Sidebar

Thứ Bảy
27.11.2021

congcuoctruyengiaocuahaigiammuctienkhoitaigiaohoivietnam
CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO
CỦA HAI GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI GIÁO HỘI VIỆT NAM

+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục Gp. Phan Thiết

Mục lục

DẪN NHẬP

     1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha

     2. Đường Hướng Của Toà Thánh

     3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam

Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC

     I. ĐỨC CHA LAMBERT

          1. Các Cuộc Kinh Lý

          2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương

          3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ

          4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá

     II. ĐỨC CHA FRANÇOIS PALLU

          1. Hành Trình Âu – Á Lần Thứ Nhất (1665 – 1673)

          2. Hành Trình Âu – Á Lần Thứ Hai (1674 – 1681)

     III. HAI CÁI CHẾT LÀNH THÁNH

          1. Đức Cha Lambert

          2. Đức Cha François Pallu

     IV. TÓM LẠI

PHẦN II. HƯỚNG TỚI VIỆC PHONG THÁNH CHO HAI VỊ GIÁM MỤC TIÊN KHỞI TẠI VIỆT NAM

     I. “Chứng Từ Lịch Sử Trên Văn Bản”: do Nhóm chuyên viên phụ trách

     II. “Chứng Từ Lịch Sử Sống Động”

          1. Chứng Nhân Tử Đạo

          2. Một Giáo Hội Trên Đà Trưởng Thành

          3. Gia Đình Mến Thánh Giá

     III. Phúc Lành Của Thiên Chúa qua các phép lạ

KẾT LUẬN

 

DẪN NHẬP

Phần các Giám mục, các ngài được Chúa Thánh Thần cắt cử để kế vị các Tông đồ làm mục tử chăn dắt các linh hồn, đồng thời, hợp nhất với Đức Giáo hoàng và dưới quyền ngài, các Giám mục được ủy thác sứ mạng duy trì luôn mãi công trình của Chúa Kitô, vị Mục tử vĩnh cửu” (Sắc lệnh Giám mục, Christus Dominus số 2 – 28/10/1965)

1. Công Cuộc Truyền Giáo Tại Việt Nam Dưới Chế Độ Bảo Trợ Bồ Đào Nha

Công cuộc truyền giáo ở Việt Nam thời kỳ đầu được thực hiện chủ yếu bởi Dòng Tên dưới quyền bảo trợ của người Bồ Đào Nha. Các nhà truyền giáo đã gặt hái được những thành công đáng kể: số tín hữu gia tăng với tinh thần sống đạo sốt sắng, Hội Thầy giảng được thành lập, khai mở nền văn chương Công giáo trên đất Việt, v.v…. Tuy nhiên, những cuộc bách hại Đạo và việc trục xuất các thừa sai ngoại quốc, cùng với những cản trở từ phía Chế độ Bảo trợ luôn là những thách đố lớn cho công việc truyền giáo tại đây.

Theo thỉnh nguyện của cha Đắc Lộ được đệ trình lên Toà thánh sau khi bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1645, ngài nhấn mạnh hai đề xuất chính:

- Do tình trạng thiếu linh mục để chăm sóc các tín hữu, nâng đỡ họ trong những cuộc bách hại, xin Toà thánh sớm gởi các Giám mục qua để thành lập hàng Giáo phẩm địa phương, đào tạo và phong chức các linh mục bản xứ;

- Ban đầu, ngài dự định xin Đức Thánh cha bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa, nhưng khi hiểu được kế hoạch của Tòa thánh trong chương trình gửi các Giám mục Đại diện Tông tòa, để tránh rắc rối với Chế độ Bảo trợ, cha Đắc lộ đệ trình một bản ‘ghi nhớ’ xin gửi Giám mục in partibus (trong phần đất dân ngoại) và không cần cho Vua Bồ Đào Nha biết[1].

2. Đường Hướng Của Toà Thánh

Dù phải công nhận rằng Chế độ Bảo trợ có những đóng góp nhất định cho công cuộc truyền giáo chung, nhưng Toà thánh ngày càng nhận ra những bất cập, lạm dụng, thậm chí trở thành những khó khăn và nguy hại, nhất là khi các vua chúa đặt quyền lợi chính trị và kinh tế lên hàng đầu.

Để thoát ra khỏi tình trạng trên, Toà thánh muốn trực tiếp đảm trách và điều hành công cuộc truyền giáo qua việc thiết lập Thánh bộ Truyền bá Đức Tin vào năm 1622. Từ đây, đường hướng truyền giáo ở các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, cụ thể qua Huấn Thị năm 1659 trao cho hai Giám mục đầu tiên được gửi đến Đàng Ngoài, Đàng Trong và Trung Hoa[2].

Riêng đối với công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, ngày 13.05.1658, Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin đề nghị bổ nhiệm hai cha François Pallu và Pierre Lambert làm giám mục và được Đức Thánh cha Alexandre VII phê chuẩn ngày 08.06.1658. Một năm sau, ngày 09.09.1659, ngài ký Sắc chỉ Super Cathedram thiết lập hai Địa phận Tông toà: trao cho Đức cha François Pallu cai quản Đàng Ngoài, năm tỉnh của Trung Hoa: Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng (nay là Hồ Nam, Hồ Bắc), Quảng Tây, Tứ Xuyên, và nước Lào; tiếp đến trao cho Đức cha Pierre Lambert cai quản Đàng Trong và một số vùng của Trung Hoa: Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây và đảo Hải Nam[3].


Thánh Bộ còn gửi cho hai tân Giám mục bản Huấn Thị khá chi tiết với những điểm đáng chú ý ở phần III như:

+ Thiết lập Hàng Giáo sĩ bản địa qua việc phong chức linh mục cho người địa phương;

+ Cẩn trọng trong việc phong chức giám mục; không tự tiện làm nhưng phải thỉnh ý và chờ sự chấp thuận của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin;

+ Mở trường học, dạy tiếng La tinh và Giáo lý để từ đó có thể tìm ra các ơn gọi linh mục;

+ Hội nhập văn hoá;

+ Không can dự vào chính trị;

+ Giữ liên hệ chặt chẽ với Toà Thánh[4].

Tòa thánh cũng bổ nhiệm Cha Cotolendi làm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Nam Kinh (Trung Hoa). Ngài được tấn phong Giám mục ngày 07.11.1660, hiệu tòa Métellopolis và lên đường truyền giáo ngày 03.9.1661 nhưng không may đã từ trần tại Ấn Độ ngày 16.08.1662[5]. Vì thế, chỉ còn hai vị Đại diện Tông Tòa đảm trách công cuộc truyền giáo vùng Viễn Đông.

3. Hai Giám Mục Tiên Khởi Tại Việt Nam

Đức Cha Pierre Lambert de la Motte sinh ngày 28.01.1624 tại Lisieux vùng Normandie nước Pháp, trong một gia đình thuộc giai cấp thượng lưu, giàu sang. Lớn lên, ngài học ngành luật và hành nghề luật sư, sớm trở thành thẩm phán, khi mới 22 tuổi, với phép miễn tuổi của Vua Louis XIV. Được thúc đẩy bởi ơn gọi linh mục, ngài theo chương trình thần học và được thụ phong linh mục ngày 27.12.1655. Đức cha Pierre Lambert được bổ nhiệm làm Giám mục và thụ phong ngày 11.06.1660 tại Paris với hiệu toà Bérithe. Ngài đã dâng cúng tài sản mình để lo cho chương trình truyền giáo Viễn Đông được tiến hành nhanh chóng[6].

Ngày 27.11.1660, Đức Cha Pierre Lambert và hai linh mục thừa sai rời Pháp lên đường sang Việt Nam, không theo hành trình đường biển dành cho các thừa sai được Vua gửi đi, nhưng theo lộ trình mà Thánh bộ Truyền Bá Đức Tin đề nghị: “Hành trình đất liền xuyên qua xứ Syria và vùng Mésopotamia sẽ an toàn cho chư huynh hơn nhiều so với đường biển Đại Tây Dương và mũi Hảo Vọng”[7]. Sau chuyến đi đầy gian nan vất vả, phái đoàn đã tới Ayutthaya ngày 22.08.1662. Ngài chưa thể đến Đàng Trong được vì lúc đó đang có cuộc bách hại dữ dội.

Đức Cha François Pallu chào đời năm 1626[8] tại thành phố Tours, nước Pháp, trong gia đình quý tộc và vị vọng (chưa xác định được ngày sinh). Ngài được rửa tội ngày 31.08.1626. Sau khi học xong chương trình ở chủng viện, ngài thụ phong Linh mục vào tháng 09.1650 và tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ dân luật và giáo luật. Đức cha François Pallu được thụ phong Giám mục ngày 17.11.1658 tại Rôma với hiệu toà Héliopolis.

Đức cha Pallu là thành viên Nhóm Bạn Hiền và Hiệp hội Thánh Thể, là những tổ chức góp phần vận động Toà thánh gởi các Giám mục sang Việt Nam và Trung Hoa cũng như hỗ trợ cho việc hình thành Chủng viện Thừa sai Paris[9].

Ngày 02.01.1662, Đức cha Pallu rời Pháp đi Việt Nam với bảy linh mục và hai giáo dân bằng con đường bộ. Sau hai năm, ngày 27/01/1664 phái đoàn của ngài đã tới được kinh đô Ayutthaya, nhưng chỉ còn hai linh mục và một giáo dân[10].

Hai tâm hồn – một chí hướng:

Khi còn là linh mục, Đức cha François Pallu và Pierre Lambert gặp nhau và trở thành đôi bạn thân trong kế hoạch truyền giáo tại Rôma vào năm 1657. Các ngài đã cùng soạn ra một chương trình để thỉnh xin Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin cho lập một chủng viện chuyên lo việc truyền giáo Đông Nam Á[11]. Đó là bước khởi đầu của chủng viện Hội Thừa Sai Paris.

 

Sau khi được Toà Thánh bổ nhiệm trong chức Giám mục và lãnh trách nhiệm trên hai Địa phận của Việt Nam, với tâm hồn đạo đức và đầy nhiệt huyết của vị tông đồ truyền giáo, hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert luôn cộng tác tích cực với nhau trên hành trình truyền giáo với tinh thần liên đới trách nhiệm. Các ngài đã sống và chết cho sứ vụ được trao phó là xây dựng Giáo hội Việt Nam trong tình say mến Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh.

Phần I. HAI MẪU GƯƠNG QUẢ CẢM TRONG SỨ VỤ GIÁM MỤC

I. ĐỨC CHA LAMBERT

1. Các Cuộc Kinh Lý

Trên hành trình sang Việt Nam, hai Đức cha Pierre Lambert và François Pallu không thể đến địa sở của mình được vì đang có cuộc bách hại lớn. Các ngài phải dừng chân ở Ayutthaya, Thái Lan và điều hành công việc quản trị từ xa. Riêng Đức cha Lambert, ngài đã thực hiện được ba cuộc kinh lý mục vụ sang Việt Nam nhằm củng cố và phát triển hai Giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài.

a. Kinh Lý Đàng Ngoài (1669 – 1670)

Miền truyền giáo Đàng Ngoài thuộc trách nhiệm của Đức cha François Pallu. Nhưng vì nhiều lý do, ngài đã không thể đến Đàng Ngoài được. Từ ngày 30.08.1669 đến ngày 14.03.1670, Đức cha Lambert thay mặt Đức cha Pallu kinh lý mục vụ miền truyền giáo Đàng Ngoài. Trong chuyến đi này, bên cạnh việc thăm viếng và rửa tội cho giáo dân, Đức cha đã thực hiện được 4 việc quan trọng[12]:

+ Phong chức linh mục cho bảy thầy giảng Đàng Ngoài (1670) trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Toà tiên khởi của Giáo hội Việt Nam;

     1) Thầy Martinô Mật (68 tuổi)

     2) Thầy Giacôbê Chiêu (46 tuổi)

     3) Thầy Simon Kiên (60 tuổi)

     4) Thầy Antôn Quế (56 tuổi)

     5) Thầy Philipphê Nhân (52 tuổi)

     6) Thầy Lêô Trụ (46 tuổi)

     7) Thầy Vitô Trị (30 tuổi)[13]

+ Tổ Chức Công đồng Phố Hiến (14.02.1670);

+ Thành lập Hiệp hội Tín hữu Mến Thánh Giá.

+ Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài.

b. Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ nhất (1671 – 1672)

Ngày 20.07.1671, Đức cha Lambert thực hiện chuyến kinh lý Đàng Trong cùng với hai thừa sai Pháp là Guillaume Mahot va Claude Guiart và hai linh mục người Đàng Trong là Giuse Trang và Luca Bền. Sau hơn một tháng vượt biển đầy gian nan do bão tố và hải tặc, thuyền của Đức cha đã cập bến Nha Trang ngày 31.08.1671 (sợ bị lộ diện, ngài vẫn ở trong thuyền, tối hôm sau, tín hữu kín đáo đưa ngài đến Lâm Tuyền, một xóm chài nhỏ; sau đó ra An Chỉ, Quảng Ngãi). Ở đây, Đức cha Lambert đã thực hiện những công cuộc quan trọng[14]:

       + Thăm viếng các giáo điểm, ban các Bí tích và gặp gỡ các chức sắc và giáo dân;

       + Thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong (tại xứ An Chỉ, Quảng Ngãi);

       + Tổ chức Công đồng Hội An (năm 1672).

c. Kinh lý Đàng Trong Lần Thứ Hai (1675 – 1676)

Ngày 23.07.1675 (ba năm sau), Đức cha Lambert và hai linh mục thừa sai trở lại Đàng Trong lần thứ hai. Các công việc của Đức cha trong chuyến kinh lý này gồm có[15]:

       + Dành nhiều thời gian tiếp đón các linh mục, giáo dân đến với ngài, giải quyết các vấn đề mục vụ và ban các Bí tích cho đoàn chiên;

       + Nhận lời khấn của các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên tại Đàng Trong;

       + Phong chức linh mục cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi;

       + Giải quyết những mâu thuẫn giữa các vị thừa sai thuộc Chế Độ Bảo Trợ với các vị Đại diện Tông Toà;

       + Gởi sứ điệp kêu gọi các Giáo đoàn hiệp nhất với nhau và phục quyền vị chủ chăn hợp pháp.

2. Tổ Chức Các Công Đồng Địa Phương

a. Công Đồng Ayutthaya

Trong thời gian hai Đức cha François Pallu và Pierre Lambert ở Thái Lan, các ngài đã tổ chức Công đồng Ayutthaya[16], khai mạc ngày 29.02.1664 với tám thành viên, gồm hai Giám mục, năm linh mục và một giáo dân.

Công đồng đã thảo luận và quyết định ba việc quan trọng, đó là:

+ Soạn thảo “Huấn Thị Gởi Các Thừa Sai”, còn gọi là Huấn Thị Ayutthaya hoặc Monita

+ Xây dựng chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông;

+ Lập Hội Tông Đồ gồm các thừa sai và giáo dân.

b. Công Đồng Phố Hiến

Trong chuyến kinh lý Đàng Ngoài, ngày 14.02.1670, Đức cha Lambert triệu tập Công đồng Phố Hiến[17] gồm chính ngài, ba linh mục thừa sai và chín linh mục Việt Nam. Nghị quyết gồm 34 điều với những điểm chính:

+ Ấn định vùng trách nhiệm cho mỗi linh mục bản quốc;

+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng;

+ Lập quỹ chung để trang trải các nhu cầu mục vụ và lo cho người nghèo;

+ Khuyến khích các linh mục bản xứ nuôi dạy các thiếu niên đạo đức để gởi vào chủng viện;

+ Kêu gọi các linh mục quản xứ quan tâm đặc biệt đến các nữ tu Mến Thánh Giá;

+ Khuyến khích giáo dân tập suy gẫm chung và riêng; đồng thời giới thiệu những người thích hợp vào Hiệp hội Mến Thánh Giá Tại Thế.

+ Quyết định nhận Thánh Giuse làm bổn mạng Giáo hội Đàng Ngoài.

c. Công Đồng Hội An

Trong chuyến kinh lý Đàng Trong, ngày 19.01.1672, tại Hội An[18], Đức cha Lambert khai mạc Công đồng với sự hiện diện của ba vị thừa sai Châu Âu, hai linh mục bản xứ và một số thầy giảng. Công đồng thông qua một nghị quyết gồm mười điều với những vấn đề chính như:

+ Công bố các sắc dụ của Toà Thánh về quyền bính các Đại diện Tông Toà mà mọi thành phần Dân Chúa phải tùng phục;

+ Xác định nhiệm vụ của các thầy giảng và ban Quý chức trong giáo xứ;

+ Nhắc lại một vài quy tắc về đời sống hôn nhân;

+ Kêu gọi tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin ra bên ngoài (điều này xây dựng niềm tin mạnh mẽ để lãnh phúc tử đạo sau này).

3. Xây Dựng Chủng Viện và Đào Tạo Linh Mục Bản Xứ

a. Xây Dựng Chủng Viện Ayutthaya

Việc đào tạo và thiết lập Hàng Giáo sĩ bản xứ là một trong những sứ mạng quan trọng mà Toà thánh mong đợi hai vị Giám mục thực hiện ở miền truyền giáo Viễn Đông.

Công đồng Ayutthaya (1664) đã quyết định thành lập một chủng viện chung cho cả vùng Viễn Đông nhằm đào tạo các ứng sinh linh mục tương lai do các nước trong khu vực này gởi về.

Năm 1665, Đức cha Lambert đã tiến hành xây dựng một chủng viện tại Ayutthaya và bắt đầu chương trình đào tạo linh mục ngay khi hoàn tất[19]. Đây là nơi đào tạo nhiều linh mục Việt Nam sau này.

b. Thiết Lập Hàng Giáo Sĩ Địa Phương

Chỉ vài năm sau khi xây dựng chủng viện tại Ayutthaya, Đức cha Lambert đã phong chức linh mục cho các chủng sinh đầu tiên vào năm 1668, trong đó có cha Giuse Trang từ Đàng Trong qua (Cha Giuse Trang là linh mục người Việt đầu tiên). Sau đó vào tháng Sáu cùng năm, Đức cha truyền chức linh mục cho hai thầy giảng người Đàng Ngoài là Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ. Đầu năm 1669, sau một lần tìm cách sang Đàng Trong không thành, Đức cha Lambert truyền chức linh mục cho thầy Luca Bền, người Đàng Trong.

Vì không thể đến được Việt Nam, Đức cha Lambert luôn nhắc nhở các cha Tổng Đại diện, các vị thừa sai Tông toà phải quan tâm đến việc quy tụ và huấn luyện các thầy giảng, dạy tiếng Latinh, và chuẩn bị cho họ chịu chức linh mục. Các ngài thường chọn những thầy giảng xuất sắc và gởi sang Thái Lan cho Đức cha Lambert phong chức linh mục.

Nhân chuyến viếng thăm Đàng Ngoài, tháng 01.1670, Đức cha Lambert phong chức linh mục cho bảy thầy giảng trên chiếc thuyền được coi như nhà thờ Chánh Tòa.

Cũng vào dịp đi kinh lý Đàng Trong lần thứ hai, ngài cũng phong chức cho thầy Louis Đoan tại Quảng Ngãi vào ngày 21.03.1676. Cha Louis Đoan được xem là tác giả cuốn Sấm Truyền Ca, viết bằng chữ Nôm năm 1670, với bút hiệu là Lữ Y Đoan.

Với việc phong chức linh mục cho các thầy giảng, Đức cha Lambert đã khai sinh ra hàng giáo sĩ Việt Nam, mở đầu cho bao thế hệ linh mục tiếp nối. Các linh mục là những trụ cột vững chắc của Giáo hội Việt Nam, là chỗ dựa tinh thần cho các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất[20].

4. Thành Lập Dòng Mến Thánh Giá

a. Hiệp Hội Nam Nữ Tín Hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa Chúng Ta

Sớm nhận ra vai trò chứng tá của người giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, Đức cha Lambert đã lập ra “Hiệp hội Nam Nữ Tín hữu Mến Thánh Giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” tại Ayutthaya, Thái Lan vào năm 1668, và tại Đàng Ngoài, Việt Nam vào năm 1669-1670. Mục đích của Hiệp hội là “để thôi thúc các tín hữu khắp nơi hướng tới tình yêu thực tiễn đối với Thánh giá Con Thiên Chúa” trong đời sống đạo đức của họ[21].

b. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Ngoài

Khi đến Đàng Ngoài, Đức cha Lambert được cha Deydier giới thiệu hai nhóm thiếu nữ và một số bà góa muốn sống chung với nhau, có thể tập hợp gần 30 người[22]. Họ đã được cha Deydier dạy dỗ hướng dẫn từ lâu trên đường nhân đức. Sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng, Đức cha quyết định thành lập Dòng Mến Thánh Giá, qua việc đích thân nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula tại Phố Hiến ngày 19.02.1670, và trao cho hai chị Bản Luật do ngài soạn thảo sẵn. Đó là ngày khai sinh Dòng Nữ Mến Thánh Giá Việt Nam[23].

c. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Đàng Trong

Tại An Chỉ - Quảng Ngãi, vào tháng 12.1671, Đức cha Lambert chính thức thành lập Dòng Nữ Mến Thánh Giá với mười chị tiên khởi (trong đó có em gái của cha Giuse Trang được đặt làm Bề trên đầu tiên; lúc ấy chị khoảng 30 tuổi). Ngài trao cho chị em một Bản Luật giống như ở Đàng Ngoài. Vì tình hình khó khăn, Đức cha cho phép các chị mặc thường phục như các phụ nữ địa phương[24].

Trong chuyến kinh lý lần hai, Đức cha đã tới thăm các chị em Mến Thánh Giá ở Quảng Ngãi và nhận lời khấn của bốn nữ tu tại Bàu Tây (Quảng Ngãi) vào ngày 13.12.1675 và một nữ tu thuộc nhà An Chỉ, ngày 18.12.1675[25].

d. Dòng Nữ Mến Thánh Giá tại Thái Lan

Năm 1672, tại Ayutthaya, Thái Lan, Đức cha Lambert lập một Dòng Mến Thánh Giá với 4 hay 5 nữ tu đầu tiên là Việt kiều gốc Đàng Trong[26].


(Xin xem phần tiếp theo tại đây)

Nguồn: Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (22/10/2021)

50