II. THỬ ĐỌC LẠI CÂU CHUYỆN TỪ LĂNG KÍNH SỨ MẠNG

 

Nhìn lại 60 năm qua, hẳn không ai phủ nhận mối tương quan với thể chế Cộng sản là yếu tố chi phối sâu rộng nhất đến đời sống và sứ mạng của Giáo hội Công giáo ở đất nước này. Nhưng cánh đồng sứ mạng ở đây không chỉ bao gồm thể chế và con người Cộng sản, mà trước hết đó là cộng đồng dân tộc Việt Nam, một cộng đồng với những nét đặc trưng trong bản sắc văn hóa và tín ngưỡng của mình, cũng như với tình trạng nghèo là hiện thực xã hội ngay cả hôm nay. Chính qua mối tương quan với các thực tại ấy mà sứ mạng của Giáo hội Việt Nam cần được khảo sát.

 

1. Công giáo và Cộng sản

 

Đây là mối quan hệ đầy gai góc, bắt nguồn từ sự xung khắc ý thức hệ và niềm tin. Sau năm 1945, khi người Công giáo nhận diện được người Cộng sản thì thái độ chính thức là lên án và tẩy chay, theo sự hướng dẫn rõ rệt của Huấn Quyền trong thời kỳ này.[14] Cuộc di cư rầm rộ hồi 1954 rõ ràng là một cuộc chạy trốn (hay tị nạn) Cộng sản. Nếu Giáo hội miền Bắc những năm sau đó phải cố gắng để tồn tại trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thì giai đoạn 1975-1990 cả Giáo hội ở miền Nam cũng thấy mình nằm trong quỹ đạo ấy. Thế nhưng, cần mở ngoặc ở đây rằng trong nhãn quan sứ mạng thì sự việc Giáo hội ‘chỉ cố sao để tồn tại’ là một điều bất thường! Trong khi đó, cũng từ nhãn quan sứ mạng, người ta chất vấn cả Giáo hội ở miền Nam trước 1975 nữa, dù ‘không Cộng sản’ nhưng vẫn có những vấn đề do chính sự thân thiết với thế quyền và do thế lực có được nhờ sự thân thiết ấy.[15] Rồi ba thập niên gần đây, trong bối cảnh xã hội ‘đổi mới và hội nhập’, đời sống và sinh hoạt Công giáo được nới lỏng hơn đáng kể so với trước kia, thì người ta vẫn có nhiều điều để chất vấn Giáo hội trong quy chiếu đến bản chất sứ mạng Kitô giáo.[16]

 

Cũng cần lưu ý, với Công đồng Vatican II (1962-1965), Giáo hội không còn tập trung quyết liệt lên án Cộng sản vô thần nữa, thay vào đó là sự nhấn mạnh phải phân biệt giữa chủ thuyết và con người. Giáo hội bày tỏ sự tôn trọng và chọn thái độ cởi mở đối thoại với mọi người, không loại trừ người Cộng sản vô thần (x. Lumen gentium 16; Gaudium et spes 21). Hướng đi này của Công đồng ảnh hưởng trên các giám mục, như người ta thấy ngay từ năm 1973, trong “Thư gửi toàn thể giáo hữu Công giáo Việt Nam”, các giám mục miền Nam đã tỏ ra bớt gay gắt với chế độ Cộng sản. Rồi trong Tuyên Ngôn đầu năm 1974, các ngài kêu gọi chính phủ hai miền Nam Bắc chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn và hướng đến hòa hợp hòa giải dân tộc.[17] Tiếc rằng sau 1975, cuộc chiến kết thúc nhưng những diễn biến tiếp theo cho thấy sự hòa hợp hòa giải không diễn ra, dù về phần mình các mục tử Giáo hội đã sẵn sàng chọn thái độ tôn trọng và đối thoại.

 

Ở đây có một dữ kiện lịch sử đáng được nhắc lại, đó là việc chọn ở lại sống trong thể chế Cộng sản - dù khó khăn đến mấy - đã từng được xác lập bởi Bản Quyền một số giáo phận miền Bắc ngay khi cuộc di cư 1954 đang diễn ra. Ở giáo phận Hà Nội, chẳng hạn, điều này được quy định minh bạch đối với các giáo sĩ, chỉ trừ một số ngoại lệ. Trong hồi ký của mình, Đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng đặt câu hỏi “Hàng giáo sĩ đi Nam có lợi hay có hại?”, và ngài quy chiếu đến sứ mạng theo Tin Mừng để đưa ra một phân tích sâu sắc về sự kiện rất tế nhị này. Để kết luận, vị giám mục nêu quan điểm như sau: (1) Ở lại miền Bắc để gắn bó với đoàn chiên, đó là tinh thần của Chúa Giêsu mục tử; (2) Ai vì khó khăn không thể ở lại được hoặc theo lương tâm, xét mình khó đứng vững trong môi trường nghịch với đạo, người đó có thể rút đi, nhưng nên trình bày với Bề Trên trước khi quyết định; (3) Mục tử nào ra đi cách vô trật tự, theo lợi riêng cho mình, gây thiệt hại cho giáo xứ mà mình được trao phó, thiệt hại cho các linh hồn, thì phải chịu trách nhiệm về điều đó.[18]

 

Chính trong thái độ căn bản ấy mà xung quanh biến cố 30.4.1975, không một giám mục nào ở miền Nam rời bỏ đất nước và đoàn chiên của mình. Thể chế Cộng sản không phải là lý do để Giáo hội buông rơi sứ mạng, ngay cả trường hợp tệ nhất khi mà sứ mạng chỉ còn là sự hiện diện. Vâng, một sự hiện diện sống động của men Tin Mừng thì khác với tình trạng chỉ ‘tồn tại’. Bởi mục tiêu của sứ mạng Giáo hội thì lớn hơn chính bản thân Giáo hội! Trong cái nhìn này, thể chế Cộng sản không chỉ là một thách đố mà còn có thể được thấy là một cơ hội![19]

 

2. Công giáo và truyền thống dân tộc

 

Năm 1980, khi chọn đường hướng “đồng hành với dân tộc” bằng cách “tích cực xây dựng và bảo vệ tổ quốc” cũng như “xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp hơn với truyền thống Việt Nam”, dường như các giám mục có ít nhất hai lý do. Thứ nhất, bởi vì đó là nẻo đường có triển vọng để xây dựng một tương quan tích cực hơn giữa người Công giáo với chính quyền. Thứ hai, điều đáng nói ở đây, bởi vì các ngài nhìn nhận rằng cộng đồng Công giáo vẫn còn xa lạ mức nào đó với tình tự dân tộc, do đó cần xóa bớt khoảng cách và hòa nhập nhiều hơn.

 

Trước hết, về lịch sử, tưởng cần nhắc lại “cuộc tranh cãi về nghi thức Trung Hoa” hồi đầu thế kỷ 17 là một bài học xương máu cho sứ mạng của Giáo hội. Phải mất ba thế kỷ, Giáo hội mới chấp thuận cho người Công giáo Trung Hoa (từ 1939) và Việt Nam (từ 1964) có những thực hành tôn kính tổ tiên. Thật không ngạc nhiên khi nhiều bà con lương dân ngày nay vẫn còn nghĩ rằng “theo đạo là bỏ ông bà”.[20] Quả thật, phải nhận rằng kiểu thức sứ mạng ‘trồng Giáo hội’ (church planting) được các thừa sai Tây phương áp dụng qua các thế kỷ đã hình thành một cộng đồng Công giáo Việt Nam với những nét ngoại lai bàng bạc trong một số lĩnh vực đời sống. Thế rồi cái nhãn ‘ngoại lai’ ấy, vốn được mặc nhiên coi như một ‘tội’ của người Công giáo vào thời các vua chúa trước đây, rất tiếc vẫn còn tiếp tục bị khai thác cách hồ đồ trong truyền thông và cả trong hệ thống giáo dục, gieo rắc sự nghi ngờ và thiếu thiện cảm đối với người Công giáo. Đây là một thách đố cho người Công giáo Việt Nam, thúc đẩy việc thanh lọc một số nét ‘ngoại lai’ không cần thiết, và nhất là vượt qua cái kiểu thức ‘trồng Giáo hội’ trong sứ mạng ad gentes và trong nền mục vụ của mình.[21] Chiều hướng này ngày nay gọi là hội nhập văn hóa và đối thoại tôn giáo.[22]

 

Thực tế, kể từ Công đồng Vatican II, và với cảm hứng ‘đối thoại ba mặt’ (triple dialogue) của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu, Công giáo ở Việt Nam dù giữa bao khó khăn vẫn có một số cố gắng hội nhập văn hóa - trong Phụng vụ cũng như trong các lãnh vực đời sống và hoạt động tông đồ. Ngày nay, xu thế đổi mới và hội nhập của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa nguyên văn hóa cũng là một đà thúc đẩy người Công giáo Việt Nam hòa nhập hơn vào đời sống xã hội xung quanh mình. Công giáo ngày càng bớt tính ‘ốc đảo’ so với những thế kỷ trước, ngay cả so với những thập niên trước đây. Các giáo xứ thành thị cũng như thôn quê bây giờ ít ‘toàn tòng’ hơn. Và dù muốn hay không, các cuộc hôn nhân khác đạo ngày càng tăng nhiều. Những điều này rõ ràng vừa là cơ hội vừa là thách đố. Trong Giáo hội Việt Nam nhiều người bắt đầu nói về ‘missio inter gentes’, là một đúc kết nhãn quan thần học sứ mạng của FABC, trong đó Giáo hội tại lục địa này nhìn nhận mình là thiểu số ở giữa đại dương lương dân, và được kêu gọi làm muối làm men từ bên trong đại dương ấy.

 

Mặt khác, nói về cái tai tiếng ‘ngoại lai’ (mà đôi khi người Công giáo bị gán một cách võ đoán) và nói về việc hội nhập với truyền thống dân tộc, thì cũng phải nói đến một cạm bẫy luôn tiềm ẩn ở tầm sâu, đó là chủ nghĩa dân tộc. Với ký ức về những kinh nghiệm bi thảm của thời thực dân và của cuộc chiến ‘giành độc lập dân tộc’, rồi với bối cảnh dư luận xã hội hiện nay đang nói nhiều về ‘hiểm họa Trung quốc’, trong một thế giới với xu thế lên ngôi của những hình thức chủ nghĩa dân tộc nào đó,[23] thì sứ mạng Kitô giáo cần phải tỉnh táo để trong khi đề cao lòng yêu nước cách chuẩn mực, vẫn không rơi vào cái bẫy của một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan.[24] Bởi Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô là Tin Mừng phổ quát, và Giáo hội có chỗ cho mọi dân tộc.

 

3. Công giáo và người nghèo

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô tiên vàn là Tin Mừng cho người nghèo (x. Lc 4,18tt.). Nhưng ý nghĩa giải phóng của sứ mạng Kitô giáo không chỉ nhận lý do của nó từ cơ sở Thánh Kinh và thần học mà thôi, đó còn là sự đáp trả trước hiện thực xã hội nữa. Hơn ba thập kỷ ‘đổi mới và hội nhập’, Việt Nam có những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng, nhưng tình trạng bất bình đẳng - tức khoảng cách giàu nghèo - cũng gia tăng một cách nhức nhối. Con số người siêu giàu và con số người thuộc nhóm nghèo nhất đều đang gia tăng, gây ra sự phân cực.[25] Hệ quả trực tiếp là khoét sâu thêm sự bất bình đẳng về cơ hội, tạo nên cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Dễ nhận thấy nhất là khoảng cách thăm thẳm về mức sống giữa dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số, giữa thành thị và nông thôn. Trong những năm qua, rất nhiều giáo xứ nông thôn nghèo trên mọi miền đất nước đã mất dần các thế hệ trẻ của mình do hiện tượng đổ xô đến làm ăn sinh sống và định cư tại các thành phố lớn; và hiện tượng này không hề có dấu hiệu sẽ đảo chiều.

 

Thực trạng nghèo của đa số dân chúng và các hệ quả của nó trực tiếp thách đố sứ mạng của Giáo hội, nhất là thách đố cái kiểu thức sứ mạng từng được mệnh danh là ‘cứu linh hồn’ (soul saving) xem ra vẫn còn vương vấn trong tâm thức nhiều mục tử và tín hữu Công giáo Việt Nam. Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô là Tin Mừng giải phóng con người toàn diện, chứ không phải chỉ dành cho ‘phần hồn’ của người ta! Thực ra, đã có những dấu hiệu cho thấy Công giáo Việt Nam đang cố gắng - dù khó khăn và chậm chạp - để vượt qua cái tâm thức ấy và dấn thân xã hội một cách cụ thể hơn, như Thư Chung hậu Đại hội Dân Chúa (2011) của HĐGMVN đã đề cập (x. số 41). Đặc biệt, ngay từ trước đó hơn mười năm, các giám mục đã tuyên bố mạnh mẽ rằng:[26]

 

Chỉ một Giáo hội nghèo mới có thể dấn thân vào đại dương những người nghèo. Một Giáo hội khiêm tốn và bé nhỏ sẽ dễ dàng hơn để hòa đồng với đa số người nghèo. Một Giáo hội không có quyền lực sẽ dễ gần gũi số đông những người chỉ mơ ước được làm người, được cơm no áo ấm, được học hành và có việc làm… Đã đến lúc cần sáng tạo ra những ‘mô hình’ mới của Giáo hội như là những cộng đồng nhỏ bé, dễ hòa mình vào xã hội của người nghèo: những cộng đồng nghèo hơn, ít bề thế, ít cồng kềnh, khiến người ta không còn e dè sợ hãi khi tiếp cận, gặp gỡ, những cộng đồng mở ra hơn là khép kín. Sau cùng, đó là những cộng đồng quan tâm nhiều hơn đến đời sống toàn diện của con người, không chỉ khép kín trong đời sống thuần túy tôn giáo, nghĩa là trong việc cử hành bí tích hay phụng vụ, mà còn dấn thân trực tiếp vào việc cải thiện đời sống vật chất, nâng cao văn hóa và giáo dục cho người dân, nhất là những người nghèo… Đức Giêsu đã không rao giảng Tin Mừng chỉ bằng lời nói, mà Tin Mừng của Ngài là ‘người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, và người chết trỗi dậy’.

 

Như vậy, khi phác họa tầm nhìn về chính Giáo hội địa phương mình, các giám mục Việt Nam đã đồng thanh với FABC trong đường lối “ưu tiên chọn lựa người nghèo”, và nhất là trở thành “một Giáo hội nghèo của người nghèo”.[27] Điều này hàm chứa quyết tâm sẵn sàng dấn thân xã hội, để mỗi thành phần trong Giáo hội - bằng phương cách thích hợp - góp phần loại bỏ các nguyên nhân của tình trạng nghèo đói và khốn khổ nơi phần đông dân chúng, như nạn tham nhũng, bất công, yếu kém trong quản lý xã hội, thiếu tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền, tình trạng xâm hại môi trường sinh thái, vv…[28] Mối quan tâm và sự liên can chính mình theo cách phù hợp vào các lãnh vực đời sống để phát triển nhân bản toàn diện, đó là một phần không tách rời của sứ mạng Giáo hội. Nói tắt, ở đâu có nghèo đói và đau khổ, ở đó có thách đố và có tiếng gọi cho các môn đệ thừa sai của Đức Kitô (x. Gaudium et spes 1).

 

KẾT LUẬN

 

Cần phải xác lập và/hoặc hiệu chỉnh một tầm nhìn sứ mạng, đó là một trong những thông điệp nền tảng có thể rút ra từ giai đoạn lịch sử 60 năm qua của Giáo hội Việt Nam. Tầm nhìn ấy sẽ quy hướng về chính cốt lõi của sứ mạng theo Tin Mừng, là sứ mạng của Thiên Chúa (missio Dei) được Đức Giêsu Kitô thi hành, và được tiếp tục trao cho Giáo hội trong Thánh Thần.

 

Mục tiêu của sứ mạng là Nước Trời hay Triều Đại Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã hình dung, đã diễn tả bằng lời nói, việc làm và nhất là bằng toàn thể Mầu nhiệm của chính Người. Mục tiêu Triều Đại Thiên Chúa làm nên chiều kích đặc sủng của Giáo hội, còn chiều kích cơ chế Giáo hội chỉ có ý nghĩa là phương tiện để phục vụ cho cứu cánh này. Theo đó, sứ mạng của Giáo hội được đánh giá theo phẩm tính hơn là lượng tính, nó quy chiếu đến chiều sâu bên trong hơn là hình thức và tầm cỡ bên ngoài. Sứ mạng xây dựng Triều Đại Thiên Chúa luôn có thể và phải được đảm nhận, dù ở đâu, lúc nào và trong hoàn cảnh nào, thuận cũng như nghịch. Không phải mọi hoàn cảnh khách quan đều đáng ước mong, nhưng trong viễn ảnh Triều Đại Thiên Chúa thì mọi hoàn cảnh khách quan đều là cơ hội và là tiếng gọi - kể cả thể chế Cộng sản, thực tế đa nguyên văn hóa và tôn giáo, và thực trạng nghèo cùng với những nguyên nhân và hậu quả của nó.

 

Chính định hướng Triều Đại Thiên Chúa sẽ giúp Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam dẫn dắt cộng đoàn tín hữu xúc tiến những dự án hoán cải mục vụ đầy triển vọng nhằm đem lại sự chuyển hóa cần thiết trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đây là thao thức căn bản mà Đức thánh cha Phanxicô đã cưu mang và diễn tả ngay trong Tông huấn đầu tiên của ngài.[29]

 

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 121 (Tháng 11 & 12 năm 2020)


Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS

(hdgmvietnam.com 08.05.2021)