![]() |
| Trưng bày sách Đệ Nhị Luật: Bản sao của cuộn sách Đệ Nhị Luật 4Q41, một bản thảo cổ từ hang Qumran số 4 chứa Mười Điều Răn và có niên đại từ thế kỷ I trước Công nguyên. (ảnh: Bảo tàng Kinh Thánh / Cơ quan Cổ vật Israel) |
Ngoài những câu Kinh Thánh cổ xưa, một chiếc thuyền từ thế kỷ I “làm sống động các cảnh trong Tin Mừng” tại Bảo tàng Kinh Thánh.
Năm 1947, một người chăn dê Bedouin đang tìm kiếm con dê bị lạc đã ném một hòn đá vào một hang động gần Qumran, trên bờ biển phía tây bắc của Biển Chết. Thay vì tiếng đá va vào đá, ông nghe thấy tiếng đồ gốm vỡ. Bên trong là những chiếc chum đất sét cao, một số vẫn còn chứa các cuộn bản thảo.
Trong thập kỷ tiếp theo, các nhà khảo cổ học và các bộ lạc địa phương đã khai quật thêm các hang động. Hàng ngàn mảnh rời đã xuất hiện, đại diện cho hơn 900 cuộn giấy có niên đại từ khoảng năm 250 trước Công nguyên đến năm 68 sau Công nguyên. Chúng bao gồm các bản thảo Kinh Thánh cùng với những lời cầu nguyện, bài thánh ca, bình luận và các bản văn phản ánh những kỳ vọng về ngày tận thế được hình thành dưới thời cai trị của đế quốc Rôma.
Đây chính là những cuộn giấy Biển Chết.
Được viết trên giấy da và giấy cói, niêm phong trong các chum đất sét và cất giấu trong các hang động vắng vẻ, chúng chỉ tồn tại nhờ sự khô hạn, bóng tối và không được chú ý đến. Việc chúng vẫn còn đọc được sau hơn 2.000 năm và hiện đang được trưng bày tại Washington, D.C., vẫn là một trong những kỳ quan vĩ đại nhất của khảo cổ học.
Triển lãm “Cuộn giấy Biển Chết,” khai mạc ngày 22 tháng 11 tại Bảo tàng Kinh Thánh, đánh dấu kỷ niệm 75 năm ngày phát hiện ra các cuộn giấy. Triển lãm là một phần của cuộc trưng bày quốc tế được tổ chức với sự hợp tác của Cơ quan Cổ vật Israel, nhờ sự chăm sóc tỉ mỉ, nghiên cứu và vận chuyển các bản thảo mà công chúng mới có thể tiếp cận được những hiện vật này. Được trưng bày luân phiên thành ba đợt để bảo vệ các bản văn vốn dễ hư hỏng, cuộc triển lãm quy tụ các bản thảo cổ và các vật dụng từ đời sống hàng ngày trong thời kỳ Đền thờ thứ hai. Cùng nhau, chúng mời gọi du khách bước vào thế giới mà Kinh Thánh được viết, được nghe và được truyền lại - một thế giới đã định hình đức tin Do Thái giáo và sau này sẽ hình thành nền tảng của Kitô giáo.
![]() |
| Cảnh Biển Chết nhìn từ một hang động ở Qumran, nơi một số cuộn giấy được phát hiện. (Ảnh: Wikimedia Commons) |
Câu chuyện về sự phát hiện ra các cuộn giấy bắt đầu ở những nơi xa thư viện và phòng thí nghiệm, nhưng tầm quan trọng của chúng đối với đức tin và lịch sử thì thật rõ ràng.
“Cuộn giấy Biển Chết là những bản thảo quan trọng nhất được phát hiện trong lịch sử khảo cổ học,” Robert Duke, giám đốc phụ trách bảo tàng và giám đốc Sáng kiến Học giả tại Bảo tàng Kinh Thánh, cho biết.
Kinh Thánh trước khi có quy điển
Trước khi được phát hiện, các bản thảo tiếng Do Thái hoàn chỉnh sớm nhất của Cựu Ước là bản Masoretic, có niên đại từ thế kỷ thứ IX và X sau Công nguyên. Các cuộn giấy được phát hiện đã đẩy lịch sử của bản văn Kinh Thánh lùi lại gần một nghìn năm, vào những thế kỷ ngay trước Công nguyên. Khi các học giả so sánh chúng với các bản văn tiếng Do Thái sau này, sự khác biệt tương đối nhỏ. “Chúng cho thấy việc sao chép cẩn thận các bản văn cẩn thận trong suốt một thiên niên kỷ,” Duke nói với tờ Register.
Đối với người Công giáo, sự liên tục đó rất quan trọng. Giáo hội từ lâu đã dạy rằng mặc khải của Thiên Chúa đã được giao phó cho bàn tay con người trong dòng chảy lịch sử. Như Hiến chế Dei Verbum của Công đồng Vaticanô II giải thích, Kinh Thánh không được đọc thành từng câu từng chữ một cách máy móc hay được bảo tồn một cách ngẫu nhiên mà được truyền lại một cách trung thành bởi một cộng đồng ý thức được trách nhiệm của mình. Cuộn giấy Biển Chết cung cấp bằng chứng vật chất về sự tin tưởng đó. Rất lâu trước khi quy điển Kinh Thánh được định hình chính thức, những bản văn này đã được sao chép, lưu giữ và tôn kính như những tác phẩm thánh thiêng.
Ý nghĩa của các cuộn giấy vượt xa bất kỳ truyền thống tôn giáo nào. Đối với các nhà sử học và khảo cổ học, chúng cung cấp một cái nhìn chưa từng có về đời sống của người Do Thái dưới thời cai trị của Hy Lạp và Rôma. Đối với cả người Do Thái và Kitô hữu, việc phát hiện ra hàng trăm bản thảo cổ xưa của Kinh Thánh khẳng định tầm quan trọng của những bản văn này đối với đời sống tôn giáo từ rất lâu trước khi những sự chia rẽ sau này xuất hiện.
![]() |
| Nhà khảo cổ học kiêm giáo sư người Israel Eleazer Sukenik đang kiểm tra một trong những cuộn giấy Biển Chết vào năm 1951. (Ảnh: Khoa Khảo cổ học, Đại học Hebrew, Giêrusalem, thuộc Thư viện Quốc gia Israel, bộ sưu tập Schwadron.) |
Đợt trưng bày đầu tiên bao gồm các mảnh rời từ Sách Sáng thế, Thánh vịnh, Gióp, Đệ Nhị luật và các quyển Kinh Thánh khác, cũng như một số tác phẩm không thuộc Kinh Thánh được lưu hành song song khác. Hầu như mọi quyển trong Kinh Thánh Do Thái giáo đều được tìm thấy trong số những phát hiện ở Qumran, ngoại trừ sách Étte và Nêhêmia.
Thánh vịnh nổi bật hơn cả. Các bản sao của sách Thánh vịnh tạo thành nhóm bản thảo lớn nhất được tìm thấy trong các hang động của cuộn giấy Biển Chết, với 39 bản còn tồn tại có niên đại từ khoảng năm 150 trước Công nguyên đến năm 68 sau Công nguyên. Một cuộn giấy được trưng bày là bản thảo các Thánh vịnh quan trọng nhất từng được tìm thấy, bảo tồn hơn 50 Thánh vịnh. Thứ tự của nó khác với các phiên bản hiện đại, bao gồm một số bài Thánh vịnh không có trong Kinh Thánh Do Thái ngày nay. Xuyên suốt cuộn giấy, tên bốn chữ của Thiên Chúa (YHWH - Giavê) được viết bằng chữ paleo-Hebrew (chữ viết cổ của người Israel).
“Các Thánh vịnh là những bản văn được bảo tồn tốt nhất,” Duke giải thích. “Chúng ta có nhiều bản sao sách Thánh vịnh hơn bất kỳ cuốn sách nào khác.”
Sự phong phú đó phản ánh vai trò trung tâm mà các Thánh vịnh đóng góp trong đời sống cầu nguyện của người Do Thái. Bên cạnh các Thánh vịnh trong Kinh Thánh, triển lãm còn bao gồm các bài thánh ca do chính cộng đồng Qumran sáng tác. Một bài lặp lại câu quen thuộc, “Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa.” Ảnh hưởng của chúng rất rõ ràng. “Họ không định hình nên các Thánh vịnh,” Duke nói. “Các Thánh vịnh đã định hình nên họ.”
Khoa học gặp gỡ lịch sử đức tin
Phần lớn tác động của cuộc triển lãm đến từ cách Kinh Thánh được đặt trở lại vào cuộc sống hàng ngày. Đèn dầu đã bị xỉn màu vì sử dụng, bình chứa, bát đĩa đã mòn nhẵn vì cầm nắm, mảnh vải lanh, dụng cụ và tiền xu cho thấy bối cảnh mà các Thánh vịnh được đọc lên và Lề luật được nghiên cứu. Kinh Thánh được ghi nhớ và được thêu dệt vào các thói quen thường nhật.
Mặc dù các cuộn giấy được phát hiện hơn 75 năm trước, nhưng triển lãm cho thấy vẫn còn rất nhiều điều cần học hỏi từ chúng. Những bức ảnh đầu tiên từ những năm 1950 cho thấy các nhà nghiên cứu và các linh mục đã cầm những cuộn giấy bằng tay không, đôi khi có điếu thuốc lá đang cháy gần đó. Ngày nay, các bản thảo được bảo vệ với ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm được kiểm soát cẩn thận.
Phân tích hiển vi và quang phổ, phương pháp xác định niên đại bằng carbon-14 và xét nghiệm DNA trên giấy da giúp các học giả hiểu được cách thức tạo ra các cuộn giấy và nguồn gốc vật liệu của chúng. Vì các cuộn giấy cực kỳ mỏng manh, nên công nghệ hiện đại ngày nay hỗ trợ rất nhiều trong việc nghiên cứu chúng. Công nghệ hình ảnh tiên tiến và trí tuệ nhân tạo giúp các học giả phân tích hình dạng chữ viết, tái tạo các phần bị hư hỏng và hình dung các phần bản văn bị thiếu, những điều cho phép việc nghiên cứu cẩn thận mà không gây thêm hư hại.
![]() |
| Sách Sáng Thế. Dài 33cm; rộng 6cm; điểm rộng nhất ở giữa. (Ảnh: Geza Vermes) |
Như Duke giải thích, những công cụ này có thể giúp tái tạo lại hình dạng của một cuộn giấy hoàn chỉnh dựa trên chất liệu còn sót lại.
Một số bản thảo được trưng bày cho thấy độ chính xác mà các cuộn giấy đã được sao chép. Một mảnh rời của Cuộn giấy Đền thờ cho thấy chữ viết đồng đều đáng kinh ngạc, với những đường kẻ mờ vẫn còn nhìn thấy được bên dưới nét mực. “Họ không đặt chữ cái trên dòng kẻ như chúng ta làm ngày nay,” Duke giải thích. “Họ thực sự treo các chữ cái trên dòng kẻ.”
Để giúp khách tham quan hình dung cách những bản thảo này được sử dụng, cuộc triển lãm còn bao gồm một bản sao chính xác - một bản sao nguyên vẹn, kích thước thật - của một cuộn sách Đệ Nhị Luật chứa Mười Điều Răn. Bản gốc, được phát hiện trong Hang số 4 tại Qumran và có niên đại vào cuối thế kỷ I trước Công nguyên, quá dễ hư hỏng để trưng bày toàn bộ.
Không giống như hầu hết các cuộn Kinh Thánh khác, bản thảo này không lưu giữ toàn bộ một quyển sách. Thay vào đó, nó chứa đựng các đoạn trích chọn lọc từ sách Đệ Nhị luật, bao gồm cả Mười Điều Răn.
Nơi cầu nguyện và suy ngẫm
Kinh Thánh cũng được đặt trong những nơi mà nó được rao giảng. Trong số những hiện vật nổi bật nhất là Tảng đá Magdala, được phát hiện vào năm 2009 trong các cuộc khai quật một giáo đường Do Thái thế kỷ I ở Magdala, một thị trấn đánh cá trên bờ biển phía tây của Biển hồ Galilee. Khối đá vôi được chạm khắc này có thể được dùng làm vật dụng dành cho nghi lễ, trên đó đặt Kinh Torah và các cuộn Kinh Thánh khác, và mô tả Đền thờ Giêrusalem và các đồ vật của nó, cũng như điều mà nhiều học giả tin là hình chạm khắc đèn menorah (đèn bảy ngọn) của Đền thờ sớm nhất được biết đến trong giáo đường Do Thái.
![]() |
| Tảng đá Magdala, một khối đá vôi được chạm khắc từ thế kỷ I, được tìm thấy trong một cuộc khai quật tại giáo đường Do Thái, mô tả Đền thờ Giêrusalem và được nhiều học giả tin là tác phẩm chạm khắc đèn menorah của Đền thờ sớm nhất được biết đến trong giáo đường Do Thái. (Ảnh: Bảo tàng Kinh thánh) |
“Tảng đá Magdala giúp chúng ta hình dung về đời sống trong giáo đường Do Thái trông như thế nào trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu,” Duke nói. Mặc dù không được nhắc đến trực tiếp trong Tân Ước, Magdala là quê hương của Thánh Maria Mađalêna, một trong những người theo sát Chúa Giêsu nhất và là nhân chứng đầu tiên của sự Phục sinh. Tảng đá này neo giữ thế giới của Tin Mừng vào một điều gì đó vững chắc, nhắc nhở du khách rằng Kinh Thánh đã được rao giảng ở những nơi có thật dành cho những người có thật.
Gần đó là bản phục dựng một chiếc thuyền đánh cá từ thế kỷ I, thường được biết đến với tên gọi Thuyền Ginosar (hay “Thuyền Chúa Giêsu”), dựa trên những di vật được phát hiện vào năm 1986 khi một trận hạn hán làm cho mực nước của Biển hồ Galilêa bị hạ thấp. Mặc dù không liên quan trực tiếp đến Chúa Giêsu, nhưng chiếc thuyền lại có niên đại từ thời của Người và phản ánh loại thuyền được ngư dân trong vùng sử dụng. Dài hơn 8m (27ft), nó có thể chở một thủy thủ đoàn với quy mô nhỏ nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu bất chợt gặp bão.
![]() |
| Bản phục dựng một chiếc thuyền đánh cá thế kỷ I, thường được biết đến với tên gọi Thuyền Ginosar (hay "Thuyền Chúa Giêsu"), dựa trên những di vật được phát hiện ở Biển hồ Galilêa vào năm 1986. (Ảnh: Bảo tàng Kinh thánh) |
Vào thế kỷ I, Biển hồ Galilêa là trung tâm hoạt động dưới sự cai trị của đế quốc Rôma. Trong khi các thành phố như Tibêria phản ánh quyền lực của Rôma, thì đời sống truyền thống của người Do Thái vẫn tiếp tục ở các làng chài. Nhiều môn đệ của Chúa Giêsu là ngư dân, những người được rèn luyện bởi công việc vất vả này. Sau nhiều thế kỷ được bảo tồn trong lớp bùn của biển hồ, chiếc thuyền cần được khai quật cẩn thận và áp dụng các kỹ thuật bảo tồn tiên tiến. Được chế tạo từ cả gỗ địa phương và gỗ nhập khẩu, nó mang đến cái nhìn thoáng qua về thế giới lao động đằng sau những câu chuyện trong Tin Mừng.
Bốn mảnh gỗ nguyên bản từ chiếc thuyền thật được đặt kèm theo bản phục dựng. Đứng cạnh nó, kích thước trở nên rõ ràng. “Khi bạn nhìn thấy kích thước của chiếc thuyền,” Duke nói, “bạn có thể hình dung Chúa Giêsu và những người đánh cá đang cùng nhau cúi xuống lưới hoặc cảm nhận sự căng thẳng khi một cơn bão bất ngờ ập đến. Nó làm sống động những cảnh trong Tin Mừng theo cách mà chỉ có lời nói thì không thể diễn tả được.”
![]() |
| 4 mảnh gỗ nguyên bản từ chiếc thuyền Ginosar (hay "Thuyền Chúa Giêsu") hiện tại, được bảo tồn qua nhiều thế kỷ trong lớp bùn của biển hồ. (Ảnh: Bảo tàng Kinh thánh) |
Du khách cũng bắt gặp một tảng đá khổng lồ, nặng hơn 1.8kg (4.000 pound, từng là một phần của quần thể Bức tường phía Tây bị người Rôma phá hủy. Theo phong tục của người Do Thái, du khách được mời viết lời cầu nguyện và đặt chúng vào các khe hở của tảng đá, giống như họ đã làm ở Giêrusalem. Mỗi thứ Bảy, những lời cầu nguyện này được thu thập và cuối cùng được vận chuyển để đặt cùng với những lời cầu nguyện khác tại chính Bức tường phía Tây, liên kết lòng sùng kính hiện tại với thực hành cổ xưa.
Di sản chung xuyên thời gian
Các đợt trưng bày tiếp theo sẽ giới thiệu thêm những mảnh rời từ các cuộn giấy, bao gồm các đoạn trích từ sách Isaia, Tobia, Năm Toàn xá và cuộn lớn các Thánh vịnh. Việc trưng bày luân phiên các bản thảo giúp bảo vệ chúng, nhưng nó cũng phản ánh về cách thức phân mảnh mà chúng đến từ Israel, phụ thuộc vào sự gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Những cuộn giấy bền vững qua thời gian vì chúng được trân trọng. Chúng tồn tại vì chúng vẫn tiếp tục mang lại ý nghĩa.
Đối với người Kitô hữu, các cuộn giấy Biển Chết là nền tảng của đức tin trong lịch sử. Đây là những đoạn Kinh Thánh mà Chúa Giêsu đã từng biết đến. Chúng đã định hình lời cầu nguyện, bài giảng và sự hoàn tất của Người về mọi điều đã được tiên báo.
![]() |
| 2 cuộn giấy Biển Chết nằm nguyên vị trí trong hang động Qumran trước khi được các nhà khảo cổ học di dời để nghiên cứu. (Ảnh: Wikimedia Commons) |
Đối với du khách đến đến từ nhiều đức tin khác nhau, cuộc triển lãm mang đến cơ hội bước vào thế giới nơi Kinh Thánh được viết ra, lưu giữ và lắng nghe một cách cẩn thận. Giám đốc phụ trách bảo tàng Duke nhận xét rằng khảo cổ học có “cách thức tuyệt vời để minh họa Kinh Thánh,” giúp độc giả hiện đại “hiểu được bối cảnh, văn hóa và địa lý” của “thế giới trong bản văn.”
Theo nghĩa đó, các cuộn giấy không chỉ đơn thuần là hiện vật. Chúng là một cầu nối qua thời gian, là minh chứng cho sự chăm sóc và tính liên tục đã cưu mang Lời Chúa qua nhiều thế kỷ - một lời nhắc nhở về cách lịch sử và đức tin giao thoa trong cuộc sống thường nhật.
Tác giả: Gigi Duncan – Nguồn: National Catholiuc Register (27/12/2025)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên







