![]() |
| AdobeStock. |
Trong tư cách là những Kitô hữu, chúng ta nhận ra sự sống là một món quà từ Thiên Chúa và chúng ta được mời gọi chăm sóc thân xác lẫn linh hồn mình. Thoạt nghe, điều này có vẻ hiển nhiên. Tuy nhiên, thực tế của nền văn hóa chúng ta ngày nay lại mang tính nhị nguyên hơn nhiều. Chúng ta thấy rằng sự chăm sóc về mặt thiêng liêng thường bị lãng quên hoặc bị che khuất bởi việc đề cao sự chăm sóc đối với thân xác và những nhu cầu của nó.
Chúng ta đang sống trong một xã hội thế tục phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, bác bỏ sức mạnh của cầu nguyện, từ chối sự phân biệt giữa đúng và sai, phóng đại cảm xúc và vứt bỏ thực tại của linh hồn. Đó là một xã hội từ chối chấp nhận sự thánh thiện của lương tâm, chính là nơi chúng ta gặp gỡ và học hỏi từ Thiên Chúa. Đây là những giả định - một thứ không khí độc hại - mà chúng ta đang hít thở trong một thế giới phủ nhận bất cứ điều gì vượt ra ngoài chính nó, vượt ra ngoài vật chất và mang tính vị lợi. Một thế giới như vậy là một công trình tạo dựng vị kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân, luôn tự vấn và lo lắng về sự hư hoại của chính mình.
Và rồi, thuốc men và thực phẩm bổ sung thần kỳ trở thành cơn sốt, những trào lưu ăn kiêng lan tràn khắp các nền văn hóa, những chế độ ăn kiêng này đến rồi đi và được thay thế bằng những chế độ ăn kiêng mới, thẻ thành viên phòng tập thể dục và các chương trình tập luyện thống trị thị trường, và các phương pháp “thiền định” tập trung vào bản thân lấn át đời sống cầu nguyện chân thành với Thiên Chúa. Chúng ta quá chú trọng đến thân xác mình trong khi niềm tin vào Thiên Chúa lại suy yếu, số người tham dự Thánh lễ giảm sút, niềm tin vào Bí tích Thánh Thể suy giảm, và người ta tuyên bố không còn tin vào chuyện đúng sai hay sức mạnh của lời cầu nguyện. Đáng buồn thay, chúng ta dành toàn bộ sự chú ý cho cơ thể vật chất mà không quan tâm đến linh hồn và đời sống nội tâm của nó với Thiên Chúa.
Không có Đấng Tạo Hóa, tạo vật tan biến mất
Những nỗ lực quá mức để chăm sóc thể xác đã không mang lại những phần thưởng như đã hứa. Chúng không làm cho chúng ta hạnh phúc. Trên thực tế, chúng ta thấy sự gia tăng về chứng trầm cảm, lo âu, các mối quan hệ bất ổn và vấn nạn tự tử. Chúng ta cũng không còn cam kết duy trì những mối quan hệ bền chặt với nhau. Thay vào đó, chúng ta tự cô lập mình, đắm mình trên mạng xã hội hoặc các phương tiện kỹ thuật số khác, bị lôi cuốn vào các nền tảng giải trí kỹ thuật số và dễ dàng chào đón trí tuệ nhân tạo vào những lĩnh vực quan trọng của nhân loại mà không hề có sự thận trọng hay phân định về mặt luân lý.
Trong tình hình như vậy, chúng ta thấy được sự khôn ngoan của Công đồng Vaticanô II, khi dạy chúng ta rằng:
Nhưng nếu hiểu theo nghĩa sự độc lập của các sự việc trần thế, người ta cho rằng vạn vật không lệ thuộc vào Thiên Chúa, và con người có thể sử dụng chúng mà không cần quy chiếu về Đấng Tạo Hóa, thì bất cứ ai nhìn nhận Thiên Chúa sẽ thấy ý nghĩa đó sai lầm đến mức nào. Bởi vì nếu không có Đấng Tạo Hóa, tạo vật sẽ tan biến mất. Tuy nhiên, về phần mình, tất cả các tín hữu của mọi tôn giáo đều luôn nghe thấy tiếng nói mặc khải của Người nơi ngôn ngữ của tạo vật. Tuy nhiên, khi Thiên Chúa bị lãng quên, chính tạo vật trở nên vô nghĩa. (Gaudium et Spes, số 36)
Do những nỗ lực quá mức trong việc chăm sóc thân xác, chúng ta đã lãng quên linh hồn mình và do đó đã gần như lãng quên chính nguồn mạch đem đến sự sung túc cho thân xác cũng như mang lại mục đích và giá trị cho cuộc sống.
Cách tiếp cận cuộc sống vô ích như vậy đã tự hủy hoại chính mình. Đền thờ thân xác chúng ta có thể đẹp đẽ từ bên ngoài, nhưng chúng đã trở thành “những nắm mồ mã được tô vôi” hoang tàn (x. Mt 23:27; cx. 1Cr 6:19).
Xã hội chúng ta về nhiều mặt giống với Ađam và Eva sau khi sa ngã. Tổ tiên chúng ta đã từ chối thế giới đầy ân sủng mà Thiên Chúa ban tặng và tìm cách tạo dựng thế giới riêng cho mình. Khi phản nghịch Thiên Chúa, họ thấy mình trần trụi, sợ hãi, hoang mang, chỉ tập trung vào thân xác và những gì che phủ nó, và trốn tránh chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và yêu thương họ (x. St 3:7-8).
Giống như tổ tiên chúng ta, chúng ta cũng ương ngạnh và cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa. Tạ ơn Thiên Chúa, chúng ta không cần phải tìm kiếm Người vì Người đã mở đường để tìm kiếm chúng ta.
Thiên Chúa đến với chúng ta
Bất chấp sự bất tuân của họ, Thiên Chúa đã gọi Ađam và Eva. Trong khi họ trốn tránh Người, Thiên Chúa đã tìm kiếm họ. Người hỏi họ đang ở đâu và chất vấn ai đã nói với họ rằng họ trần truồng (x. St 3:9-11). Những câu hỏi tương tự cũng được đặt ra cho xã hội chúng ta ngày nay: Chúng ta đang ở đâu? Tại sao chúng ta xa cách Thiên Chúa? Điều gì đã xảy ra với chúng ta? Ai đã làm điều đó?
Khi những câu hỏi được đặt ra, chúng ta thấy sự trống rỗng tột cùng khi xa cách Thiên Chúa. Chúng ta được dẫn dắt đến việc nhận ra rằng mình đã rời xa Người, rằng một tinh thần thế tục đã mê hoặc chúng ta và chúng ta đã chấp nhận những lời dối trá của nó. Chúng ta thấy được hoàn cảnh của mình và hiểu tại sao chúng ta cô đơn.
Trong sự xa cách Thiên Chúa, chúng ta có thể cảm thấy choáng ngợp và lạc lõng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng bằng cách nào đó, Thiên Chúa không thể tìm thấy chúng ta, không thể chữa lành chúng ta, hay không thể phục hồi chúng ta. Lòng chúng ta có thể đồng cảm với Thánh Phaolô, người đã đấu tranh để tin cậy vào Thiên Chúa và thốt lên:
Vậy nên, tôi khám phá ra nguyên lý này: khi tôi muốn làm điều đúng đắn, thì điều xấu xa đã ở ngay trước mắt. Vì tôi lấy luật pháp Thiên Chúa làm vui thích nơi con người nội tâm, nhưng tôi thấy trong các chi thể mình một nguyên lý khác đang giao chiến với luật của lý trí, bắt tôi làm nô lệ cho luật của tội lỗi vốn ngự trị trong các chi thể tôi. Khốn khổ cho tôi thay! Ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân xác hay chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. (Rm 7:21-25)
Trong cơn thống khổ, Thánh Phaolô đã nhận ra rằng trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta có thể lắng nghe Thiên Chúa và tìm thấy con đường chắc chắn để đến với Người. Chúng ta có thể thừa nhận những gì đã xảy ra với mình và cách thức nó diễn ra. Chúng ta có thể sám hối và tin tưởng. Chúng ta có thể thay đổi hướng đi. Bất kể chúng ta ở đâu hay điều gì đã xảy ra với mình, chúng ta có thể chọn Thiên Chúa và quyết định chuyển hướng năng lực tiềm tàng của mình, dành nhiều (và nhiều hơn) sự chăm sóc cho linh hồn như chúng ta đã dành cho thân xác mình. Chúng ta có thể hướng về Thiên Chúa với trọn tấm lòng.
Một lời kêu gọi để làm lại
Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã gửi đến các tông đồ lời nhắn nhủ: “Hãy đi báo cho anh em Thầy đi đến Galilê, ở đó họ sẽ gặp được Thầy.” (Mt 28:10) Đây là một lời mời gọi bất thường, bởi vì Chúa Giêsu phục sinh và các tông đồ đều đã ở Giêrusalem. Tuy nhiên, lời mời gọi này có mục đích của nó. Các tông đồ đã chối bỏ và phản bội Chúa trong cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Họ đã xa cách Chúa, và vì vậy, Người đã gọi họ trở về nơi họ gặp gỡ Người lần đầu tiên. Lời mời gọi trở về Galilê là một lời mời gọi hoán cải và đổi mới. Đó là một lời mời gọi làm lại từ đầu. Đó là món quà của một cơ hội thứ hai. Lời mời gọi trở về Galilê là lời mời gọi trở về với tình yêu thuở ban đầu (x. Kh 2:1-7).
Chúa Giêsu gọi chúng ta đến Galilê. Chúng ta được trao cơ hội để sám hối và trở về với tình yêu thuở ban đầu. Chúng ta được mời gọi tiến về phía trước và được mời gọi lấy lại nhân tính của mình bằng cách vun đắp đời sống thiêng liêng và hiểu rõ phẩm giá của mình là con cái Thiên Chúa.
Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi này, hành trình của chúng ta với Chúa sẽ bắt đầu lại. Điều quan trọng là chúng ta phải nhớ rằng không phải chúng ta đã chọn Người, mà chính Người đã chọn chúng ta (x. Ga 15:16). Trong tình yêu thương của Người, Người là Đấng tìm kiếm và mời gọi chúng ta đến với Người.
Khi chúng ta thay đổi cách sống và bắt đầu bước đi với Người, chúng ta sống lại trong cuộc đời mình hành trình của hai môn đệ trên đường Êmmau. Thánh Luca, người đã ghi lại câu chuyện Êmmau nổi tiếng cho chúng ta, thuộc thế hệ thứ hai trong số các môn đệ của Chúa và rất có thể chưa bao giờ gặp Chúa Giêsu Kitô trong cuộc đời này. Tuy nhiên, dựa trên chứng từ của các tông đồ, Thánh Luca cho chúng ta câu chuyện cảm động về Chúa Kitô phục sinh đồng hành, lắng nghe, dạy dỗ, cầu nguyện và bẻ bánh với hai môn đệ của Người.
Sẽ rất hữu ích nếu chúng ta kể lại một số bài học từ câu chuyện Êmmau. Khi làm như vậy, chúng ta có thể nhận ra một số bước đi cụ thể mà chúng ta có thể thực hiện để đến gần Chúa hơn, chăm sóc linh hồn và phục hồi đời sống thiêng liêng. Với công việc thiêng liêng này, chúng ta hãy cùng nhau điểm qua bốn điểm chính.
Đồng hành với Chúa Giêsu
“Trong lúc họ đang trò chuyện và tranh luận, chính Chúa Giêsu đã đến gần và đồng hành với họ, nhưng mắt họ bị che khuất, không nhận ra Người.” (Lc 24:15-16)
Chúng ta được biết rằng các môn đệ đã “buồn rầu” (24:17) và đang vật lộn với sự hoang mang về mặt thiêng liêng. Họ đang chờ đợi sự phục hồi vương quốc của vua Đavid, nhưng công việc của Chúa đã không diễn ra theo ý họ muốn. Họ bối rối và lo lắng. Mọi việc đã không diễn ra như họ mong đợi. Vậy mà, Chúa đã ở đó với họ. Người đã bước vào trạng thái bất an và thất vọng của họ. Ban đầu, họ không nhìn thấy Người.
Chúa Giêsu đến với chúng ta. Người đặt câu hỏi và muốn biết điều gì đang làm chúng ta đau khổ. Chúng ta phải đồng ý đồng hành với Người trong lời cầu nguyện. Chúng ta cần tĩnh lặng, giới hạn một số công việc mục vụ của mình, phó thác cho sự quan phòng của Người và chỉ cần đồng hành và trò chuyện với Người. Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy Người, nhưng Chúa vẫn ở cùng chúng ta và muốn chúng ta trò chuyện với Người.
Nếu chúng ta muốn phát triển đời sống nội tâm, chúng ta phải cầu nguyện. Một đời sống cầu nguyện như vậy được thể hiện rõ nét nhất trong Phụng vụ Giờ kinh, cũng như Kinh Mân Côi, tuần cửu nhật và các việc đạo đức khác, nhưng cũng - và rất quan trọng - chỉ bằng việc ngồi lại và trò chuyện với Chúa từ tận đáy lòng. Chúng ta cần những lúc bày tỏ nỗi đau khổ, tổn thương, thất vọng, niềm vui, chiến thắng, hy vọng và những bí mật khác trong tâm hồn. Thời gian cầu nguyện này là chuyện trò và lắng nghe Chúa, giống như hai môn đệ trên đường Êmmau.
Trở về với Kinh Thánh
“Bắt đầu từ Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.” (Lc 24:27)
Sau khi tìm hiểu ban đầu, Chúa nhận ra rằng các môn đệ không hiểu vai trò của đau khổ và lý do tại sao “Đấng Mêsia phải chịu đau khổ” (c.26). Đáp lại, Chúa mở Kinh Thánh ra và bắt đầu dạy họ. Kinh Thánh là nguồn tài nguyên Chúa dùng để chia sẻ sự khôn ngoan thánh thiêng và mạc khải kế hoạch cứu độ.
Nếu muốn nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng, chúng ta cần đến gần với Kinh Thánh. Nỗ lực này có thể là việc nghiên cứu lịch sử cứu độ, đọc kỹ một cuốn sách cụ thể hoặc một bài chú giải Kinh Thánh đáng tin cậy, hoặc đào sâu hơn vào các bài đọc trong Thánh lễ Chúa nhật. Có nhiều cách để đọc, cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh. Mục tiêu của chúng ta là tìm ra cách thức phù hợp với mình và kiên trì theo đuổi.
Khao khát Bí tích Thánh Thể
“Nhưng họ nài nỉ Người rằng: ‘Xin Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn.’” (Lc 24:29)
Sau khi Chúa dạy dỗ hai môn đệ, họ đến Êmmau. Trời đã bắt đầu tối, nên các môn đệ xin Người ở lại. Chúa đồng ý và ở lại với họ. Khi Chúa cùng các môn đệ dùng bữa, Người đã bẻ bánh và hiện ra với họ. Trong cử chỉ Bí tích Thánh Thể đó, các môn đệ nhận ra chính Chúa Giêsu đang ở với họ, và họ vui mừng.
Đời sống thiêng liêng phụ thuộc vào Bí tích Thánh Thể. Nếu muốn nuôi dưỡng tâm hồn, chúng ta cần đào sâu lòng khao khát được rước Chúa. Chúng ta cần cầu xin Chúa tỏ mình ra cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Chúng ta cần nài xin Chúa giúp chúng ta hiểu rằng Mình và Máu Người chính là của ăn đích thực và là của uống đích thực (x. Ga 6:53-56). Niềm khao khát ấy có thể được thể hiện qua việc tham dự Thánh lễ, sốt sắng hơn trong Thánh lễ và dâng lời tạ ơn sau khi rước lễ.
Chia sẻ với người khác
“Lập tức, họ lên đường trở về Giêrusalem, gặp nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp.” (Lc 24:33)
Sau khi các tông đồ được Kinh Thánh dạy dỗ và gặp gỡ Chúa nơi nghi thức bẻ bánh, họ được sai đi loan báo những gì họ đã chứng kiến. Họ được kêu gọi để mạc khải và chia sẻ những gì đã được ban cho họ. Trong khát vọng phát triển đời sống thiêng liêng, chúng ta cần lắng nghe chứng tá của người khác, đặc biệt là những vị thánh được Giáo Hội tôn kính. Chúng ta cũng cần chấp nhận sự yếu đuối của mình và chia sẻ đức tin với người khác, đặc biệt là những người đang được chúng ta chăm sóc mục vụ.
Qua bốn con đường này, được rút ra từ câu chuyện Êmmau, chúng ta có được một bản thiết kế có thể giúp ích cho chúng ta trên hành trình đi sâu hơn vào mối tương quan với Chúa Giêsu. Chúng là một loạt những cột mốc có thể dẫn dắt chúng ta khi chúng ta chăm sóc chu đáo cho linh hồn mình.
Chúng ta được tạo dựng một cách lạ lùng và kỳ diệu (x. Tv 139:14). Chúng ta có thân xác và linh hồn, và cả hai đều cần được chăm sóc và nuôi dưỡng. Chúng ta không thể để những lời dối trá thế tục làm lu mờ linh hồn mình. Chúng ta là những hữu thể thiêng liêng. Càng chăm sóc thân xác và linh hồn, chúng ta càng có thể chia sẻ sự sống dồi dào được trao ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô (x. Ga 10:10).
Tác giả: Lm. Jeffrey Kirby, STD - Nguồn: The Priest (15/10/2025)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
