Sidebar

Thứ Hai
17.06.2024

Sấm Truyền Cũ_Truyện 31_40


SẤM TRUYỀN CŨ
Truyện Thứ Ba Mươi Mốt đếnThứ Bốn Mươi

TRUYỆN THỨ BA MƯƠI MỐT
ÔNG GIACÓP TRẨY SANG NƯỚC ÊGÍPTÔ
(Trước Giáng sinh 1706 năm)

Khi các anh em ông Giuse trở về quê nhà, thuật tự sự cho cha già hay mà rằng Quan lớn nước ấy là anh em mới tôi, tên là Giuse, hãy còn sức khoẻ; ai ngờ ngày nay đã nên sang trọng dường ấy ! Và đang cai trị cả nước Êgíptô, phen này người mới tỏ ra cho chúng tôi biết.

Ông Giacóp nghe mấy lời, liền bất tỉnh dường như kẻ ngủ mê vậy.Khi tỉnh lại, mới sửa soạn trẩy sang cùng các con qua nước Êgíptô.

Song ông Giacóp là kẻ khôn ngoan đạo đức, trước khi toan tính việc ấy, thì người muốn biết thánh ý ĐCT thể nào.Vì sợ việc này không đẹp lòng Chúa chăng, sợ e ngày sau con cháu người đặng thanh nhàn ở nước Êgíptô, thì bỏ nghĩa ĐCT, cùng chẳng còn muốn trở về đất Chúa hứa nữa chăng. Vậy người cầu xin Chúa soi sángcho biết Thánh ý ĐCT thì Chúa mở lòng cho người, phải sang nước Êgíptô, đặng gặp ông Giuse trước khi chết.

Vậy ông Giacóp sắp đặt công việc nhà và đề huề gia tử lên đàng qua nước Êgíptô.Khi ông Giacóp đến gần nước ấy, ông Giuse mắng tin liền đi đón rước cha già.Khi hai cha con gặp nhau, thì sự mầng rỡ khó mà tỏ ra đặng.

Cả hai ôm lấy nhau cùng sa nước mắt. Đoạn ông Giuse mời cha lên xe mà trở về đền, cùng hỏi han các sự đã xảy ra trong lúc phải vắng mặt. Ông Giuse đem cha cùng các anh vào chầu ra mắt cùng vua nước Êgíptô. Vua này rất vui mầng cùng mời ông Giacóp ở lại trong nước.

Ông Giuse muốn cho các anh em sum hiệp một nơi, nên người tâu vua rằng: Bà con chúng tôi làm nghề chăn chiên, tôi xin đức vua khấn ban một khu đất ở xứ kia có nhiều cỏ tốt để cho anh em chúng tôi làm nghề hèn đó. Vì chưng người ở xứ Êgíptô coi nghề chăn chiên là một nghề hèn.

Vua liền nhậm lời ông Giuse xin, nên ông Giacóp và các con đã về ở một xứ có cỏ tốt tươi, để làm nghề chăn chiên.

Ông Giuse làm gương cho ta, dầu khi đặng qườn cao chức cả, thì chớ quên dòng dõi mình, dầu ở bực thường dân nghèo khó. Ông Giuse không hổ ngươi vì anh em mình làm nghề hèn hạ, bọn kẻ chăn chiên bò.

Ông thánh Gioan Kim Khẩu rằng: truyện ông Giacóp dạy ta nhiều điều: trong đời sống người, lúc phải sự gian nan khốn khó, lúc lại đặng sự vui mầng may mắng. Đó chỉ cho ta nhớ, ĐCT để cho kẻ lành sống giữa sự buồn và sự vui. Chúa không để cho chúng ta phải gian nan khốn khó luôn, kẻo chúng ta rủn chí ngã lòng. Chúa cũng không để cho chúng ta hưởng luôn các sự phước ở đời này, kẻo chúng ta quên ĐCT.

Sau hết, nước Egíptô là hình bóng thế gian. Ban đầu thì thấy những sự vui mầng sung sướng, song lâu ngày lại thấy khác, các sự vui mầng sẽ đổi ra sự buồn rầu. Cũng như con cháu ông Giacóp qua nước Êgíptô, ban đầu no ấm sung sướng, song chẳng bao lâu, lại gặp trăm điều khốn khó gian nan. Phải làm tôi mọi dân nước ấy, và phải bị hiếp đáp khinh chê.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI HAI
CÁC MỤ BÀ NỚC EGÍPTÔ CỨU CON TRAI DÂN ISARAE
(Trước giáng sinh 1577 năm)

Ông Giacóp ở nước Egíptô đặng mười bảy năm bằng an vui vẻ. Khi gần sinh thì, thì người kêu ông Giuse lại, mà xin con phải đem xác mình về mà chôn nơi phần mộ các tổ tông ở xứ Canaan . Đoạn ông Giacóp chúc lành cho các con, cùng nói tiên tri vì sự Chúa cứu thế ra đời, và nhiều sự khác thuộc về dòng dõi người; người di ngôn mọi lời, đoạn mời sinh thì. Người sống đặng một trăm bốn mươi bảy tuổi. Ông Giuse thấy cha qua đời thì buồn rầu thương tiếc. Người tâu vua xin phép đem xác cha già về an táng nơi đất tổ phụ xứ Canaan , theo như lời cha đã trối. Vua nước Êgíptô liền cho quan quân theo hầu, cùng đưa xác ông Giacóp về xứ Canaan mà chôn cất.

Khi mọi sự đã xong xuôi, ông Giuse trở về giúp vua cầm quờn cai quản cả nước Egíptô như trước.

Khi ông Giuse biết ngày lâm tử mình gần đến, thì kêu các anh em lại mà dặn rằng Ngày nào tôi qua đời rồi, thì các anh hãy đem xác tôi mà táng nơi phần mộ ông Abaraham chớ để tôi nằm nơi đất nước kẻ ngoại.

Ông Giuse trị nước Êgíptô đặng tám mươi năm, sống đặng một trăm mười tuổi.

Khi ông Giuse qua đời rồi, nước Êgíptô không còn đặng thới thạnh như hồi ông Giuse còn sanh tiền. Lại nữa, vua sau lên kế vị, không còn thương yêu con cháu ông Giacóp nữa, cũng không còn nhớ con cháu ông Giuse. Vua thấy con cháu ông Giacóp sanh sản ra rất nhiều, nên sợ ngày kia nó trở lòng với vua, nên vua sanh lòng ghen ghét, bày chước mà giết hại cho chết bớt đi. Vậy vua truyền bắt các con cháu ông Giacóp làm các việc nặng nề, hầm gạch xây thành đấp luỷ.

Song le việc nặng nề lại làm cho con cháu ông Giacóp sanh sản nhiều hơn nữa. Vậy vua mới bày một cách rất độc ác quái gở, là truyền cho các bà nước Egíptô, hễ đi làm mụ cho dân Isarae, mà thấy đẻ con trai, thì phải bóp mũi cho nó chết. Song các mụ bà, dầu là kẻ ngoại cũng chẳng dám làm việc độc các dường ấy. Sau vua hay đặng các mụ bà không chịu tuân lịnh vua truyền thì giận dữ quở trách, thì các bà ấy bày điều thưa dối rằng: đờn bà dân Isarae quen sanh đẻ một mình, chẳng hề kêu chúng tôi giúp.

Vậy vua Pharao truyền lịnh, hễ dân Isarae sanh ra con trai, thì đem bỏ dưới sông, ai chẳng vưng thì phải án tử.

các thánh gẫm rằng: dân Isarae ở nước Êgíptô chịu hiếp đáp, phải làm việc nặng nề khó nhọc. Đó là ví dụ: Hội thánh, lúc khởi công tạo lập, phảichiụ bắt bớ dữ dằn. Bổn đạo phải lao tù kềm khảo, phải trăm hình khổ gớm ghê, và chẳng biết bao nhiêu kẻ phải chết vì Chúa vì đạo. Song lạ thay! càng chết thì số người có đạo lại tăng thêm như lời ôngTertulianô nói rằng; máu kẻ có đạo là một hột giống sanh người giáo hữu. Càng đổ ra bao nhiêu, thì người giữ đạo lại càng láng tràn ra bấy nhiêu!.

Các thánh lại gẫm thêm rằng: mụ bà nước Êgíptô biết thương người, dầu có lịnh vua truyền, song các bà ấy không tuân, vì việc vua dạy, là một điều ác đức, trái nghịch cùng lẽ phải mọi đàng. Bởi đó ĐCT không bỏ qua việc này, nên đã ban cho các bà mụ đặng nhiều sự lành ở đời này.

Ông thánh Agutinnô rằng: các bà mụ nước Êgíptô làm việc lành, song không đặng trọn, tiếc thương kẻ khác, song thiếu lòng ngay thật. Phải chi các bà ấy, chẳng sợ mà khai sinh ra, dầu cho phải vua Pharao chém giết nữa, mình không làm đặng như lịnh vua truyền, vì làm một tội ác, trái bản với tâm lí đấng làm người.

Như vậy, ĐCT chẳng những ban phước đời này mà còn thưởng đời sau trên Thiên đàng nữa.

Ta hãy nhớ: dầu nói láo một tiếng mà làm cho cả và loài người trở lại, thì cũng chẳng nên làm, vì chưng không nên làm sự dự cho đặng sự lành.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI BA
ÔNG MÔSEN SINH RA VÀ KHỎI CHẾT TRÔI
(trước giáng sinh 1571 năm)

Đang lúc ấy có một người cháu ông Giacóp, tên là Amram, sinh đặng một con trai phương phi tốt xinh, nên mẹ thương tiếc lắm dấu nuôi trrong nhà đặng ba tháng. Song lịnh vua rất ngặt, khó dấu lâu năm mới đan một cái nôi bằng lác, trét chai cho kín, kẻo nước vào đặng; đoạn để con nằm trong nôi ấy, mà đem bỏ nơi sông cái Nilô; lại cho con gái mình đi trên bờ mà giữ, hoặc là có xảy ra sự gì chăng. Chẳng ngờ công chúa vua Pharao đi đến đó mà tắm, có nhiều thị nữ theo hầu hạ; công chúa nghe tiếng con nít khóc dưới sông, thì chạnh lòng thương liền dạy vớt lên xem thử. Công chúa thấy con trẻ tượng mạo tốt lành, nên thương, bèn tính nuôi làm con, cùng đặt tên là Môsen, nghĩa là khỏi chết đuối. Bấy giờ chị con trẻ thấy vậy, liền đến thưa công chúa rằng: nếu bà muốn, thì tôi sẽ kiếm cho bà một vú nuôi trẻ ấy. Sau nó lớn khôn, sẽ trả lại cho bà. Công chúa bằng lòng liền giao trẻ ấy cho chị nó đem về cho người mẹ nuôi dưỡng.

Đến khi Môsen khôn lớn thì vú nuôi là mẹ ruột đem con mình giao cho công chúa, mà bà ấy thương lắm, lại đặt quờn công tôn cho Môsen và khiến thầy dạy dổ, cho biết chữ nghĩa.

Các thánh gẫm rằng: ĐCT cầm hết mọi sự trong tay, Chúa muốn sao nên vậy chẳng một ai cải ý Chúa đặng. Chúa đã định dùng ông Môsen làm tướng đem dân ĐCT ra khỏi nước Egíptô.

Vua Pharao, là hình bóng kẻ dữ, dùng các cách mà hiếp đáp dân ĐCT. Ta hãy coi, Chúa lại dùng chính kẻ nghịch mình, mà làm cho trọn ý Chúa. Vua Pharao dạy giết con trai dân Isarae, nay chính công chúa này vua lại đứng ra nuôi con cháu ông Giacóp.

Ức lẽ mẹ ông Môsen phải cầu luỵ xin vua dung thứ cho mình khỏi chết, song lại chính con vua Pharao chịu tiền mà nuôi ông Môsen.

Ông Môsen đặng phước ở nơi đền vua mà ăn học, cùng luyện tập, hầu mai sau đứng ra mà phạt tội vua Pharao, dám cả gan không chịu cho dân ĐCT đi như lịnh Chúa đã ra.

Trước kia, dân nước Egíptô đồng loã cùng vua hành hà hiếp đáp dân nhà Isarae; đến sau chúng nó làm một cùng vua, điều phải phạt nơi biển đỏ.

Ta hãy nhớ, chẳng có một việc lành nào mà ĐCT không thưởng, cũng như vậy, chẳng có một tội nào mà ĐCT không trừng trị.

Ta gẫm phép lạ này mà kinh sợ, vì ở đời chẳng có ai, dầu người qườn qươí, đâu đấng làm vua, hết thảy là không trước mặt ĐCT. Xưa một tiếng Chúa phán, liền có trời đất nhơn vật; nay cũng như vậy, một lời Chúa phán cũng có sức phá tan các mưu sâu chước độc của kẻ thù nghịch Người.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI BỐN
ÔNG MÔSEN THẤY LỬA CHÁY TRONG BỤI GAI

Ông Môsen đặng Chúa cứu cách lạ khỏi phải chết trôi, lại đặng công chúa nhà vua đem về nuôi dưỡng dạy dỗ trong đền. Ông Môsen đặng phước như vậy, song chẳng quen dân mình, đang phải mang một ách rất nặng, ở giữa đất kẻ ngoại giáo, cùng phải hiếp đáp khổ cực muôn phần. Nên một ngày kia người thầm nghĩ như vậy, bắt đầu đau lòng xót dạ, liền trốn ra khỏi đền, quyết về ở cùng bà con, người nòi giống với mình.

Đang lúc đi đàng, ông Môsen gặp một tên Êgíptô đang hiếp đáp một người dân Isarae, tức thì người xông vào giết tên Êgíptô. Người làm vậy tưởng dân Isarae sẽ biết người là kẻ ĐCT sai đến, mà cứu dân mình. Song dân không hiểu như ông Môsen tưởng, vì qua bữa sau, người gặp hai người dân Isarae đang cải cọ kình địch với nhau, thì người khuyên lơn chúng nó làm hoà với nhau. Chúng nó chẳng nghe lại còn mắng người rằng: Ông muốn giết chúng tôi như ông đã giết thằng kia hôm qua sao? Ông Môsen thấy vậy, sợ nó cáo mình, nên trốn sang nước Mađian, cưới vợ và ở đó làm nghề chăn chiên bốn mươi năm.

Một ngày kia, ông Môsen đi chăn chiên nơi vắng vẻ trên núi kia, bỗng đâu xem thấy ĐCT hiện xuống trong bụi gai bắt cháy lên, song bụi gai còn xanh tươi như thường. Ông Môsen thấy phép lạ như vậy, thì muốn lại gần xem cho hản, tức thì có tiếng trên không phán rằng: Mầy chớ lại gần. Mầy hãy cổi giày mầy ra, đây là chốn thánh. Tao đã nghe dân tao kêu van, thì Tao động lòng thương xót muốn cứu nó. Vậy mầy hãy lãnh việc này.

Ông Môsen liền thưa rằng: Lạy Chúa, tôi hèn, yếu đuối bất tài, nào đâu dám lãnh việc ấy đặng. Khi ấy ông Môsen cầm trong tay một cây gậy, thì ĐCT dạy bỏ xuống đất, tức thì gậy ấy liền hoá ra một con rắn; Chúa dạy người bắt con rắn đó, thoát chút nó lại trở nên cây gậy như trước. Dấu thấy phép lạ như vậy, mà ông Môsen cũng còn dần già, chưa chịu khởi công làm việc Chúa nấy phú. Song Chúa thối thúc lắm, thì ông Môsen mới bỏ cửa nhà vợ con, trở về nước Egíptô mà lo việc cứu dân ĐCT.

Các thánh gẫm rằng: Ông Môsen đặng ĐCT kêu gọi làm một việc cả thể, để tiếng lại muôn đời, và cho ông ấy tin lời Chúa dạy, thì Người làm phép lạ trước mặt ông Môsen, cho ông này đem lòng tin cậy Chúa. Song bởi ông Môsen khiêm nhượng, biết mình vô tài bất lực, nên chẳng dám đứng ra lãnh việc Chúa liền. Song trước khi ông Môsen lãnh việc này, thì ĐCT để cho người phải lưu đày 40 năm cách xa tổ quán, lại phải chịu khó nhọc, chăn chiên trên rừng trên núi. Ý ĐCT là để cho người chịu khó trước, mà dọn mình làm một việc cả thể ngày sau.

Nay trong Hội thánh ĐCT, kẻ đứng ra dẫn đàng rỗi linh hồn kẻ khác, thì cũng phải sẳn lòng chịu khó trước, hầu dọn mình mà làm việc Chúa sau. Lại cũng phải có lòng khiêm nhượng như ông Môsen, nhìn biết mình là kẻ bất tài vô lực, và nếu không ơn Chúa hằng ngày phụ giúp, thì chẳng thể nào làm nổi việc Chúa giao, là cứu linh hồn kẻ khác.

Ta hãy xem, kẻ làm ích cho Hội thánh từ xưa đến nay, hết thảy là những người khiêm nhượng trông cậy ơn Chúa hơn tái sức của mình. Trái lại kẻ kiêu căng, dầu thông minh lợi khẩu, thì chẳng những là không làm ích, lại thường khi làm hại cho Hội thánh nữa.

Chẳng có điều chi cao cả cho bằng đức khiêm nhượng; cũng chẳng có điều chi thấp hèn, cùng làm hại cho ta bằng sự kiêu căng tặng mình. Ai hạ mình xuống thì sẽ đặng nhắc lên, còn kẻ tặng mình lên, thì sẽ phải hạ xuống.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI LĂM
ÔNG MÔSEN ĐI TÂU VUA PHARAO

Ông Môsn trở về nước Êgíptô ít lâu, đoạn người định vào chầu vua Pharao mà tâu xin cho dân Isarae ra khỏi nước Êgíptô, mà đi tế lễ ĐCT trên rừng, như lời Chúa phán dạy.

Vua Pharao nhe lời ấy, thì nổi giận mà nói lời khinh dễ rằng: Trẫm chẳng biết ĐCT nào hết. Bay muốn trở lòng cùng trẫm, thì trẫm sẽ hành hạ bay hơn trước nữa, cho bay biết, chẳng có ĐCT nào bằng trẫm.

Mà thật, vua Pharao truyền lịnh bắt dân Isarae làm các việc nặng nề hơn trước, và bắt làm lụn ngày đêm không đặng nghỉ ngơi chút nào. Dân thấy khổ sở như vậy, liền trách ông Môsen, sao có vào tâu vua, nên nay dân phải chịu khốn cực làm vậy.

ĐCT dạy ông Môsen vào chầu vua nữa, và xin để dân Isarae ra khỏi nước Êgíptô, như lịnh Chúa ra. Lần này có ông Aaron đi cùng ông Môsen. Ông Môsen muốn cho vua tin lời mình, bèn cầm cây gậy nơi tay, thoát chút nó trở nên con rắn dữ. Vua thấy vậy thì sợ hãi, bèn đòi các thầy phù thuỷ vào. Mà các phù thuỷ cũng làm chước dối, làm cho cây gậy trở nên hình con rắn. Nên vua không tin lời ông Môsen và dạy đuổi người ra.

ĐCT dạy cất cây gậy này, hầu sau sẽ làm nhiều phép lạ khác nữa.

Các thánh gẫm rằng: ĐCT nhơn từ và lòng lành vô cùng, Người muốn cho vua Pharao nghe lời Chúa, nên Chúa dạy ông Môsen làm phép lạ, cho vua tin. Chúa không dùng quờn cả Người mà phạt vua Pharao liền, một có ý định chờ đợi vua này trở lại, và biết vưng phục lịnh Chúa.

Phải chi vừa khi vua này khinh dễ chống cự thánh ý Chúa, thì Chúa cho sư tử cùng muôn sói dữ xông vào cả nước Êgíptô, mà phá hịa vua cùng dân, thì Chúa làm đặng lắm; song ĐCT không ra tay phạt như vậy liền, một đợi cho vua cùng dân hồi tâm, mà bỏ lòng cứng cỏi cùng nhìn biết quờn phép Chúa.

Đối với kẻ có tội ngày nay, ĐCT cũng còn một lòng nhơn từ khoan hậu ấy, Chúa không phạt liền, một đợi chờ lâu ngày, lâu tháng, cho nó hồi tâm cải tà qui chánh, cho nó khỏi cơn thạnh nộ của Chúa.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI SÁU
ĐCT PHẠT NƯỚC ÊGÍPTÔ PHẢI BỊ THẬP NẠN

Sau ĐCT dạy ông Môsen trở vào tâu vua một lần nữa. Lần này ông Môsen dạy ông Aaron cầm gậy chỉ dòng nước, tức thì sông suối nước liền trở nên máu. Đó là tai hoạ trước hết ĐCT dạy ông làm mà phạt nước Êgíptô.

Đoạn ông Môsen lấy phép Chúa mà khiến, làm cho muôn vàn ếch nhái nhảy vào nhà dân Êgíptô mà phá hại chúng nó, cùng làm hư các món đồ ăn người ta để dành trong nhà. Đó là tai nạn thứ hai.

Đoạn ĐCT làm cho các giống muỗi vô số bay cắn người ta. đó là tai nạn thứ ba.

Đoạn ĐCT làm cho muôn vàn con ruồi bay khắp các nơi, bâu trên mắt mũi người ta cùng khoấy khoả người ta chẳng khi dừng. Đó là tai nạn thứ tư.

Đoạn ĐCT làm cho nước ra độc, giết hại lục súc vô số, làm cho dân Êgíptô không làm nghề nghiệp đặng nữa. Đó là tai nạn thứ năm.

Đoạn ĐCT làm cho dân Êgíptô, cả mình sinh ra ghẻ chốc, đau nhứt cùng ngứa gảy khóc chịu lắm. Đó là tai nạn thứ sáu.

Đoạn ĐCT cho mưa đá sa xuống, phá hại cây cối vườn tược, cùng các giống ngoài đồng. Đó là tai nạn thứ bảy.

Đoạn ĐCT cho cào cào châu chấu vô ngần vô số, bay cả đất nước Êgíptô ăn tuyệt cây cối mà mưa đá còn để lại. đó là tai nạn thứ tám.

Đoạn ĐCT cho trời đất tối tăm, con mắt không còn xem thấy đặng, thấy những hình tượng xấu xa quái dị, làm cho người ta phải kinh hoàng sợ hãi. Đó là tai nạn thứ chín.

Sau hết ĐCT làm phép lạ thứ mười mà phạt dân nnước Êgíptô, là làm cho các con đầu lòng phải chết nội một đêm, như ta sẽ thấy trong truyện sau này.

Các thánh gẫm rằng: ĐCT phạt dân Êgíptô một lâu một nặng hơn, có ý cho ta hiểu, Chúa nhơn từ vô cùng, không muốn phạt ta, một muốn ban ơn cho ta mà thôi. Nên lắm khi cho ta ăn năn hối cải, thì Người phải ép mình mà phạt ta, song Người hằng nhơn tay chẳng nỡ phạt liền, một đợi ta ăn năn trở lại. Bằng nếu ta bất khẳng, không chịu nghe lời Chúa, chúc ấy Chúa mới ra tay phạt ta nặng nề. Đó là đáng tội ta. Vì ta chẳng biết nghe lời Chúa.

Vua pharao thấy các phép lạ Chúa làm, song chẳng không chịu vưng lời Chúa, lại càng thêm kiêu căng cứng cõi hơn nữa. Đó là hình bóng dân Giudêu ngày sau, dầu đã đặng thấy nhiều phép lạ Chúa làm trước mắt, song chúng nó càng thêm cứng cõi, đến đổi sau hết dám cả gan giết Chúa trên cây thập giá.

Bởi đó ta đừng tưởng rằng: phép lạ làm cho ta tin, vì thường khi đức tin chẳng phải bởi phép lạ mà ra, song bởi lòng khiêm nhường, biết nghe lời giảng dạy. Phép lạ giúp cho ta tin mạnh mẽ hơn mà thôi. Kìa có ai đã làm nhiều phép lạ như ĐGS, mà ta xét thử coi có mấy ai đã tin theo Chúa, lúc còn sống ở thế này !


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI BẢY
ĐCT DẠY ĂN LỄ CHIÊN

Chúa đã làm nhiều phép lạ mà phạt dân nước Êgíptô, song vua càng ra cứng lòng hơn nữa. Nên phen này ĐCT định phạt một phen cho vua hiểu, có ĐCT và Người có quờn mà khiến dạy.

Vậy Chúa dạy ông Môsen ra lịnh cho dân Isarae dọn ăn lễ con chiên. Chúa cũng chỉ phải làm thể nào mà ăn lễ ấy. Là mỗi nhà phải làm thịt một con chiên, và nướng cùng ăn với rau diếp đắng, và phải ăn cho mau, lại khi ăn thì phải đứng, và mặc đồ như kẻ don đi đàng. Phải lấy máu con chiên đó, vẽ hình chữ thập trên cữa nhà, Chúa phán rằng: Hễ nhà nào có dấu ấy, thì con đầu lòng khỏi chết, bằng nhà nào không có, thì Thiên thần Chúa sẽ giết con đầu lòng nhà đó.

Dân Isarae vưng lời Chúa dạy, và làm như vậy. Đến nữa đêm, ĐCT phạt con đầu lòng nước Egíptô phải chết hết, dầu hoàng tử con vua Pharao cũng không khỏi số phận ấy. Vua Pharao thấy vậy, tức thì mời ông Môsen vào đền, cùng dạy người phải đem dân Isarae ra khỏi nước Êgíptô lập tức kẻo sợ tới phiên mình nữa chăng.

Bấy giờ ông Môsen mới truyền lịnh cho cả và dân đặng hay, phải dọn dẹp cho sẵng mà lên đàng về đất Chúa hứa. Ngày dân Isarae ra khỏi nước Êgíptô, tính người tráng lực mà thôi, thì đặng sáu mươi muôn người, đó là không kể phụ nữ lão ấu. Dân này ở nước Êgíptô đặng hai trăm mười lăm năm.

Ấy ĐCT thương dân Isarae nên đã làm phép lạ mà cứu nó khỏi làm tôi nước Êgíptô, cùng đem nó vào đất ĐCT hứa.

Chúa cũng thương chúng ta, Người chẳng những làm phép lạ mà chính Người đã sai Con một mình xuống thế, mà cứu chúng ta, chokhoỉ làm tôi tá ma quỉ. Máu con chiên vẽ trên cửa con nhà Isarae đã cứu các con đầu lòng khỏi tay Thiên thần giết chết. Nay máu thánh ĐCG đổ ra cũng cứu chúng ta khỏi chết đời đời. Phải Chúa không ra tay cứu dân Isarae, thì rày nó cũng còn làm tôi dân nước Êgíptô; cũng như vậy, nếu Chúa chẳng ra đời mà cứu chuộc ta, thì nay cũng còn ở trong tay ma quỉ mà chớ.

Như xưa hằng năm, ĐCT dạy dân Isarae phải ăn lễ con chiên, để nhắc lại ơn lành Chúa làm cho dân Isarae, là cứu nó ra khỏi nước Êgíptô. Nay hằng năm, Hội thánh cũng dạy giáo hữu mầng lễ Phục sinh, cho đặng nhắc lại công nghiệp ĐCG, đã cứu chúng ta khỏi làm tôi tá ma quỉ.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI TÁM
DÂN ISARAE QUA KHỎI BIỂN ĐỎ
(Trước giáng sinh 1490 năm)

Khi dân Isarae ra khỏi nước Egíptô đặng ít lâu, thì vua Pharao, dường như quen hình phạt Chúa mới làm, nên đe binh mà bắt dân ĐCT lại. Khi đó dân Isarae đã đến rừng cát, trước mặt thì biển chận lại, sau lưng thì binh lính vua Pharao tấn đến. Dân Isarae thấy vậy thì sợ hãi mới trách ông Môsen rằng: Trong nước Êgíptô không có đất đủ mà chôn chúng tôi sao cần chi phải lên rừng mà kiếm chỗ? Ông Môsen bèn khuyên lơn dân cứng cổ này, và biểu nó phải trông cậy phép tắc ĐCT.

Khi ấy binh lính vua Pharao đã đến sau lưng dân Isarae, thì ông Môsen giăng tay trên mặt biển, tức thì nước biển liền tẻ ra một đàng rất rộng lớn, nước dưng lên đứng hai bên như vách luỹ.. Dân Isarae theo lối đó mà trẩy qua bên kia biển. Dân nước Êgíptô thấy vậy, tưởng mình cũng qua đặng, song chẳng dè, vừa khi chúng nó qua đàng biển, bỗng chúc sét đánh vang lừng, làm cho chúng nó phải kinh khiếp, nên mới rủ nhau thối lui mà rằng: Thật ĐCT bảo hộ dân này quá,ta không thể đuổi theo nữa đặng, một phải thối lui mà thôi. Dè đâu, khi chúng nó quầy binh trở lại, thì ông Môsen giăng tay trên mặt biển, tức thì nước biển nhíp lại, chụp cả binh tướng dân Êgíptô, làm cho hết thảy điều phải chết đuối, không một ai thoát đặng.

Đó là một phép lạ ĐCT làm có một phen mà cứu dân riêng Người. Song nay trong Hội thánh ĐCT, Chúa cũng còn làm phép lạ như vậy, mà cứu linh hồn giáo nhơn cho khỏi tay ma quỉ. Biết là bao nhiêu linh hồn nhờ ơn Chúa, thì đã đặng thoát khỏi biển hoả ngục! Biết là bao nhiêu linh hồn khác cũng nhờ Chúa giúp, thì đã khỏi tay ma quỉ, đang xô nó xuống biển thầm sâu đời đời! Ta hãy cả lòng trông cậy Chúa, Thì Người chẳg hề bỏ chúng ta.


TRUYỆN THỨ BA MƯƠI CHÍN
ĐCT XUỐNG MANNA CHO DÂN

Dân Isarae mới qua khỏi biển đỏ, thấy phép lạ như vậy, thì ai nấy đều sợ hãi, và cám ơn Chúa chẳng xiết; các người đờn ông bắt chước ông Môsen, mà hát mừng không khen Chúa ; còn các người nữ thì hiệp một đoàn, cùng bà Maria, là chị ông Môsen, làm đầu gảy đờn hát mừng đội ơn Chúa. Song le khỏi giặc này, đi trên rừng cát, chưa đặng mấy ngày, thì hết lương đói khát, nên dân Isarae bèn giận dữ, mà trở lòng nguỵ cùng ông Môsen, và mắng trách người, lại làm hỗn hào muốn ném đá người nữa. Mà ông này rất hiền lành, một khuyên quân ấy ở an lòng, chớ làm nguỵ cùng ĐCT làm chi; hãy trông cậy Chúa, thì tối hôm nay ĐCT sẽ ban cho đủ mà ăn. Vậy đến tối hôm ấy, có muôn muôn vàn vàn con chim cút bay đến đổ trong trại, thì dân bắt mà ăn. Lại đến sáng ngày, có mưa xuống những Manna, là giống như hột bột sam đóng về, có đủ ngũ vị. Dân Isarae thức dậy sớm mai ra ngoài, liền thấy Manna che khuất cả và mặt đất thì mới sợ và mầng lắm, ai nấy lượm đem về mà ăn. Ông Môsen dạy rằng: Ấy là bánh bởi trời ban xuống, mà nuôi bay; ai nấy hễ sớm mai, thì phải ra mà lấy Manna này, một người một đấu mà ăn. Lại phải đến cho sớm, khi mặt trời chưa mọc lên, vì khi mặt trời lên cao, thì Manna này tiêu đi chẳng còn nữa.

Ấy là ĐCT dạy chúng tôi, chẳng nên tễ nải, kẻ muốn chịu lấy ơn Người, phải có lòng sốt sắn thức dậy cho sớm.Lại ông Môsen dạy chẳng nên để dành Manna, hòng ăn mai mốt; song bữa nào ăn bao nhiêu, thì lấy bấy nhiêu mà thôi; để cho người thế gian đặng hay, chẳng nên lo lắng quá lẽ, mà sợ đói khát, một phải xin cùng ĐCT hằng ngày dùng đủ, và tin cậy ĐCT ngày mai Người sẽ nuôi chúng tôi, cũng như ngày hôm nay, chẳng thiếu.

Vã ĐCG đã có phán rằng: Giống Manna này là ví dụ phép Thánh thể, nuôi lấy linh hồn các giáo hữu. Đòi trước những kẻ ra khỏi nước Êgíptô mới ăn Manna, nghĩa là kẻ đã khỏi làm tôi thế gian thì mới ăn Manna thiêng liêng. Mà Mana trọng này hay an ủi và giúp sức những kẻ còn phải lưu đày ở thế gian này; vì chưng kẻ ấy chẳng còn mến yêu thế gian, một trông ước đến đất ĐCT hứa cho, là nước Thiên đàng.

Lại thuở xưa dân Giudêu ăn Manna, cho đến khi vào đặng đất ĐCT hứa cho, là đủ bốn mươi năm thì thôi, chẳng còn gặp giống ấy nữa. Cũng một ví dụ ấy, ĐCG dùng phép Thánh thể mà nuôi linh hồn chúng tôi, cho đến khi chúng tôi đặng thấy mặt Chúa trên cõi thường sinh, thì mới thôi. Song le chúng tôi phải giữ lắm, kẻo chúng tôi bắt chước quân Giudêu. Khi đầu nó thấy Manna bởi trời sa xuống, thì sợ và mầng hết sức; nhưng mà chẳng đặng bao lâu, nó lại chê bai nhàm miệng, nó lại thèm những giống hành tỏi bí bầu trong đất nước Êgíptô, và muốn ăn thịt cá như thế gian.

Vậy các giáo hữu phải sợ hãi, kẻo chịu phép Thánh thể, quen lệ mà nhàm lờn dễ ngươi, thì chẳng có lẽ gì đặng chịu Mình Thánh Chúa cho nên, vì chẳng còn yêu chuộng, song hãy còn thèm khát sự vui chơi ở đời, cũng như dân Giudêu chê Manna, mà tưởn nhớ thèm khát những giống hèn hạ trong nước Êgíptô.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI
ÔNG MÔSEN LÀM PHÉP LẠ
GÕ TRÊN HÒN ĐÁ RA MẠCH NƯỚC

Dân Isarae từ ấy về sau hằng ngày có Manna bởi trời xuống mà ăn no, cho đến khi vào đất ĐCT hứa, thì mới hết, chẳng còn có xuống Manna nữa, vì khi ấy đặng đủ lương thực, chẳng thiếu nữa.Lẽ thì hằng ngày Chúa giúp mình dường ấy, thì chẳng còn lẽ hồ nghi, vì rõ thật lòng ĐCT đã thương mến đến mình mà gìn giữ luôn. Song le đến nơi khô khan, chẳng có nước uống, thì dân liền trở lòng nguỵ cùng ông Môisen và trách rằng: làm khốn cả và dân, dỗ dành phỉnh phờ nó, mà đem đi giết trên rừng cát thảy thảy.Ông Môisen nghe thấy dân giận dữ làm vậy, thì người cầm lòng nhịn nhục lắm, bèn kêu xin ĐCT giúp cho khỏi tay quân ngũ nghịch.

Vậy ĐCT dạy ông ấy kêu kẻ lớn cùng cả và dân đến, mà lấy cái gậy đã làm phép lạ thuở trước, đi đến hòn đá kia, gõ gậy trên đá ấy, bèn khiến nó chảy ra mạch nước cho dân uống. Ông Môisen vưng lời Chúa mà làm, đá liền sanh ra mạch nước lớn cuộn cuộn chảy ra trong cát nóng, chan chứa đủ cả và dân uống. Hòn đá nầy là ví dụ ĐCG phải quân Giudêu đóng đnh trên cây thánh giá, liền chảy ra mạch nước cả ơn thánh, nên nước thiêng liêng chữa linh hồn những kẻ khát khao trong biển hiểm thế này; lại ơn thánh ấy có phép lạ làm cho kẻ đã cứng lòng như đá đặng mềm lại, mà chảy nước mắt ra, khóc lóc ăn năn tội lỗi.

Lại khỏi mấy năm, khi quân này đã đến xứ Cađê thì lại trở lòng nguỵ, vì nó đã hết nước uống, nên muốn ném đá ông Môisen và ông Aaron.Hai anh em người liền chạy vào trong nhà thờ, mà cầu xin Chúa mở lòng cho quân ngũ nghịch, kẻo nó làm sự dữ. Hai ông này làm gương cho các thầy đạo đức phải bắt chước, khi con chiên mình trở lòng dữ cùng mình, thì chẳng nên theo lòng giận trả thù cho bỏ; song le khi ấy phải cầu cùng ĐCT, mở lòng cho kẻ nghịch mà chớ. Vậy ĐCT dạy hai ông này gõ hòn đá khác, chảy ra mạch nước, như ngày trước. Mà lần thứ hai này ông Môisen, như thể có lòng hồ nghi, bèn gõ vào đá hai lần. Cho nên ĐCT quở người, sao có hèn tin làm vậy và phạt rằng: Môisen chẳng hề sẽ vào đất Tao đã hứa cho dân Tao.

Vậy ông Thánh Ghêlêgoriô Giáo tông gẫm truyện nầy mà sợ hãi lắm, vì xem thấy ké đặng nghĩa cùng ĐCT dường ấy, nhiều phen bào chữa quân ngũ nghịch cùng ĐCT, mà mình cũng chẳng khỏi phạt, vì có lòng hồ nghi một chút. Vậy kẻ làm thầy đạo đức phải sợ là dường nào, vì bởi một tội nhẹ làm vậy, mà ĐCT còn phạt dường ấy.

Ông thánh Augutinô thánh sư lại rằng: Ông Môisen này chẳng có chịu thiệt gì mấy, vì chẳng đến đất ĐCT hứa, mà đặng đến nước thiên đàng. Song kẻ nào chẳng đặng đến nước thiên đàng, dầu mà đặng mọi sự lành ở thế gian, nào có ích lợi gì, một phải thiệt hại mà chớ.


1271    17-03-2011 08:46:33