ngôi trị nước Isarae đặng lâu năm, mà phạm các giống tội lỗi, dể ngươi ĐCT hơn các đời vua trước. Vua nầy cưới con gái vua nước Xiđôn, tên là Giênabê; đờn bà nầy ngoại đạo cùng kiêu căng quỉ quyệt, mê thờ bụt thần. Cho nên vua cùng hoàng hậu cả hai, phạm các giống tội lỗi, lây hại cho cả và nước Isarae.

Khi ấy ĐCT sai thánh tiên tri Êlia khuên bảo dân nước Isarae, mà bỡi chẳng có ai nghe lời, thì thánh tiên tri lấy phép Chúa mà phạt cả và nước Isarae phải đại hạn ba năm, cùng bảo vua rằng: Nội trong ba năm, thì chẳng có một hột mưa, hay là hột mù sương bởi trời sa xuống. Thánh tiên tri phán lời ấy đoạn, thì ĐCT dạy người đi ở bên đông, ẩn mình trong khe thác; tại đó có suối nước chảy ra mà uống, lại có một con quạ mỗi ngày đem đồ ăn cho người ăn. Song bỡi lâu ngày chẳng có mưa, những nắng luôn, thì nước trong khe ấy khô ráo, cho nên ĐCT dạy người đi trong xứ Sarepta, đỗ nhà một bà góa kia già cả, thì bà ấy sẽ nuôi. Vậy thánh tiên tri vưng lịnh Chúa, bèn trốn qua xứ ấy. Khi đến nhà bà goá, liền xin một bát nước, thì bà ấy cho người uống; thánh tiên tri lại xin một miếng bánh ăn với, bấy giờ bà ấy mới thưa rằng: Thật trong nhà tôi đã hết, chẳng còn bánh gì, còn một chút bột với một chén dầu oliva, khi nãy tôi đi quơ một hai que củi đem về nấu bấy nhiêu bột, cho hai mẹ con tôi ăn một bữa nữa rồi chết, vì nước nầy lân cận cùng nước Isarae cho nên cũng phải đại hạn. Vậy thánh tiên tri Êlia bảo bà ấy, lấy một chút bột làm một cái bánh nhỏ cho người ăn, mà người phán rằng: Bấy nhiêu bột nầy bấy nhiêu dầu oliva nầy, sẽ có đủ ăn hàng ngày, chẳng bao giờ hết, cho đến khi ĐCT cho mưa xuống trên đất nầy. Mà lời thánh tiên tri phán thì có quả thật như vậy. Bà ấy tuy ngoại, mà thấy phép lạ nên mừng rỡ lắm và cho thánh tiên tri ở đỗ nhà mình, cùng hết lòng kính tôn giúp đỡ.

Vậy ĐCT tỏ ra cho ta đặng hay tỏ tường, khi Người sai đầy tớ Người đến nhà nào, mà ở đỗ ăn nhờ của nhà ấy, thì nhà ấy chẳng có hao tốn thiệt hại gì sốt, song ai thương đầy tớ ĐCT, thì đặng mọi sự làng trong cữa nhà mình. Lại nói khi ông Êlia còn ở nhà ấy, thì con trai bà nầy tình cờ phải chết, mà bà ấy lo buồn thương tiếc lắm. Thánh tiên tri thấy vậy động lòng thương, bảo bà ấy đặt xác con nằm giữa nhà, đoạn thánh tiên tri nằm trên xác trẻ ấy, mặt mũi chơn tay người trên mặt mũi chơn tay nó, mà làm cho nó hồi dương sống lại.

Truyện nầy là Ví dụ Con ĐCT, là Đấng cao trong vô cùng, mà xuống thế làm người hèn mọn, bỡi vì Người hiệp làm một cùng chúng tôi, thì chúng tôi mới đặng sống lại, và khỏi chết vô cùng. Lại sự thánh tiên tri nầy ở đỗ nhà bà goá ngoại, làm nhiều ơn trọng cho nhà ấy, nên ví dụ dân Giudêu phải đại hạn, là mất đạo chính, còn các nước xưa ngoại đạo, mà bơi có lòng kính chuộng ĐCG, thì đặng Người làm cho no đủ chẳng cùng.

Sau hết, truyện thánh tiên tri thâu mình nhỏ lại vừa xác con trẻ, nên ví dụ các thầy phải ở cho khôn khéo khiêm nhượng, mà dạy dỗ các giáo hữu và người chầu nhưng đạo mới, như lời ông thánh Phaolồ rằng: phải ở cho vui mặt cùng kẻ vui mừng, phải khóc lóc cùng kẻ lo buồn, ai yếu đuối phần linh hồn, thì mình cũng ăn ở như mình yếu đuối; lại như ĐCG chẳng nệ nhẹ thể Người, mà ẵm lấy con trẻ hèn mọn, dạy dỗ kẻ u mê dốt nát, khi thì giảng dạy ngoài đàng, khi trong nhà kẻ xấu nết, khi thì Người đến ăn bữa trong nhà kẻ có tội, khi thì lấy sự tầm thường làm ví dụ mà dạy sự mầu nhiệm, vừa trí mọi người. ĐCG ăn ở như người thường dân, để mà an ủi kẻ khó khăn hèn mọn; noi gương ĐCG ăn ở như vậy cho đặng cứu lấy linh hồn người ta.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM CHÍN
THÁNH TIÊN TRI ÊLIA TẾ LỄ ĐCT

Đang khi thánh tiên tri Êlia ở đỗ nhà bà goá kia, thì vua Akháp và bà hoàng hậu sai quân đi can tầm khắp nơi, bắt người mà giết; mà bỡi tìm chẳng đặng thì giận lắm, bèn dạy giết các thầy đạc đức ở trong nước cho đã nư. Đến ba năm mới hết đại hạn, thì ĐCT dạy thánh tiên tri Êlia ra trước mặt vua Akháp. Khi ấy có một người nhà vua, tên là Apđia, nhơn đức, có lòng kinh thương các tiên tri lắm; cho nên khi vua tìm bắt mà giết, thì người nầy giấu giếm một trăm tiên tri trong hang đá, cùng nuôi dưỡng ba năm trong thì đại hạn. Bấy giờ thánh tiên tri Êlia bảo người nầy rằng: phải đi tâu vua đặng hay: Êlia hòng đến, thì người ấy liền đi, bèn gặp vua Akháp ngự trên xe, đang đi tìm tiên tri Êlia, thì người ấy dẫn đàng cho vua đến chỗ tiên tri ở. Vua vừa thấy mặt người, bèn quở rằng: Bay là ai, mà dám làm khốn cả và nước? Khi ấy ông thánh Êlia đỏ mặt như lửa cháy, mà tâu vua rằng: Ta chẳng làm hại ai, vua và dòng dõi vua bỏ ĐCT mà theo bụt thần, ấy vua chúc là kẻ làm hại cả và nước mà chớ. Nay xin vua dạy cả và dân cùng các sãi tựu hiệp ở đây làm một việc nầy cho vua biết. Bấy giờ vua liền nghe, mà truyền như làm vậy.

Khi dân cùng các sãi đã tụ hiệp lại đông lắm, thì ông Êlia phán cùng cả và dân rằng: Nhơn sao cả và nước Isarae chia lòng ra làm hai: mà lo ra hai đàng làm chi? Ví bằng ĐCT là Chúa thật trên hết mọi vật, thì hãy theo Người cho trọn. Ví bằng bụt là thật chúa, thì hãy theo bụt. Nay có một mình tôi là đầy tớ ĐCT, lại sẵn có bốn trăm mười lăm sãi, là đầy tớ bụt ở đây: xin vua ban cho chúng tôi hai con bò; một con thì tôi tế lễ ĐCT, một con thì các sãi tế bụt; tôi sẽ cầu xin cùng ĐCT, các sãi sẽ kêu vang cùng bụt. Ví bằng ĐCT nghe lời tôi xin cho lửa bỡi trời xuống, đốt thịt cùng mỡ trên bàn thờ, ấy là dấu Người thật là Chúa chúng tôi phải thờ phượng. Ví bằng bên các sãi làm đặng phép lạ ấy, thì cả và dân sẽ thờ phượng bụt. Ai nấy nghe lời thánh tiên tri phán làm vậy thì mầng mà khen ngợi lắm, bèn dọn một bàn thờ cho các sải tế lễ bụt, các sải kêu van cùng bụt từ thái tảo cho đến trưa, nhưng mà chẳng thấy đi gí sốt. Cho nên ông Êlia nhạo nó rằng: Hãy la cho lớn tiếng hơn hoặc là bụt ngủ hay là mắc ăn cơm nên chẳng nghe chăng? Các sải giận lắm, nó chạy đi chạy lại xung quanh bàn thờ, lấy dao rạch thịt mình ra, và kêu la hết sức cho đến khan cổ hết hơi; nhưng cũng vô ích, cho đến khi nó đã mỏi mệt thua buồn, chẳng còn kêu la đặng nữa. Bấy giờ thánh tiên tri Êlia mới dạy đặt bàn đá và khai mương xung quanh, cùng chất củi trên bàn thờ, mà để thịt cùng mỡ trên ấy; đoạn người dạy đổ nước hơn hai mươi thùng lớn, nên nước chảy xuống tư bề, đầy xung quanh mương. Vậy khi đến giờ ĐCT định, là đầu giờ mùi, liền có lửa bỡi trời sa xuống, đốt cháy và thịt và củi, và bàn thờ đá, ra tro bụi, nước xung quanh mương ấy cũng tiêu đi hết. Khi ấy cà và dân sắp mặt xuống đất, mà kêu cả tiếng rằng: ĐCT là thật Chúa cả trên hết mọi vật, chẳng có ai ví cho bằng. Khi ấy thánh Êlia bảo dân rằng: Bay hãy bắt các sãi dối trá nầy, mà giết đi cho hết. Dân bèn nghe lời thánh tiên tri, mà giết các sải hết thảy, chẳng để một người nào sốt. Đoạn thánh tiên tri Êlia xin vua ngự về đền cho kịp, vì chút đây sẽ có mưa xuống lớn lắm. Vua về chưa kịp đến đền liền có mưa xuống đầy dẫy chứa chan.

Các thánh Sư gẫm rằng chẳng có sự gì dưới thế gian có sức mạnh cho bằng sự chơn thật. Thánh tiên tri Êlia có lòng vững vàng theo lẽ chơn thật; thì đã thắng cả và nước Isarae; dầu vua dữ tơn cũng chẳng hại người đặng. Người phải ẩn lánh hai ba năm, nhưng đến sau các sải phải chịu phép, và cả và dân bấy lâu thờ bụt thần, rày nghe lời thánh tiên tri dạy bảo, liền trở lại thờ phượng ĐCT.

Ông thánh Hiêronimô thánh Sư rằng: lẽ chơn thật chẳng có sợ muôn vàn người chống cải; lại chẳng khỏi bao lâu, kẻ chống cãi lẽ chính, phải chịn thua mà chớ.


TRUYỆN THỨ MỘT TRĂM MƯỜI
ÔNG THÁNH ÊLIA LÁNH NẠN

Khi bà hoàng hậu Giêxabê mắng tiếng ông Êlia dạy giết các sải, thì giận hoảng hốt, liền lấy tên các bụt thần mà thề, sẽ giết ông Êlia, lại nhắn lời cho ông ấy dặng hay trước. Thánh tiên tri nghe vậy, liền trốn đi ẩn nơi khác. Ông thánh Ghêlêgoriô Giáo tông thấy ông thánh nầy, khi thì dạn dĩ, khi thì nhát sợ, thì người gẫm rằng: Vốn lòng người ta còn ở thế gian, rất yếu đuối nhẹ tính là thể nào! Cho nên nhiều lần khi mới làm việc phước đức thì mạnh mẽ, thoát chúc liền trở nên yếu đuối quá lẽ!

Vậy tiên tri Êlia trốn lên rừng, mà bỡi nhọc nhằn buồn bực, thì xin ĐCT cất minh cho khỏi đời nầy, kẻo chịu chẳng đặng nữa. Đoạn người nằm ngủ, thì có một Thiên thần hiện đến, đánh thức người mả bảo rằng: Hãy chỗi dậy, mà ăn cho khỏa, Người trở mặt lại, liền xem thấy một cái bánh với một bình nước, thì người ăn bánh và uống nước, đoạn lại nằm xuống mà ngủ nữa. Vậy thánh Thiên thần lại đánh thức người mà bảo rằng: Hãy ăn, vì đàng đi còn xa lắm. Ấy vậy phen nầy người thức dậy và ăn, đoạn đi bốn mươi đêm ngày, mà chẳng biết mệt nhọc, vì nhờ bánh mầu nhiệm ấy đã thêm sức mạnh cho người. Bánh nầy chỉ phép Thánh Thể, làm cho linh hồn chúng tôi đặng sức mạnh, mà chịu các sự khốn khó đời nầy. Khi ông Êlia đã đến trên núi Orep, là liên sơn cùng núi Xina, thì ĐCT hiện đến dạy người, phải đi phong quờn cho ông Hadae, là tướng nước Xilia, lên làm vua trị lấy nước ấy; lại dạy phong chức cho tướng Giê-hu, làm vua nước Isarae. Vậy ông thánh Êlia vâng lịnh ĐCT, xuống núi, và đang khi đi đàng, bèn gặp ông Êliđêu đang cày ruộng; thì ông Êlia dạy người theo làm bạn cùng mình, hầu sau sẽ nên tiên tri cả, thế cho mình. Ông Elidêu từ giã cha mẹ, bỏ cữa nhà của cải, mà theo tiên tri Êlia, cùng coi người như cha mình vậy, còn ông Êlia cũng thương yêu Êlidêu như con vậy.

Khi tiên tri gần về cùng Chúa thì đã trao quyền lại cho môn đệ mình là Êlidêu. Từ ấy Êlidêu làm tiên tri và làm nhiều sự cả thể không thua thầy mình là thánh tiên tri Êlia.

Ông thánh Augutinô Giám mục thánh Sư gẫm rằng: ĐCG xuống thế làm nhiều việc lành phước đức nên gương trước mặt thiên hạ, nên đã sinh đặng muôn vàn thánh Nam Nữ, là những người ra sức bắt chước ĐCG, một người một cách; chẳng phải như ông thánh Êlia trọn đời sinh đặng một đầy tớ giống mình mà thôi. Trong Hội Thánh, các xứ các nước và trong các đời thì luôn luôn, gương lành và lời giảng dạy của ĐC Giêsu, đã sanh không biết là bao nhiêu kẻ lành, và vô số kẻ sau đã nối nghiệp cho Chúa dưới thế nầy là lo việc giảng đạo mà cứu rỗi linh hồn kẻ khác, là việc Chúa đã làm xưa xả đời Người khi còn ở thế nầy.


3042