Sidebar

Thứ Năm
25.07.2024

Đức Maria và cuộc hành hương về thiên đàng của chúng ta

ionmary
 Bức linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại Nhà thờ Thánh Anna
(trước đây là Nhà thờ 
Byzantine Thánh Michael Tổng lãnh Thiên thần).
Adam Ján Figel’/AdobeStock


Hãy nhìn lên Đức Maria để Mẹ dẫn chúng ta đến với hoa trái của cung lòng Mẹ.

Công đồng Vaticanô II (1962-65) mô tả đời sống đức tin như một cuộc hành hương hướng về thiên đàng. Giáo Hội trên trần thế là một “Giáo Hội lữ hành” (Lumen Gentium, số 48 và 50) khi Giáo Hội du hành xuyên thời gian để đến cuộc sống vĩnh cửu trên Nước Trời. Công đồng dạy rằng

“những người đã chết với Người và sống lại với Người, đều được đón nhận vào các mầu nhiệm của cuộc đời Người, cho đến khi chúng ta cùng hiển trị với Người (x. Phil 3,21; 2Tm 2,11; Ep 2,6; Cl 2,12,...). Trên trần gian, vẫn như những người hành hương nơi một vùng đất xa lạ, lần theo những con đường Người đã đi trong thử thách và áp bức, chúng ta được nên một với những đau khổ của Người như thân thể làm một với đầu, cùng chịu đau khổ với Người, để cùng Người chúng ta cũng được vinh quang (x. Rm 8,17).” (Lumen Gentium, số 7)

Hình ảnh “những người hành hương nơi một vùng đất xa lạ” không phải là nguyên gốc của Công đồng Vaticanô II. Nó được tìm thấy trong một trong những điệp ca nổi tiếng nhất về Đức Mẹ thời Trung cổ, Salve Regina (Lạy Nữ Vương). Trong bài thánh ca về Đức Mẹ này, chúng ta kêu cầu Đức Maria, “Mẹ của Lòng Thương xót” (Mẹ nhân lành), như “những đứa con đáng thương bị đày ải của bà Evà” (con cháu Evà ở chốn khách đầy), và cầu xin rằng, “sau cuộc lưu đày này của chúng ta” (đến sau khỏi đày), Mẹ sẽ “cho chúng ta thấy hoa trái phúc lành” của cung lòng Mẹ là Chúa Giêsu (được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ).

Một số người Công giáo ngày nay có thể không xem cuộc sống trên trần gian này là “một cuộc lưu đày”, nhưng Công đồng Vaticanô II dạy rằng, “khi bị tội lỗi làm biến dạng, hình dạng của thế giới này sẽ qua đi” và “Thiên Chúa đang chuẩn bị một chốn cư ngụ mới và một cõi đất mới nơi công lý sẽ ngự trị” (Gaudium et Spes, số 39).

Trong cuộc hành trình xuyên thời gian đến cõi đời đời, chúng ta nên nhìn lên Đức Maria như người hướng dẫn vững chắc để dẫn chúng ta đến hoa trái của cung lòng Mẹ là Chúa Giêsu. Trong nhiều biểu tượng thời Byzantine - bao gồm cả Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp - Đức Trinh Nữ Maria được cho thấy đang ôm lấy Chúa Giêsu vào lòng và nhẹ nhàng chỉ hướng hoặc ra hiệu cho Người. Trong những biểu tượng này, Đức Maria được xác định là Hodegetria, người chỉ đường (hodos).

Trong bài suy niệm về Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 10 năm 2016, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về tầm quan trọng của Kinh Mân Côi, và ngài đã mô tả Đức Maria là Hodgetria: “Đức Maria đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc hành trình này khi chỉ hướng về Con của Mẹ, Đấng chiếu tỏa lòng thương xót của Chúa Cha. Mẹ thực sự là Hodgetria, Người Mẹ chỉ ra con đường mà chúng ta được mời gọi đi để trở thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu. Trong mỗi mầu nhiệm Mân Côi, chúng ta cảm nhận được sự gần gũi của Mẹ và chúng ta chiêm ngưỡng Mẹ như người môn đệ đầu tiên của Con Mẹ, vì Mẹ làm theo ý muốn của Chúa Cha (x. Lc 8,19-21).”

Mục đích của những cuộc hành hương

Trong khi toàn bộ cuộc đời của chúng ta có thể được hiểu như một cuộc hành hương, thì chúng ta cũng thường cảm thấy cần phải thực hiện những cuộc hành hương định kỳ đến các đền thánh hoặc những nơi linh thiêng. Trong Cựu Ước, có ba ngày lễ hành hương: Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều, còn được gọi là Lễ Lều Tạm (x. Xh 23,14-17 và Đnl 16,16). Tân Ước cũng làm chứng về những ngày lễ hành hương này (x. Lc 2,41-42; Ga 2,13; 5,1; 7; và Cv 2,1).

Các cuộc hành hương cũng nổi bật trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Người theo đạo Hindu thực hiện các chuyến hành hương đến nhiều con sông linh thiêng khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là sông Hằng. Bốn lần trong suốt 12 năm, hàng triệu người theo đạo Hindu tham gia vào lễ hội hành hương được gọi là Kumbh Mela, trong đó họ tắm trong những dòng sông thiêng để thanh lọc tâm hồn. Ở Nam Á, Phật tử hành hương tới những ngôi đền được cho là có xá lợi của Đức Phật. Ở Đông Á, Phật tử cũng hành hương đến những ngọn núi linh thiêng. Đối với người Hồi giáo, cuộc hành hương đến Mecca, hay còn gọi là hajj, một trong năm trụ cột của đức tin. Cuộc hành hương này được coi là nghĩa vụ thiêng liêng mà tất cả người Hồi giáo phải thực hiện nếu hoàn cảnh cho phép.

Từ góc độ nhân học, các cuộc hành hương đóng vai trò là hành trình đổi mới tinh thần và gắn kết cộng đồng. Đối với người Công giáo, những yếu tố con người này cũng hiện diện, nhưng mục tiêu sâu xa hơn là kết hợp với Thiên Chúa qua Chúa Kitô. Đức Trinh Nữ Maria, là “Mẹ của chúng ta trên bình diện ân sủng” (Lumen Gentium, số 61), đóng vai trò là người hướng dẫn ưu việt của chúng ta trong cuộc hành hương đức tin. Mẹ là Hodgetria của chúng ta, người chỉ đường đến với Người Con Chí Thánh của Mẹ và ngôi nhà vĩnh cửu của chúng ta.

Đức Maria, gương mẫu của những người hành hương

Đức Trinh Nữ Maria cũng là gương mẫu cho chúng ta trong cuộc hành hương hướng về thiên đàng. Công đồng Vaticanô II một lần nữa trong Lumen Gentium nói với chúng ta rằng “Đức Trinh Nữ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin của mình và trung thành kiên trì kết hợp với Con của Mẹ cho đến thập giá, nơi Mẹ đã đứng đó theo ý định của Thiên Chúa (x. Ga 19,25), đã đau khổ cùng cực với Người Con Một của Mẹ, đã dự phần vào hy tế của Con với cả tấm lòng hiền mẫu, và đã dùng trọn tình yêu chấp nhận hiến tế Lễ Vật do chính lòng mình sinh ra.” (số 58)

Đức Maria là mẫu gương cho tất cả chúng ta noi theo trong cuộc hành hương đức tin. Mẹ tiến bước trong cuộc hành hương đức tin đến tận thập giá, nơi Mẹ hiệp nhất với hy tế của Con mình. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi, theo cách riêng của mình, hiệp nhất với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Khi làm như vậy, chúng ta trở thành “những người thừa kế của Thiên Chúa và đồng thừa tự với Chúa Kitô, miễn là chúng ta cùng chịu đau khổ với Người để cũng được vinh quang với Người.” (Rm 8,17)

Đức Trinh Nữ Maria cũng là người hành hương Kitô giáo đầu tiên sau biến cố Truyền tin. Trong bài diễn văn tại Fatima vào tháng ngày 5 tháng 8 năm 2023, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói: “Chúng ta ở đây [với tư cách là những người hành hương], dưới cái nhìn từ mẫu của Đức Maria; chúng ta ở đây với tư cách là Giáo Hội, là Mẹ Giáo Hội. Hành hương là một điểm đặc biệt của Đức Maria, bởi vì người đầu tiên thực hiện chuyến hành hương sau biến cố truyền tin là Đức Maria. Ngay khi nghe tin người chị họ lớn tuổi của mình đang mang thai, Đức Maria đã khởi hành. Đó là một biến chuyển đầy tự do, vì Tin Mừng nói rằng Mẹ ‘đã ra đi một cách vội vàng’; nhưng chúng ta có thể nói rằng Mẹ đã lên đường, đã hăng hái chạy đến để giúp đỡ và hiện diện.”

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhận xét rằng cuộc hành hương của Đức Maria là một điều phát xuất từ ý muốn giúp đỡ đối với người chị họ của Mẹ là bà Elizabeth. Đức Maria mang thai Chúa Giêsu trong chuyến hành hương đến bà Elizabeth. Là Hòm bia Giao ước mới, Đức Maria cưu mang Chúa Giêsu trong lòng mình. Mẹ đã trở nên trung gian về sự hiện diện của Chúa Kitô cho bà Elizabeth, người con của bà là Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng trong lòng bà (x. Lc 1,44) giống như vua David đã nhảy múa vui mừng trước Hòm bia Giao ước (x. 2 Sm 6,14).

Khi các linh mục đồng hành cùng các tín hữu trong các chuyến hành hương, các ngài cũng làm trung gian cho sự hiện diện của Chúa Kitô, đặc biệt qua Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể.

Những đền thánh Đức Mẹ

Đức Maria không chỉ là người hướng dẫn mà còn là gương mẫu cho những người hành hương. Mẹ cũng đóng vai trò như một thanh nam châm thu hút những người hành hương tìm đến tình mẫu tử của Mẹ. Qua nhiều thế kỷ, người Công giáo đã thực hiện các cuộc hành hương đến Thánh Địa, đến Rôma, đến đền thờ các vị tử đạo và các thánh. Trong nhiều thế kỷ qua, các đền thánh Đức Mẹ - đặc biệt là những đền thờ gắn liền với các cuộc hiện ra của Đức Mẹ - đã trở thành địa điểm ưa thích cho các cuộc hành hương. Thầy John M. Samaha, SM, đã lưu ý: “Trong thế giới Công giáo ngày nay, khoảng 80% các đền thờ được cung hiến cho Đức Maria. Hàng năm, đại đa số những người hành hương đều đến các đền thánh Đức Mẹ” (“Ơn gọi của các Đền thánh”, Tạp chí Homiletic and Pastoral, Ignatius Press [tháng 8-tháng 9 năm 1998]: trang 70-73).

Tiến sĩ William A. Thomas, một nhà Thánh Mẫu học người Ireland, đã thu thập thông tin về các đền thánh Đức Mẹ trên khắp thế giới trong thập kỷ qua. Nhiều đền thờ như thế đã được trình bày với lịch sử và hình ảnh ngắn gọn trong tác phẩm bốn tập của ông, “Bản tóm tắt các đền thánh Đức Mẹ đích thực trên thế giới”.

Số lượng khách hành hương viếng thăm các đền thánh Đức Mẹ chứng tỏ tình yêu lớn lao mà các tín hữu dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Khoảng 20 triệu người hành hương đến thăm Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Guadalupe hàng năm; khoảng 6 triệu người đến Lộ Đức; 6 cho đến 8 triệu người đến Fatima; 5 triệu người đến Czestochowa ở Ba Lan; 5 triệu người đến Aparecida ở Brazil. Ở Ấn Độ, Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Sức khỏe ở Vailankanni - hay Velankanni - được khoảng 20 triệu người hành hương đến viếng mỗi năm, nhiều người trong số họ là người theo đạo Hindu và đạo Hồi. Được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi là “Lộ Đức của Phương Đông” (Huấn dụ kinh Truyền Tin ngày 31 tháng 7 năm 1988), đền thờ Vailankanni là nơi chữa lành và an ủi. Nó kỷ niệm một số cuộc hiện ra và phép lạ của Đức Maria vào thế kỷ XVI (x. Anto Anakkara, “Đền thờ Đức Mẹ Vailankanni ở Ấn Độ: ‘Lộ Đức của Phương Đông,’” National Catholic Register, ngày 6 tháng 3 năm 2023).

 

doivuongmieng
Hình ảnh về Cuộc đăng quang của Đức Trinh Nữ Maria
tại Nhà nguyện Đức Maria Nữ Vương Thiên Đàng ở Josipovo, Croatia. AdobeStock


Chúng ta có thể thắc mắc tại sao các đền thánh Đức Mẹ lại trở thành điểm đến phổ biến cho những người hành hương Công giáo. Tôi nghĩ đó là vì người Công giáo nhận thức rằng Đức Maria đã được Chúa Kitô trên thập giá trao phó làm Mẹ các tín hữu (x. Ga 19,26-27). Trong thông điệp Adiutricem (Đấng trợ giúp) năm 1895, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII xem hồng ân về Đức Maria là dấu chỉ tình yêu cao cả của Chúa Kitô dành cho chúng ta: “Mầu nhiệm tình yêu bao la của Chúa Kitô đối với chúng ta được mạc khải một cách huy hoàng trong biến cố Đấng Cứu Thế lúc hấp hối đã trao lại Mẹ của Người cho người môn đệ Gioan trong chúc ngôn đáng ghi nhớ: ‘Này là Mẹ con.’ Giờ đây, nơi Thánh Gioan, như Giáo Hội đã không ngừng dạy, Chúa Kitô cũng trao phó toàn thể nhân loại, và trước tiên là những người được liên kết với Người nhờ bởi đức tin.” (số 6)

Chúa Giêsu biết rằng chúng ta cần Mẹ của Người để giúp dẫn chúng ta đến với Người và quê hương trên trời của chúng ta. Những cuộc hiện ra của Đức Maria tại Guadalupe, Lộ Đức, Fatima và những nơi khác có thể được coi là những biểu hiện của tình yêu và sự chuyển cầu liên tục của Đức Mẹ dành cho con cái thiêng liêng của Mẹ trên trần gian. Công đồng Vaticanô II dạy rằng khi Đức Maria được đưa lên trời, Mẹ đã không từ bỏ “vai trò trong công cuộc cứu độ” của mình. Thay vào đó, “nhờ sự chuyển cầu liên tục của mình [Mẹ] tiếp tục mang đến cho chúng ta hồng ân cứu độ đời đời. Bằng tình yêu từ mẫu, Mẹ chăm sóc những người anh em của Con Mẹ, những người vẫn đang lữ hành nơi trần thế, bị vây quanh bởi những hiểm nguy và khó khăn, cho đến khi họ được dẫn vào hạnh phúc nơi quê hương đích thực của mình.” (Lumen Gentium, số 62)

Những cuộc hành hương đến các đền thánh Đức Mẹ thể hiện ý thức sâu sắc về sự chăm sóc từ mẫu của Đức Mẹ, đặc biệt đối với những người đang trải qua bệnh tật và khó khăn.

Trong thông điệp Le Pèlerinage de Lourdes (Cuộc hành hương Lộ Đức) năm 1957, Đức Piô XII nhớ lại cuộc hành hương năm 1935 của ngài tới đền thánh Đức Mẹ nổi tiếng này: “Có cuộc rước kiệu đầy cảm động của những người thấp hèn, bệnh tật và đau khổ. Có cuộc hành hương đầy ấn tượng của hàng ngàn tín hữu từ một giáo phận hoặc quốc gia nào đó. Có chuyến viếng thăm lặng lẽ của một tâm hồn đầy lo lắng đang tìm kiếm sự thật. ‘Chưa có ai,’ chúng tôi từng nói, ‘từng chứng kiến ​​một cuộc rước kiệu đầy đau khổ như vậy tại một nơi trên trái đất, chưa bao giờ có ánh hào quang của hòa bình, thanh thản và niềm vui như vậy!’” (số 13).

Tại các đền thánh Đức Mẹ, những người hành hương đến là những người thấp hèn, bệnh tật và đau khổ. Giữa những nỗi khốn cùng này, một sự hiện diện của tình mẫu tử lại làm lan tỏa “sự bình an, thanh thản và niềm vui”. Khi những người hành hương đến các đền thánh Đức Mẹ, họ biết Mẹ của mình đang hiện diện - ngay cả khi Mẹ không bao giờ nói một lời nào, chẳng hạn như tại Knock ở Ireland. Nhưng những lời của Đức Mẹ Guadalupe vang lên cũng đúng với tất cả những người hành hương đến với Đức Mẹ: “Chẳng phải Ta là Mẹ của các con đang ở đây sao?” Chúa đã ban cho chúng ta người mẹ của Người để giúp hướng dẫn chúng ta trên chuyến hành hương của cuộc đời. Đó là lý do tại sao chúng ta xin Mẹ cầu bầu “bây giờ và trong giờ lâm tử”.

..............................................................

Đức Maria chỉ đường cho chúng ta

“Chúng tôi muốn giới thiệu Mẹ của Chúa Kitô như một người lữ hành trong đức tin. Với tư cách là Thiếu nữ Sion, Mẹ bước theo bước chân của Abraham, người đã vâng phục bằng đức tin, ‘[đi] đến nơi ông sẽ nhận làm gia nghiệp; người ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11,8). Biểu tượng cuộc hành hương trong đức tin này soi sáng lịch sử nội tâm của Đức Maria, người tín hữu tuyệt hảo.” (số 1) - Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tiếp kiến chung, 21/03/2001

..............................................................


Tác giả: Robert Fastiggi* - Nguồn: The Priest (16/6/2024)
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

-------------------------

* Tiến sĩ Robert Fastiggi là giáo sư thần học hệ thống tại Đại Chủng viện Thánh Tâm ở Detroit. Ông là cựu chủ tịch Hiệp hội Thánh Mẫu học Hoa Kỳ.

93    19-06-2024