Sidebar

Thứ Năm
25.04.2024

Sấm Truyền Cũ_Truyện 41_50


SẤM TRUYỀN CŨ
Truyện Thứ Bốn Mươi Mốt đến Thứ Năm Mươi

TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI MỐT
DÂN ISARAE ĐÁNH ĐẶNG QUÂN AMALEC

Đang khi dân Isarae hãy còn vui mừng, vì đã đặng nước uống đủ no, chẳng ngờ liền mắc phải giặc vây đến, mà sợ hãi lắm. Binh giặc ấy là quân Amalec dữ tợn lắm, nó nghĩ rằng: dân Isarae đã đi đàng xa đã bì lao, chịu nắng chịu khát, và ít lương thảo khí giới, thì nó sẽ yếu thế, dễ mà đánh nó lắm. Vậy nó sắm sửa nhiều quân và nhiềi cỗ xe, xe ấy có mũi nhọn xung quanh; mỗi một xe, buộc bốn con ngựa kéo hòng xông ra trận. Khi ấy quân giặc tấn đến đang khi bất cập. Song le ông Môisen tin cậy Chúa vững lòng, thì người chẳng sợ, vì đã biết có phép ĐCT phù hộ; người liền dạy ông Gioduê làm đại tướng, đem quân ra cự địch; còn người thì hiệp cùng ông Aaron và một người khác đều lên núi cao mà cầu nguyện. Ông Môisen đứng trên núi, giăng hai tay lên như hình thánh giá, mà xin cùng ĐCT cứu giúp dân mình; người cầu nguyện làm vậy, có ý dạy dân Isarae rằng: Nếu ta đặng trận, chẳng phải bởi sức ta đâu, một bởi phép Chúa giúp mà chớ. Cho nên ông này giăng hai tay ra luông đang khi hỗn chiến; mà bởi lâu lâu mỏi cánh, thì người xuội hai tay xuống, thoát chúc xem thấy quân mình nhiều kẻ thất thế lui lại, thì người lại giơ tay lên thoát chúc quân mình lại thắng thế. Vậy hai ông kia xin người ngồi trên đá, mà đỡ lấy tay người cho vững lên luôn, cho đến khi toàn công thắng trận.

Các thánh gẫm rằng: ví dụ này khuyên bảo các giáo hữu, khi nào muốn đánh trả chước ma quỉ cám dỗ, thì phải cầu xin cùng Chúa; cậy phép ĐCG, xưa đã giăng tay ra trên thánh giá, thì ta sẽ đặng trận.Phải mà ĐCG nghe lời quân Giudêu thuở xưa, khi nó nhạo cười và đố Người đang treo rằng: hãy xuống cho khỏi cây thánh giá, thì chúng tôi chẳng đặng sức chống trả chước ma quỉ cám dỗ. Song le bởi ĐCT giăng tay ra trên cây thánh giá vững vàng cho đến khi tắt hơi thì chúng tôi mới đặng phước trọng, chống trả kẻ đã làm hại linh hồn chúng tôi.

Các thánh lại gẫm rằng: ai muốn khuyên bảo an ủi kẻ có tội, thì chẳng phải lấy lời giảng dạy làm việc nhứt, một phải cầu xin cho lắm, ấy là việc nhứt trọng hơn.

vậy ông Gioduê đánh giặc, nên ví dụ kẻ chống cãi lẽ trái nghịch đạo thánh Chúa; lại về ông Môisen, phải mà người thua buồn, bỏ việc cầu nguyện, chắc thì ông Gioduê đánh giặc tốn công vô ích. Cho nên dầu kẻ già cả yếu đuối mà cầu nguyện, thì đặng sức mạnh hơn kẻ tráng lực mà cầm khí giái; và lời kêu van cùng ĐCT, thì đặng phép phá tan kẻ ngụy đảng hơn mưu giặc. Như ngày sau vua Erode cầm ông thánh Phêrô trong tù rạc, mà bởi lời Hội Thánh cầu nguyện luôn, thì đặng mở lòi trói ra, cùng cứu người khỏi tay vua dữ.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI HAI
ĐCT TRUYỀN MƯỜI GIÁI RĂN

Từ khi dân Isarae khỏi làm tôi nước Êgíptô khỏi ba tháng đoạn, thì ĐCT dạy ông Môisen khuyên dân nhớ lại mọi ơn ĐCT đã ban xuống cho mình, Chúa lại phán rằng: Nếu bay ở hết lòng cùng Tao, mà vâng lời Tao cho trọn, thì bay sẽ làm dân Tao.Tao sẽ kết nghĩa cùng bay, và Tao sẽ làm cho bay đặng danh vọng, hơn các dân các nước thế gian. Ông Môisen truyền lại cho dân nghe lời Chúa phán làm vậy, dân liền thưa rằng: Mới tôi xin vâng lịnh Chúa dạy mọi đàng, chẳng dám sai. Vậy ĐCT mới dạy ông Môsen truyền lịnh cho dân sắm sửa dọn mình ba ngày, kiêng cử ăn uống chơi bời, ở cho sạch sẽ, đoạn Người sẽ phán truyền lề luật trên núi Sina; lại dạy ông Môsen cặm nêu cho xa, dưới chơn núi ấy, mà bảo dân rằng: Ai nấy chớ bước lên khỏi nêu nầy, dầu dân dầu vật mà phạm lịnh này thì phải chết, chẳng sống đâu. Vậy đến ngày thứ ba ban thái tảo, bỗng liền nghe trên núi Sina, có tiếng ầm ầm, như sấm sét bảo bùng, bốn phương kinh động, cả và núi lòa những lửa chói lòa như chớp, lại nghe tiếng loa thổi mạnh lắm; ai ai con mắt đều thấy, lỗ tai đều nghe những sự oai linh dị thường làm vậy, thì cả và dân kinh khiếp, chẳng dám ra khỏi trại, cho đặng theo ông Môsen đến dưới núi, mà nghe lịnh Chúa phán sự gì. Sau nữa ĐCT đòi ông Môsen lên núi, Chúa mới phán truyền mười Giái răn. Khí ấy dân nghe tiếng Chúa phán như sấm sét, bèn kinh tâm phá đãm quá lẽ, mà xin ông Môsen truyền lịnh lại cho hiểu, vì mình chẳng có sức nghe cho hết lời Chúa phán. Ấy là lần thứ nhứt ĐCT truyền mười Giái răn, là lề luật các giáo hữu phải giữ, cho đặng thờ phượng ĐCT cho nên.

Các thánh gẫm rằng: chớ chi các giáo hữu đặng lòng nầy, là khi nghe lời trong Giái răn dạy, thì sợ vừa vừa; mà khi phạm lịnh ĐCT dạy trong Giái răn ấy, thì sợ cho lắm. Thủơ xưa dân Israe đặng mười Giái răn này, song nó đã cắt nghĩa trái, phá lịnh kẻo nhặt. Rày cũng có nhiều người trong giáo hữu tìm lẽ nọ xét lẽ kia, mà cắt nghĩa theo ý riêng mình, mở mười Giái răn cho rộng, mà giữ cho vừa tính; mà chẳng suy ĐCG đã phán rằng: Dầu một nét chữ trong lề luật Chúa, cũng chẳng có lẽ phá hay là thêm bớt đặng.

Bằng về kẻ kính mến ĐCT, thì chẳng có ước trông cho mười Giái răn dạy những sự vừa ý mình, cùng chẳng có xin như dân Giudêu xưa rằng: Chớ chi ĐCT chẳng có phán cùng chúng tôi thì hơn. Song kẻ nhơn đức thì ái mộ ĐCT phán trong lòng mình. Vì chưng lời Chúa phán là mạch sự sống, lời Chúa là sự vui mầng cho chúng tôi. Mười Giái răn ĐCT là sự sáng chỉ đàng cho chúng tôi, cùng đưa chúng tôi vào cõi đời đời.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI BA
DÂN ISARAE ĐÚC BÒ VÀNG MÀ THỜ

Ông Môsen ở trên núi Sina, lãnh lấy lề luật ĐCT, để dạy dân: Chính Chúa phán những lời rất khôn ngoan công chính, nên thẳng mực giáo hoá để các đấng bề trên xem đó mà dạy dỗ thiên hạ, cho nghiêm trang chánh lý. Vậy ông Môsen ở trên núi Sina bốn mươi đêm ngày; chẳng ăn uống đi gì, những cầu nguyện mà thôi; đoạn ĐCT ban cho hai bia đá, có thích chữ mười Giái răn. Lại các lề luật Chúa đã phán, mà chép vào trong cuốn sách, để dạy dổ thiên hạ. Song le dân Isarae quen tính cứng cổ, thấy ông Môisen lâu ngày chẳng trở xuống, thì đến thưa ông Aaron và làm hỗn hào lắm; ép người đúc một con bò vàng cho nó thờ. Ông Aaron can gián hết sức, nhưng mà nó chẳng nghe, một toan làm dữ cùng người. Vậy người bày chước mà rằng: Bay muốn đúc bò vàng, thì ai nấy nam nữ phải đem trâm châu chuỗi vàng cho tao, thì tao sẽ lấy mà đúc cho. Người suy rằng: âu là nó tiếc của, sẽ bỏ sự chúng nó toan làm chăng? Ai ngờ là nó chấp mê, liền thâu góp các giống vàng bạc, đem cho ông Aaron; vậy cực chẳng đã ông Aaron phải chìu theo ý nó. Đoạn dân đặt con bò vàng nơi cao, giữa đồng, nó reo cười mầng rỡ, mà bảo nhau rằng: Nầy là đấng cứu lấy mới tôi ra khỏi nước Êgíptô, ai nấy lớn bé đến sáng ngày hiệp tới mà thờ lạy người. Đoạn nó múa hát chơi bời, cười reo ăn uống cả ngày. Đến chừng ông Môisen trên núi xuống nghe tiếng dức lác, thì lo buồn lắm, lại xem thấy con bò vàng dân thờ lạy, thì người giận, mà xán hai bia đá vỡ ra; vì người xét chẳng nên truyền Giái răn cực trọng cho dân ngũ nghịch bất nghĩa cùng ĐCT như vậy. Đoạn người đến nơi, mà đập con bò vàng ấy nát ra tro mạt, đổ vào nước cho nó uống. Người làm vậy cho quân ấy biết, giống này là vật rất hèn vô tâm vô tri, chẳng có chút chi đáng cho loài người tôn kính. Người lại qủơ ông Aaron, sao có chìu theo lòng dân dại dột dường ấy, và cao rao lớn tiếng mà rằng: Hễ ai còn lòng trung tính cùng ĐCT thì hãy theo tao.Khi ấy con cháu dòng dõi ông Lêvi liền ứng lên theo người, người liền dạy tót gươm ra, mà giết hết hai muôn hai ngàn quân đã trở ngụy cùng Chúa.

Ông Thánh Ghêlêgoriô Giáo tông rằng: ông Môisen lấy lòng công thẳng, mà trừng trị sát phạt kẻ làm nguỵ cùng Chúa, nên gương dạy dỗ kẻ làm cha mẹ, và các đứng bề trên, chẳng nên duông kẻ có tội. Cha mẹ có con cái ăn ở theo thói thế gian, mà chẳng dám sửa phạt, e mất lòng con, cha mẹ làm vậy đó là làm hại cho con cái mà chớ; vì chưng kẻ có lòng thương con thật, thì thà sửa phạt nò đời nầy, mà chẳng thà để nó phải khốn nạn đời sau cùng. Vậy chẳng có cha mẹ nào thương con, cho bằng ông Môisen thương dân Isarae, vì người chịu khó nhọc bốn mươi năm tròn, những dạy dỗ và nhịn nhục luôn; song le bởi vì người sợ ĐCT bỏ dân ấy, vì nó càng ngày càng ra xấu xá càng trở lòng nguỵ cùng Chúa, thì người mới phạt nó nặng nề một phen hầu răn kẻ khác.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI BỐN
ÔNG MÔISEN XIN LẠI MƯỜI GIÁI RĂN

Ông Môisen trót ngày thâu đêm những lo buồn phiền não vì thấy dân mình làm hại mình dường ấy. Đến sáng ngày người kêu cả và dân tụ lại, mà nhắc cho nó hồi tâm suy lại, nó đã phạm tội nặng nề là ngằn nào. Đoạn người lại nói cùng dân rằng: Mình cả lòng phen này đến trước mặt ĐCT mà kêu khóc cùng Người, hoặc Người có tha tội ấy chăng; chúng bay ai nấy phải lo mặc áo bực, kiêng ăn uống cùng khóc lóc, thì mình sẽ thưa xin Người tha phạt cho bay. Nói đoạn liền lên núi Sina, sấp mặt xuống trước tòa ĐCT, xưng mình là kẻ có tội, mà than thở rằng; Ví bằng Chúa tôi có phạt nó, xin Chúa phạt tôi với nó; tôi thà chết cùng nó, chẳng thà thấy nó chết thảy thảy trước mặt tôi. Bởi lời cầu nguyện rất khiêm nhượng của ông Môisen và vì lòng thương dân, thì ĐCT tha tọi cho nó. Mà Người dạy ông Môisen trở về truyền cho dân rằng: Tao vì Abaraham, Êgiác và Giacóp, là tổ tiên bay, ở hết lòng cùng Tao trọn đời, nhơn vì sự ấy, Tao chẳng có huỷ hoại chúng bay; song le từ này về sau, Tao chẳng còn đi trước mặt bay tỏ tường như trước, kẻ bay cứng cổ kêu ngạo cãi lời Tao luôn, mà Tao chẳng tha, lại phật chết hết.Đoạn ĐCT dạy ông Môisen tạc hai bia đá khác một mình, mà đem lên núi Sina, ở đó ăn chay cầu nguyện bốn mươi đêm ngày. Ông Môisen vưng lịnh mà làm như vậy, thì ĐCT thương xót, mà phán truyền lại mười Giái răn cho người, người mới thích vào trong hai bia đá ấy, đoạn đem xuống cho dân.Khi ấy ai nấy xem thấy mặt người sáng láng oai nghi, thì kinh khủng chẳng dám đến gần, cho đặng thưa thốt như thường; nên ông Môisen phải lấy khăn mà che mặt, thì dân mới dám đến mà thưa hỏi mọi lời.

Ông thánh Phaolồ cắt nghĩa truyện này rằng: ông Môisen lấy khăn che mặt, và thủơ ấy trước bàn thờ trong nhà thánh có màn che; hai sự ấy cũng hai ví dụ là hai, vì đạo ông Môsen truyền cho dân Giudeu thuở xưa , có ý chỉ sâu nhiệm lắm, cho nên dân Giudêu từ xưa đến nay, cũng chưa hiểu nghĩa lý lề luật cho tỏ đặng. Đến khi ĐCG sinh thì trên cây thánh giá, thì cái màn trong nhà thờ xé ra làm hai, nghĩa là ĐCG đã mở ra mọi sự mầu nhiệm trong Sấm truyền, cũng bãi các lễ phép đạo cũ, vì chưng các lễ phép đạo ông Môisen là hình bóng chỉ ĐCG. Nay Chúa đã đến rồi, thì các lễ phép ấy phải bãi đi, vì hình bóng phải nhường chổ cho sự thật.

Các thánh lại gẫm rằng: Phen trước , ĐCT ban mười Giái răn trên hai bia đá đã sẵn; đến phen sau, ông Môisen phải chịu khó kiếm đá, và trổ tạc hai bia khác. Sự này để cho ta suy, khi đầu ĐCT làm phước cho chúng tôi đặng chịu phép Rửa tội thì dễ, vì người chẳng có bắt đền tội phạm thủơ trước; song le đến ngày sau, muốn chịu phép Giải tội, mà kết nghĩa lại cùng ĐCT, thì phải chịu khó ăn năn tội hãm mình sửa tính, thì mới đặng ơn nghĩa lại cùng Chúa.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI LĂM
ÔNG MÔISEN CẤT NHÀ TẠM

Khi ông Môisen ở trên núi bốn mươi đêm ngày, thì ĐCT chẳng những truyền lề luật cho người, mà lại phán nhiều điều khác, thuộc về việc thờ phượng Chúa. Trước hết Chúa dạy làm nhà Tạm, khi thì cất lên, khi thì dỡ xuống, để mà đi dọc đàng thuở còn ở trên rừng cát, làm nhà ấy để hằng ngày tế lễ ĐCT. Vậy ông Môisen truyền cho dân đặng hay mà sắm sửa nhiều đồ, hầu dùng việc thờ phượng Chúa; dạy góp vàng bạc cùng các giống quý báu, để mà lo việc trọng ấy. Ai nấy nghe lịnh Chúa , thì mầng bội phần, chẳng tiếc của; hễ người nào có vật gì tốt lành châu báu, hay là giống gì quý lạ, thì đem đến nộp cho ông Môisen.

Đoạn ông Môisen lựa hai thợ khéo và giỏi để áp tác mọi việc. Nhà Tạm bề dài ba mươi thước, bề ngang mười thước, có mười tấm ván làm vách dừng, có vàng thét ra mà bịt ngoài ván ấy; mỗi một tấm ván dưới chân có hai chốt, lại có hai táng bạc khoét lổ vào, mà xỏ chốt ấy cho vững, kẻo vách xiêu ngã; và có màn treo trong vách, màn ấy thêu những hình Thiên thần Sêraphim,cùng những hoa các sắc chỉ, bền chắc và tốt đẹp lắm; lại có phên treo bề ngoài, phên ấy bằng da đỏ, kết chồng bốn lớp, kẻo mưa gió thâu vào.

Ông thánh Augutinô rằng: Nhà tạm này, cất lên dỡ xuống, đem đi mọi nơi, nên ví dụ Hội thánh, rày hãy còn khách đày dưới thế gian này, mà đi khắp mọi nơi, cho đến khi đặng về cùng Chúa, mới nghỉ ngơi. Các tấm ván làm vách nên ví dụ kẻ mạnh đạo, phụ đỡ kẻ yếu đuối, kẻo ngã xuống; cái táng bạc chịu lấy tấm ván cho vững, là ví dụ lẽ công bình, làm cho Hội thánh bền vững, chống cải kẻ làm rối đạo, kẻo nó như gió nguỵ thổi làm cho ngã xuống; cái phên che bề ngoài, là những da dày nhám nhúa, chịu mưa chịu tuyết, nên ví dụ kẻ chịu khốn khó đền tội mình, và đền cho kẻ khác nữa; các màn treo bề trong, thêu những hoa ngũ sắc, nên ví dụ các giống phước đức, làm cho Hội thánh nên rực rỡ trước mặt ĐCT.

Nhà Tạm làm ra bởi nhiều giống đồ khác nhau: vàng, bạc, cây gỗ, song các giống ấy điều liên hiệp với nhau mới ra một món đồ quý tốt lại chắc chắn. Đó là hình bóng kẻ có đạo trong Hội thánh ĐCT.

Tuy là nhiều dân nhiều xứ khác nhau, song nếu hết thảy đồng hiệp, nhờ đức mến làm dây buột lấy nhau, thì mới nên một giống đồ tốt quý.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI SÁU
ÔNG MÔISEN LÀM HÒM BIA TRUYỀN

Hòm Truyền Thiên Chúa, là của quý trọng, dân Giudêu xưa kính chuộng lắm. ĐCT đã dạy làm Hòm ấy, nên ví dụ nhiều sự mầu nhiệm, thuộc về đạo ĐCG truyền cho chúng tôi. Cái Hòm này bề dài hai thước năm tấc, bề ngang một thước năm tấc, ĐCT dạy lấy một giống gỗ bền chắc chẳng hay hư, mà đóng Hòm ấy, bề ngoài bề trong dát vàng bịt hết; trên nắp tượng một bàn vàng thượng thập đúc đặc; lại có hai hình Thiên Thần Sêraphim, đứng hai bên bàn ấy nhìn mặt nhau, mà giăng bốn cánh về trước, che phủ trên Hòm; lại tứ giác Hòm, có tám khoen vàng đặc, để xỏ bốn cây gỗ vào làm đòn, lại để bốn cây trong khoen ấy luôn, hòng khi khiêng đi nơi khác. Trong Hòm có để hai Bia đá, thích mười Giái răn ĐCT, và một chén Manna, cùng cây gậy ông Aaron dùng làm phép lạ xưa.

Các thánh gẫm rằng: Hòm bia Truyền Thiên Chúa là ví dụ linh hồn các giáo hữu, kẻ giữ trọn nghĩa cùng ĐCT, thì trong linh hồn tay ĐCTT đã ghi chép mười giái răn; lại có Manna mỹ vị, là ơn thánh ĐCT; có cây gậy ông Aaron, là lẽ công chính, làm cho linh hồn đặng vững bền; bởi vậy cho nên sinh ra hoa quả là các giống phước đức. Cái bàn vàng là ví dụ ĐCG, bởi Người phù hộ bàu chữa luôn, làm cho chúng tôi đặng hoà thuận cùng ĐC Cha, và dạy dỗ chúng tôi làm theo ý Chúa chẳng khi đừng. Hình hai Thiên thần Sêraphim nhìn mặt nhau luôn, là ví dụ đạo ông Môisen truyền trước, và đạo ĐCG truyền sau; hai đạo làm chứng cho nhau, và đồng một ý như nhau là ngợi khen một Chúa Ba Ngôi đời đời chẳng cùng. Hai cánh Thiên thần giăng ra mà che phủ, nên ví dụ trong đạo Chúa, có nhiều sự mầu nhiệm, con mắt chúng tôi xem chẳng thấy.

Lại gẫm rằng: hai hình Thiên thần Sêraphim này là toà ĐCT ngự, là ví dụ cho các giáo hữu gẫm, linh hồn mình là toà ĐCT, vì chưng ĐCT ở cùng chúng tôi luôn. Vậy các giáo hữu chẳng nên bắt chước kẻ ngoại đạo thủơ xưa đặt Hòm cực trọng này trên một bàn cùng bụt thần, nghĩa là ta chẳng nên phá lẽ thế gian làm một cùng lẽ đạo thánh ĐCT. Chẳng nên làm tôi Chúa và làm tôi ma quỉ một lược.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI BẢY
ĐCT DẠY LÀM BÀN DƯNG MƯỜI HAI CÁI BÁNH

Ông Môisen dạy làm một cái bàn bằng gỗ súc, chẳng hay hư, lại dát vàng mà bịt trên dưới. Cái bàn ấy bề trường hai thước, bề hoành một thước, bề cao một thước năm tấc; xung quanh bàn ấy có mũ triều thiên vàng, lại có tám cái khoen vàng, để xỏ bốn cây vào, làm đòn hòng khiên đi khắp mọi nơi. Ý ĐCT dạy làm cái bàn ấy để dưng cho Chúa hằng ngày mười hai cái bánh, sáu cái chồng làm một để bên tả, sáu cái chồng làm một để bên hữu. Người dạy lấy bột trong sạch trắng tốt mà đúc bánh ấy. Lại hễ người ào làm thầy đạc đức, thì mới có phép ăn bánh ấy mà thôi, và phải ăn trong nhà thờ, chẳng nên đem về nhà mà ăn.

Các thánh gẫm rằng: ĐCT dạy dưng lễ này, mà xưng Người là Chúa có phép tắc vô cùng, hằng nuôi dưỡng chúng tôi luôn. Vì vậy ý Người dạy dưng mười hai cái bánh, là kể theo mười hai dòng con ông Giacóp, để cho miêu duệ dòng ấy hằng ngày đặng suy, ĐCT là Cha nuôi dưỡng mình luôn.

Đời này các giáo hữu chẳng còn lấy cái bánh làm vậy mà dưng cho ĐCT, vì đã có ĐCG hằng ngày trên bàn thờ buổi lễ Misa dâng Mình cùng Máu thánh, dưới hình bánh rượu, cho ĐCT mà thờ phượng cùng tạ ơn thế cho chúng ta. Phép Thánh Thể, gọi là Eucharistia, nghĩa là tạ ơn. Vì phép cực trọng này là dấu tích nhắc lại cho ta nhớ các ơn lành ĐCG đã làm cho chúng ta.

Sau nữa, ĐCT dạy ông Môisen làm một chơn đèn vàng cao lớn có sáu nhánh, mỗi một nhánh có hai bầu đựng dầu ôliva sạch sẽ thơm tho; lại có một mình thầy đạc đức, thì mới có phép thấp đèn ấy mà thôi, chơn đèn ấy lại có một bầu chính giữa nóc, thấp một ngọn đèn trên ấy, mà đặt trước Hòm Bia Truyền Thiên Chúa, để chong đêm ngày.

Ngọn đèn sáng chong trước Hòm Bia đêm ngày, là chỉ hàng Đạc đức phải nên trọn lành làm gương mọi nhơn đức cho giáo hữu.

Đèn sáng, chỉ các đấng ấy, phải thông hiểu các lẽ đạo, hầu dạy dỗ dìu dắt linh hồn giáo nhơn, cho khỏi sai lầm.

Sau hết, cái đèn này dính vào một cột với sáu ngọn đèn khác, chỉ hàng đạc đức hằng phải kết hiệp luôn cùng cột, là ĐCG, nhờ đó thì hàng đạc đức mới có thể mà giúp ích cho linh hồn kẻ khác. Nhưng ngày nào, đèn này không còn dính cùng cột thì nó phải tắt. Cũng một lẽ ấy, ngày nào hàng đạc đức chẳng còn kết hiệp cùng ĐCG, thì tức thì chẳng còn sức lực mà giúp ích cho kẻ khác đặng nữa.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI TÁM
ÔNG MÔISEN DẠY LÀM HAI BÀN KHÁC

Làm Nhà Tạm xong rồi, thì ĐCT lại dạy ông Môisen làm một cái bàn vuông vức, bằng giống gỗ, chẳng hay hư, lại dát vàng bịt bốn bề cho khuất, chẳng còn xem thấy thịt ván. Bàn ấy bề trường hoành cũng một thước, ĐCT dạy để trong nhà thánh mà đốt hương. Lại dạy làm một bàn khác vuông vức, bề trường hoành năm thước, bề cao ba thước, đều bằng gỗ bền chắc, mà dát thau dày bịt lấy bàn ấy; bề trong bàn thì trống như cái cũi, chính giữa trên bàn, thì trổ cửa song sưa, đoạn đặt bàn này giữa sân nhà thánh; ví lập bàn ấy để đốt các giống thịt mỡ mà tế lễ ĐCT, đoạn những tro đốt thì lọt xuống lổ song sưa ấy.

Ông thánh Ghêlêgoriô gẫm rằng: hai bàn độc này nên ví dụ giống hai người trong Hội thánh: có kẻ trọn nghĩa cùng Chúa, làm những việc phước đức thượng tiến trước mặt ĐCT; kẻ ấy đã đặng vào ở trong nhà thờ, nghĩa là hiểu các lẽ ĐCT truyền. Lại có kẻ khác đã phạm tội trọng, và chưa đáng kết nghĩa cùng ĐCT. Kẻ ấy thì còn ở ngoài sân, nghĩa là chưa đặng chầu gần ĐCT.

Lại cái bàn độc để đốt các giống thịt, chỉ kẻ hãy còn ở đàng tội lỗi, thì hãm mình ra sức đốt cháy mọi dấu tích tội lỗi tánh hôi cho sạch. Cái bàn để đốt cá giống mùi hương, chỉ kẻ đã đặng dựa vào hàng kẻ nhơn đức, thì những than thở ước ao ở cùng Chúa và cầu nguyện, thì bay mùi thơm tho thấu đến trước toà ĐCT. Lại các thầy giữ việc hai bàn ấy có hai thể; một là các thầy phải an ủi kẻ có tội, khuyên bảo bỏ đàng tội lỗi, mà trở lại cùng Chúa; hai là các thầy phải an ủi kẻ đã nên nhơn đức, cho đặng càng ngày càng tấn tới hơn. Sau nữa, hai bàn này lại nên ví dụ các giống nhơn đức, ta phải làm khi ở đời, có hai thể: một là phải tin cậy kính mến Chúa trong lòng, cùng làm các việc phước đức bề trong, ấy là cái bàn đốt hương ở trong nhà; hai là ta cũng phải làm các việc phước đức bề ngoài, cho sáng danh Chúa, ấy là cái bàn đốt thịt ở ngoài sân.

Song le ông thánh Ghêlêgoriô Giáo tông lại gẫm rằng: Dầu mà bàn trong, hay là bàn ngoài, thì nên giống nhau, chỉ có một điều này, là tế lễ ĐCT; lại nên giống nhau, chỉ một điều khác nữa, là lửa thiêng liêng ĐCTT đốt cháy mọi giống lễ vật thượng tiến trên hai bàn ấy.


TRUYỆN THỨ BỐN MƯƠI CHÍN
ĐCT PHẠT HAI CON ÔNG AARON

Khi ông Môisen đã sắm sửa các đồ để thờ phượng ĐCT đoạn, thì Chúa mới dạy người phong chức cho ông Aaron làm thầy cả, và cho con cháu người đặng nối chức ấy. Lại ĐCT chọn dòng dõi ông Lêvi, để giúp việc trong nhà thờ ĐCT. Sau nữa Người lại dạy sắm sửa một cái áo lễ riêng, cho ông Aaron mặc; áo ấy cực tốt cực trọng, lại có mũ triều thiên, trên lá vàng có thích chữ Tên cực trọng ĐCT. Còn các thầy dưới cũng có áo lễ trong nhà thờ, nhưng mà áo ấy, chẳng bằng áo ông Aaron. Vậy khi đã sắm sửa các việc hoàn tất, thì mới dựng nhà Tạm mà tế lễ hằng ngày, một lần sớm mai, một lần ban chiều. ĐCT lại dạy các thầy giữ lửa trên bàn cho sẳn luôn, phòng khi xông hương, thì dùng lửa ấy, chẳng nên lấy lửa nơi khác.

Vậy có một lần, hai con ông Aaron giúp việc xông hương trong nhà thánh, mà bởi vội vàng vô tính, thì quên lấy lửa trên bàn ấy mà xông hương, song lấy lửa khác đem vào ở căn trong. Tức thì ĐCT phạt hai thầy ấy ngã xuống mà chết cả và mình cháy như lửa đốt; song le áo bề ngoài, chẳng sém chút nào. Bấy giờ ông Môisen thấy phép lạ làm vậy, thì khuyên các thầy đạc đức phải ở cho nhặt phép cùng dạy đem hai xác ấy ra ngoài, và cấm ông Aaron chẳng nên khóc lóc, cũng chẳng nên để tang. Ý ĐCT làm phép lạ này, Người muốn dạy chúng tôi, phải kính các lề luật ĐCT, chẳng nên lấy sự gì trong nhà ĐCT làm hèn làm nhẹ.

Ông thánh Ghêlêgoriô Giáo tông gẫm rằng: Kẻ lấy lửa ở ngoài mà xông hương, ấy là kẻ giả hình bề ngoài mà thờ phượng ĐCT, còn bề trong thì có ý trái; cho nên kẻ làm vậy phải phạt bề trong mà chết, bằng bề ngoài hình duông hãy còn ăn mặc như sống vậy.

Ông thánh này lại rằng: các giáo hữu phải giữ, kẻo có lửa nguỵ trong lòng mình, nghĩa là lấy sự yêu mến đời này làm nhứt, ở chẳng hết lòng cùng Chúa. Ấy vậy, các việc phước đức nó làm bề ngoài, có hình tốt, nhưng mà bề trong thì ra xấu xa, chẳng đặng ích gì.


TRUYỆN THỨ NĂM MƯƠI
KẺ NÓI DỂ NGƯƠI ĐCT PHẢI NÉM ĐÁ

ĐCT phạt kẻ bề trên trước, rồi mới phạt kẻ bề dưới sau. Vậy có hai người Giudêu dứt lác mắng nhau, một đứa giận hoảng, mà nói nhiều điều dể ngươi ĐCT. Khi ấy ai nấy nghe lời quái gở làm vậy, bèn sợ hãi, mà trói nó lại đem đến nộp cho ông Môisen, và cáo cùng người tự sự; trước khi đoán, thì người vào nhà thánh, tâu xin ĐCT soi sáng cho biết, phải phạt thằng ấy cách nào.Vậy ĐCT phán rằng: Phải đem nó ra ngoài đồng, hễ mấy người đã nghe lời nó nói quấy quá làm vậy, thì bấy nhiêu người ấy phải để tay trên đầu nó, làm chứng nó là đứa có tội thật; đoạn cả và dân sẽ ném đá mà giết nó đi. Chúa phán đoạn, ông Môisen vưng lịnh, bèn trở ra, dạy đem thằng ấy đi giết, như lời Chúa đã dạy.

Ấy là ý ĐCT muốn dạy dỗ các giáo hữu phải kính danh thánh Chúa. Bằng kẻ nói lời kiêu ngạo dể ngươi Chúa, thì chẳng đáng chịu gươm đao mà giết, một phải lấy đá mà ném nó, lại có ý lấy đá mà ném thì đứng xa, cho khỏi tội lỗi nó lây đến kẻ gần nó.

Chẳng khỏi bao lâu, có một đứa khác phạm tội chẳng giữ ngày lễ lạy, như lịnh Chúa dạy; thì kẻ khác trói thằng ấy lại, đem nộp cho ông Môisen, xin người dạy phải sửa phạt nó thể nào.

Bấy giờ ĐCT dạy ông Môisen cũng đem nó ra mà ném đá.

Các thánh gẫm rằng: Chớ chi các giáo hữu nghe những truyện nầy làm vậy, mà lo sợ; hằng ngày biết là mấy kẻ cả dám lỗi lịnh ĐCT, mà chẳng chút chi sợ hãi !

Dầu bây giờ ĐCT chẳng phạt tỏ tường như thuở trước, song le lịnh Người phán một lần, là dạy giữ ngày lễ lạy, thì rày hãy còn nhặt như trước. Ấy là lời các thánh xưa. Vậy ai tham vật hèn thế gian, mà bỏ lịnh ĐCT dạy cùng quen lấy làm nhẹ, thì hãy nhớ lời ông thánh Augutiô nói rằng: Người ấy chầy kíp sẽ biết tỏ tường lời ĐCT đe phạt rất thật là thể nào, chẳng phải như lời người thế gian giao kết là lời có khi thật, có khi không.


1238    17-03-2011 09:00:42