Sidebar

Thứ Ba
25.06.2024

Chi-lê, lời của Đức Giáo Hoàng về người đồng tính và những chỉ dẫn bị lãng quên của Đức Gioan-Phaolô II

 

Trường hợp của Chi-lê cho thấy, không phải chỉ ở các nước Nam Mỹ, vẫn còn tồn tại các vấn đề nghiêm trọng trong phân định ơn gọi ở các chủng viện và trong quá trình bổ nhiệm các giám mục.

Trường hợp Chilê với việc bung ra các vụ bê bối mới, sau khi toàn Hội đồng Giám mục từ chức, đặt quyết định vào tay Đức Phanxicô, đã rõ ràng cho thấy các gốc rễ sâu xa của căn bệnh đã gặm nhắm Giáo hội Chi-lê và không phải chỉ ở Chi-lê. Nó cũng cho thấy bao nhiêu lời huấn dạy của các giáo hoàng trong các thập kỷ gần đây đã được các giám mục xem đó là những bức thư chết đến như thế nào.

Tuần trước, trong buổi họp kín với các giám mục Ý, Đức Phanxicô bày tỏ lo ngại của mình về việc giảm ơn gọi linh mục, ngài xin các giám mục để ý đến chất lượng của các linh mục tương lai khi nói về trường hợp những người đồng tính muốn vào chủng viện: “Nếu có một chút nghi ngờ dù nhỏ nào, thì tốt hơn không nên để họ vào chủng viện”. Sau đó ngài nói đến hai tài liệu được công bố trong những năm gần đây của Tòa Thánh: tài liệu đầu tiên năm 2005, đầu triều Đức Bênêđictô XVI, tài liệu thứ hai là năm 2016 dưới triều Đức Bergoglio. Trong cả hai, trong tinh thần tôn trọng sâu sắc các đương sự, các tài liệu lập luận rằng, không thể nhận vào chủng viện hay vào Dòng “những ai thực hành đồng tính”  hay “có khuynh hướng đồng tính sâu đậm”.

Trong một bức thư Đức Phanxicô gởi các giám mục Chilê khi họ đến Rôma, có lời chỉ trích các giám mục đã giao việc điều khiển chủng viện cho các “linh mục đáng ngờ có hành động đồng tính”. Sự tồn tại của các mạng linh mục được cấu kết và tổ chức bắt mồi trên web, cũng như các trường hợp lạm dụng trẻ em có liên quan đến các linh mục, rõ rằng cho thấy các tiêu chuẩn để phân định đã không được áp dụng.

Từ năm 1992, hơn mười năm trước khi công bố Chỉ thị của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo tháng 8 năm 2005 về “Tiêu chuẩn phân định ơn gọi của những người có khuynh hướng đồng tính trong quan điểm nhận vào chủng viện và nhà Dòng” và hơn hai mươi năm trước khi bộ Giáo sĩ công bố về “ơn gọi chức thánh” là hai tài liệu yêu cầu không được để những người có khuynh hướng đồng tính hay có thực hành đồng tính được vào chủng viện, Đức Gioan-Phaolô II đã có tông huấn về việc Đào tạo Linh mục trong Hoàn cảnh hiện nay (Pastores Dabo Vobis)”.

Tài liệu như sau: “Đặc sủng độc thân, dù đích thực và được chứng minh, vẫn còn nguyên vẹn các khuynh hướng và các thúc bách của bản năng, ứng viên linh mục cần một mức độ trưởng thành tình cảm có khả năng khôn ngoan, từ bỏ những gì là đe dọa, cảnh giác về cơ thể và tinh thần trong tinh thần tự trọng và tôn trọng trong các quan hệ với người đàn ông và phụ nữ. Một giáo dục đầy đủ phù hợp với thế nào là một tình bạn chân chính, theo hình ảnh tình huynh đệ mà Chúa Kitô đã sống trong cuộc sống của Ngài là một sự giúp đỡ rất quý báu”.

Đức Giáo Hoàng Wojtyla cũng nói thêm: “Sự trưởng thành nhân bản và đặc biệt là trong tình cảm cần được đào tạo rõ ràng và mạnh mẽ để có được tự do trong khuôn khổ của đức vâng lời được tin chắc và chân thành với con người thật của mình, ý nghĩa của sự tồn tại của chính mình, là món quà chân thực của mình như con đường, nội dung cơ bản của sự tự nhận thức bản thân. Vì vậy phải hiểu, tự do đòi hỏi người đó phải thực sự làm chủ mình, quyết tâm chiến đấu và vượt qua các hình thức khác nhau của thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa đe dọa cuộc sống của mỗi người, để sẵn sàng mở ra cho người khác, quảng đại tận tụy và phục vụ tha nhân”.

Vấn đề nổi lên từ những vụ bê bối gần đây không chỉ liên quan đến căn bệnh ấu dâm: trong nhiều trường hợp, thực tế là lạm dụng trẻ em đã bước vào tuổi vị thành niên. Vấn đề lớn hơn, sâu sắc hơn vẫn chưa được trả lời một cách thỏa đáng cho các lo ngại về sự non nớt về mặt tình cảm của các ứng sinh chức linh mục, mà nếu họ không phải là những người đã trưởng thành về mặt tình cảm – dù họ có là người đồng tính hay không – thì tình trạng chưa trưởng thành này của họ ảnh hưởng trên các quan hệ với người khác.

Theo con số thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (OMS) về vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em thì có khoảng 150 triệu trẻ em gái và phụ nữ trẻ và 73 triệu trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi bị quan hệ tình dục cưỡng bức. Các trẻ em bị các tu sĩ lạm dụng thì 75 % trường hợp là các em bé trai.

Vấn đề thiếu trưởng thành về mặt tình dục nơi các chủng sinh bùng ra ở Chi-lê, nhưng chắc chắn không phải chỉ ở nước Châu Mỹ La Tinh này, các vụ tai tiếng khác xảy ra ở Âu châu và ở các nước khác cũng đã cho thấy vấn đề tiềm ẩn nghiêm trọng liên quan đến các tiêu chuẩn mà các giám mục đã được chọn trong những thập kỷ qua.

Phản ứng tự động đóng kín cửa và tự vệ, mà nhiều vị chủ chăn ở Chi-lê đã phản ứng khi vụ tai tiếng bùng ra, đặt việc bảo vệ thanh danh của Giáo hội lên hàng đầu chứ không bảo vệ đàn chiên tín hữu, những người thấp bé nhất, những người cùng khốn nhất trong số các tín hữu phải được nêu lên về tiêu chuẩn lựa chọn, về các giựt dây vận động hành lang trong việc đề cử một vài giám mục. Không thể không quan tâm đến sự trưởng thành về mặt tình cảm của các chủng sinh và các linh mục của họ. Không thể lý giải với thực tế, phải ý thức các vụ lạm dụng này, không được có hành vi rửa tay khi các vụ này được báo cáo lên. Đứng trước các lạm dụng này, những tội ác khủng khiếp, thì tình trạng non nớt về mặt tình cảm của các linh mục của họ, làm như không thấy, thì về phần họ, các giám mục cũng cho thấy sự thiếu trưởng thành của họ trong cương vị người cha.

Đã nhiều lần, trong các bài giảng, bài diễn văn và trong các sách, Đức Phanxicô

nhấn mạnh đến thái độ tách bạch đã từng có giữa Chúa Giêsu và quan Tổng trấn Philatô, Chúa Kitô đến để phục vụ, ngài rửa chân cho các môn đệ. Còn Philatô thì rửa tay. Một hình ảnh hữu ích để thấy các sự kiện xảy ra cho hàng giáo sĩ hiện nay.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

546    31-05-2018