THẦN HỌC MỤC VỤ CHO DI DÂN: THÁCH ĐỐ VÀ CƠ HỘI

Trần Quốc Anh, SJ
Học Viện Dòng Tên – ĐH Santa Clara, Hoa Kỳ

Mục lục

Dẫn nhập

1. Tình Trạng của Người Di Dân

2. Giáo Hội và Di Dân

3. Thần Học Về Di Dân

     a. Imago Dei

     b. Visio Dei

     c. Missio Dei

4. Chăm Sóc Mục Vụ Cho Người Di Dân

     a. Thánh Lễ và Các Bí Tích

     b. Hoạt Động Văn Hoá, Giải Trí Lành Mạnh

     c. Tư Vấn, Giáo Dục và Chăm Sóc Sức

     d. Bảo Vệ trước Pháp Luật

Tạm Kết


Dẫn nhập

Có thể nói hiện tượng di dân không phải là điều mới lạ. Hơn 200000 năm trước loài người hiện đại (homo sapiens sapiens) từ lục địa Phi sang Cận Đông, rồi từ đó phân bố trên toàn thế giới. Trước khi biết chăn nuôi và trồng trọt, con người sống nhờ vào thiên nhiên qua việc săn bắn hái lượm, nên cuộc sống du mục di chuyển thường xuyên là điều tất yếu. Ngay cả sau khi đã hình thành nền các nền văn minh nông nghiệp bằng cuộc sống định canh định cư, không ít các nhóm người vẫn di chuyển chỗ ở từ vùng này sang vùng khác, để mưu cầu một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Nhưng trong thế kỷ 20 và 21 con số di dân càng ngày càng tăng vọt vì nhiều nguyên do: chiến tranh, tị nạn, đói kém, công ăn việc làm, tác động của thiên tai lũ lụt, ô nhiễm môi trường sống, v.v.  Không giống những đợt di dân của các thế kỷ trước, các phương tiện giao thông hiện đại, như tàu thuỷ, xe khách, xe lửa, máy bay, đã rút ngắn thời gian, tạo điều kiện cho việc di chuyển từ vùng này sang vùng khác được dễ dàng hơn. Ngoài ra các phương tiện truyền thông hiện đại: điện thoại, radio, TV, internet, cũng ít nhiều tác động trên tâm lý của người di dân, tạo nên các làn sóng di dân hiện nay. Theo thống kê của các tổ chức quốc tế đặc trách di dân, người lao động và tị nạn, hiện nay có hơn 232 triệu di dân quốc tế (UN-DESA, 2013) và 740 triệu di dân nội địa (UNDP, 2009).[1]

Ở nước ta, dân tộc Kinh đã trải qua khá nhiều cuộc di cư. Từ thời Lý-Trần-Lê (thế kỷ 11-15), dân cư từ các vùng Thanh Hoá – Nghệ An vào lập nghiệp trên phần đất cũ của Chiêm Thành. Đặc biệt từ thế kỷ 17 về sau, có nhiều đợt di cư lập nghiệp từ miền Trung vào đến Biên Hoà/Gia Định. Càng về phương Nam, dân tộc Kinh càng phải thích nghi với những vùng đất mới và sống chung với các sắc dân khác – người Chăm, Khmer, Minh Hương (Hoa kiều). Trong những thế kỷ 17-19, do tác động của chiến tranh và các cuộc bắt đạo, người Việt còn di cư sang Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao và Trung Quốc.

Nội trong nửa sau của thế kỷ 20, miền Nam đã đón nhận hơn 2 triệu người Bắc di cư. Và từ 1975 đến nay, hàng triệu người Việt còn di cư ra nước ngoài dưới diện tị nạn hoặc đoàn tụ gia đình. Ngoài ra, tình hình kinh tế của Việt Nam gặp nhiều khó khăn sau 1975 dẫn đến việc xuất khẩu lao động trong thập niên 1980-1990 sang Liên Xô và Đông Âu (CHDC Đức, Tiệp, và Bungari), và từ năm 1995 đến nay, sang các quốc gia trong khu vực châu Á.

Tính cho đến năm 2012 đã có hơn 4 triệu người định cư và lao động nhập cư ở nước ngoài.[2] Ngoài những di dân vĩnh viễn, nhiều nhất là ở Bắc Mỹ, Úc, và Tây Âu, phần lớn đã nhập tịch vào nước sở tại, có khoảng 500.000 người lao động nhập cư, 1/3 trong số đó là phụ nữ, đang làm việc Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mã Lai, v.v.

Đó là chưa kể hàng triệu người từ các tỉnh phía Bắc vào miền Nam làm việc ở các khu công nghiệp Bình Dương, Đồng Nai do chính sách kinh tế thị trường sau thời kỳ Đổi Mới 1986.[3]  Sự tăng vọt theo cấp số nhân của di dân trong vòng 30 năm qua ở trong và ngoài nước mang lại nhiều thách đố trong việc phát triển kinh tế xã hội – trong đó có đời sống tâm linh, tôn giáo của những người nhập cư và tạm cư này.

Bài viết này phác hoạ một số thách đố và cơ hội cho công việc mục vụ cho người di dân Việt Nam từ một góc nhìn thần học. Có chăng một thần học cho người di dân? Và nếu có, thì những suy tư thần học này đóng góp gì cho công việc mục vụ di dân?

1. Tình Trạng của Người Di Dân

Mặc dù di dân bao gồm những người, vì nhiều lý do khác nhau, phải thay đổi nơi cư trú, tạm thời hay vĩnh viễn, bài viết này không nhắm đến những người tị nạn (refugees, assylum seekers), là những người bị buộc rời bỏ quê hương vì chiến tranh, chính sách trù dập, phân biệt kỳ thị về chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, v.v.  Bài viết này tập trung suy tư thần học về thân phận của những người di cư tự nguyện vì lý do kinh tế (economic migrants).

Khi nói đến di dân kinh tế, thường phân biệt giữa người tạm cư và người định cư vĩnh viễn. Hai nhóm người này có những nhu cầu xã hội và tâm linh khác nhau.

Những người tạm cư phần lớn là thanh niên, thanh nữ, gồm cả trẻ em vị thành niên.  Họ tập trung ở các đô thị như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và các khu công nghiệp trong nước cũng như ở các nước trong khu vực châu Á/Thái Bình Dương. Họ là những người di cư ngắn hạn hoặc di cư thời vụ (những người kiếm thêm việc làm để tăng thu nhập ngoài mùa gieo trồng, hái gặt). Phần lớn người tạm cư không di chuyển cùng gia đình, lý do có thể là họ chưa lập gia đình hoặc gia đình họ vẫn đang cư trú tại địa bàn nơi họ ra đi. Họ có thể là sinh viên, công nhân sản xuất hay xây dựng, người giúp việc nhà, bán hàng rong, v.v. Họ thường chỉ có hộ khẩu tạm, hoặc tạm trú tạm vắng, và ít gắn bó với cộng đồng địa phương. Mỗi mùa lễ, Tết, họ thường trở về nguyên quán nếu có điều kiện.

Những người định cư phần lớn là di dân tự do hoặc theo chính sách định canh định cư, giãn dân số của nhà nước. Họ đi theo gia đình và làng xóm, và thường có nhiều quan hệ cộng đồng. Những người Bắc di cư năm 1954 và những làng di cư vào các khu Kinh Tế Mới ở miền Nam hoặc Tây Nguyên giai đoạn 1975-1990 thuộc dạng này. Gần đây biến đổi khí hậu và tác động môi trường đã được Liên Hợp Quốc khuyến cáo chính phủ Việt Nam có những chính sách tái định cư.[4]

So với người sở tại và định cư lâu dài, cuộc sống của những người tạm cư gặp nhiều khó khăn và thách đố. Ngoài những sinh viên tạm xa gia đình để học tập, đa số các người tạm cư lên thành phố hoặc vào những khu công nghiệp tìm việc làm để nâng cao thu nhập. Họ thường phải ở trong môi trường sống chật hẹp, nhà kém chất lượng không an toàn hoặc mất vệ sinh, không có không gian riêng tư. Họ làm việc nhiều giờ, ít có thời gian thư giãn, hoặc học thêm, ít được hưởng các dịch vụ y tế, xã hội, ít có cơ hội gặp gỡ và giao tiếp. Họ thường tập trung làm việc trong một số ngành nghề nhất định, công việc không ổn định, hay bị thiệt thòi về lương bổng, bị chèn ép, thậm chí bị kỳ thị.

Vì đa số phải để dành tiền để gửi về cho gia đình hoặc trả nợ, họ thường không chăm sóc bản thân cho chu đáo, ăn uống thất thường, có bệnh cũng không dám đi bác sĩ hoặc xin nghỉ làm. Đời sống tinh thần và tâm linh của những người tạm cư thường lỏng lẻo vì đa số họ phải sống xa gia đình và bạn bè. Thiếu những giải trí lành mạnh, cộng thêm sự cô đơn buồn chán dẫn đến một số tiêu cực và tệ nạn như mê game, bài bạc, rượu chè, quan hệ nam nữ bừa bãi. Đặc biệt là các phụ nữ và trẻ em thường bị thiệt thòi, thiếu vắng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tư vấn tâm lý dành riêng cho họ, chưa kể là họ còn có thể là nạn nhân của bạo hành, lạm dụng tình dục và buôn người.

Việc xây dựng một môi trường sống lành mạnh, vệ sinh, an toàn, xóa bỏ đi sự kỳ thị và hỗ trợ người dân di cư tiếp cận với các dịch vụ y tế, xã hội, tôn giáo, tạo cơ hội thăng tiến cho các di dân là một điều thiết yếu để nâng cao phẩm giá của những người này.

2. Giáo Hội và Di Dân

Vấn đề di dân được Giáo hội quan tâm cách riêng trong thế kỷ 20.Năm 1912, ĐGH Piô X đặt một văn phòng đặc trách di dân. Năm 1952, ĐGH Piô XII trong thông điệp Exsul familia nazarethana, văn kiện đầu tiên về di dân, đã kêu gọi các giáo hội địa phương chăm sóc cho những người tha hương qua các linh mục nói cùng ngôn ngữ và văn hoá với họ, giúp họ hoà nhập vào giáo hội địa phương. Các mục tử phải đối xử công bằng, không được phân biệt giữa người mới đến và người địa phương.

Trong thập niên 1960, đối diện với làn sóng người di dân, tha hương, và tị nạn tăng vọt từ các quốc gia đang phát triển, Giáo hội hậu Công đồng Vatican II quan tâm nhiều hơn tới việc chăm sóc mục vụ. Trong Tự sắc Pastoralis migratorum cura (Chăm sóc Mục vụ Di dân) ban hành năm 1969, ĐGH Phaolô VI kêu gọi các hội đồng giám mục – một cơ chế mới thành lập sau Công đồng – lên kế hoạch và chương trình để chăm sóc mục vụ cho người nhập cư.  Di dân phải được khuyến khích và giúp bảo tồn các cách sống đạo theo văn hoá, ngôn ngữ và tập quán của họ. 

Năm 1970, ĐGH Phaolô VI thành lập một hội đồng Toà thánh cho việc chăm sóc mục vụ cho người di dân và khách du lịch. Đến năm 1989, hội đồng này đổi tên thành Hội đồng Toà thánh về Mục vụ cho người Di dân và Lưu động (PCMI: Pastoral Care of Migrants and Itinerant People). Năm 2004, Hội đồng PCMI ban hành văn kiện Erga migrantes caritas Christi (Tình yêu Chúa Kitô hướng về di dân) về chăm sóc mục vụ cho di dân.[5] Văn kiện này tổng hợp các quy chế về mục vụ di dân, không chỉ dành cho các tín hữu Công giáo Roma mà cả các anh chị em Công giáo Đông phương, Chính thống, Tin lành và Hồi giáo. Việc chăm sóc mục vụ cho người di dân và tị nạn được xem như là phần cốt yếu của sứ mạng Tân Phúc âm hoá của Giáo hội trong hoàn cảnh hiện nay. Thêm vào đó, Hội đồng PCMI cũng thường xuyên tổ chức các đại hội Mục vụ Di dân Thế giới để các giáo hội địa phương chia sẻ và đúc kết kinh nghiệm mục vụ. Đại hội mới nhất diễn ra vào 17-21/11/2014 với chủ đề “Hợp Tác và Phát Triển”.[6]

Tại Á Châu, một số Hội đồng Giám mục cũng quan tâm đến tình trạng di dân. Chủ đề được bàn thảo trong phiên họp khoáng đại lần thứ 5 của Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC V) tại Bandung, Indonesia (1990). Các giám mục đã kêu gọi mọi người tỏ tình liên đới với và quan tâm đến anh chị em di dân, lao động nhập cư, tị nạn; lên án các hành vi kỳ thị, bóc lột, chà đạp nhân phẩm, không tôn trọng quyền con người, đối xử bất công với họ. Chủ đề di dân cũng được nhắc đến trong các kỳ họp khoáng đại của FABC những năm sau đó: FABC VI “Môn đệ Chúa Kitô tại Á châu Ngày nay” (Manila, 1995), FABC VII “Canh tân Giáo hội tại Á châu trong Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ” (Samphran, Thái Lan, 2000), và FABC VIII “Gia đình Á châu hướng tới một nền Văn hoá của Cuộc sống Tích hợp” (Daejeon, Hàn Quốc, 2004).

Năm 1993, văn phòng Phát triển Con người (Office of Human Development) của FABC đã tổ chức một cuộc hội thảo liên vùng tại Hongkong để bàn về tình trạng người lao động xuất khẩu Philippin ở Á Châu – một vấn đề nổi cộm trong thời đại toàn cầu hoá. Năm 1997 trong dịp hội thảo về “Hội thánh Á châu trong Thế kỷ 21” (tại Pattaya, Thái Lan), văn phòng cũng đưa ra một số gợi ý cụ thể cho việc mục vụ di dân, bao gồm các cuộc họp song phương của uỷ ban di dân của hội đồng giám mục; triển khai các chương trình huấn luyện những tác viên mục vụ di dân ở cấp quốc gia và cấp địa phương; đưa việc mục vụ di dân vào các chương trình mục vụ chung trong giáo phận, đặc biệt tăng cường việc đối thoại và hợp tác giữa giáo phận gốc và giáo phận nơi di dân đang cư trú; nối kết các vấn đề của di dân với các vấn đề và chính sách lao động để tìm ra giải pháp đồng bộ.

Nhìn chung, các văn kiện và chính sách của Toà thánh cũng như các của các giáo hội địa phương có những đóng góp cụ thể vào việc chăm sóc mục vụ. Có lẽ vì hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam, mãi đến lần đại hội X (2007-2010)Hội đồng Giám mục Việt Nam mới thành lập thành lập Uỷ ban Mục Vụ Di dân để đáp ứng nhu cầu mục vụ cho người di dân trong và ngoài nước với ĐHY Phạm Minh Mẫn làm chủ tịch tiên khởi. Hiện nay, ĐC Đỗ Mạnh Hùng phụ trách uỷ ban này (từ tháng 10/2016).[7]

3. Thần Học Về Di Dân

Thần học về di dân cũng là thần học về con người, đặc biệt trong mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Tự bản chất, thần học về di dân là thần học mục vụ. Đối tượng của những suy tư thần học về người di dân đặt nền tảng trên ba khái niệm, hay ba chiều kích, mà tôi sẽ trình vầy vắn gọn dưới đây: imago Dei (hình ảnh Thiên Chúa), visio Dei (tầm nhìn Thiên Chúa) và missio Dei (sứ mạng Thiên Chúa). Ba khái niệm thần học này diễn tả cách thức mà Thiên Chúa muốn hiện diện và chia sẻ vào đời sống con người.

a. Imago Dei

Yếu tố đầu tiên, và cũng là một khái niệm cơ bản, không những trong tôn giáo và còn là giá trị chung của thế giới văn minh là nhân vị và nhân phẩm. Mỗi con người có một địa vị, có một phẩm giá riêng biệt mà không ai có thể lấy đi được. Những luật lệ, quy ước quốc tế về nhân quyền đặt nền tảng trên khái niệm cơ bản này. Niềm tin Kitô giáo đã chỉ rõ ra là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei, St 1:26-28). Họ sinh ra trong tự do và bình đẳng làm con cái Chúa, và được quyền mưu cầu hạnh phúc. Khi nhân phẩm bị chà đạp, khi nhân vị không được tôn trọng, khi nhân quyền bị xoá bỏ thì imago Dei bị lu mờ. 

Một trong những khó khăn nhất mà người di dân phải gánh chịu là thái độ kỳ thị, khinh rẻ – là kinh nghiệm không được đối xử như là con người (dehumanization).Không ít những di dân phải đối mặt với sự thù hằn, quy chụp, ganh ghét, thậm chí mạng sống bị coi rẻ chỉ vì họ là người nhập cư. Khi có những cuộc tranh chấp, xung đột quyền lợi với dân địa phương, người di dân luôn luôn bị thiệt thòi. Họ bị quy chụp bằng những từ ngữ xấu xa nhất, như là súc vật, cặn bã, hay ký sinh trùng của xã hội. Họ có thể bị chửi bới, đánh đập, hoặc giết chết mà chẳng ai quan tâm.

Hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người, imago Dei, giúp chúng ta nhìn nhận giá trị chân thực nơi những con người mà xã hội thường bỏ qua. Nếu những người di dân chỉ được nhìn như những kẻ nhập cư lậu, những người tha phương cầu thực, những gánh nặng xã hội, hay những cỗ máy lao động sản xuất thì chúng ta sẽ dễ dàng làm ngơ, vô cảm trước những nỗi khó khăn, thống khổ của họ. Không nhận ra imago Dei, chúng ta có thể không cần nhìn, không cần biết, không cần quan tâm đến những người này cho đến khi họ hiện diện trong đời sống của chúng ta.

Khởi đi từ khái niệm imago Dei, Giáo huấn xã hội học Công giáo luôn quan tâm đến con người như một chủ thể chứ không phải một đối tượng hay công cụ kinh tế. Trong những cuộc tranh luận về chính sách phát triển kinh tế và xã hội, quyền lợi của những di dân thường bị bỏ qua. Di dân cũng là con người và có quyền như bao nhiêu người khác để được hưởng những gì cần thiết “để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình, quyền được giáo dục, quyền làm việc, quyền bảo tồn danh thơm tiếng tốt, quyền được kính trọng, quyền thông tin xứng hợp, quyền hành động theo tiêu chuẩn chính thực của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng cả trong phạm vi tôn giáo nữa cần thiết cho cuộc sống.” (Gaudium et Spes 26).

Tôn trọng nhân vị của người di dân là phải tạo điều kiện cho họ để được sống đúng với phẩm giá con người. Quan tâm đến nhân phẩm là xem xét đánh giá và lên tiếng cảnh báo về những chính sách hoặc quy định bất công, ngõ hầu những chính sách, quy định này có thể được chỉnh sửa để tránh nạn phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào người di dân.

b. Visio Dei

Khái niệm nền tảng thứ hai của thần học di dân là nhìn những con người này trong viễn tượng của Thiên Chúa.Trong lịch sử mặc khải, Thiên Chúa đã tỏ mình ra trước hết cho các di dân (Abraham, Isaac, Giacóp) và người tị nạn (Môsê). Lịch sử của dân tuyển chọn cũng là lịch sử di dân: Abraham từ miền Ur xa xôi đi về Ai Cập rồi định cư ở Canaan. Trong thời Giôsep, con cháu ông Israen/Giacóp rời Canaan sang định cư ở Ai Cập, để rồi 400 năm sau đó, dưới sự hướng dẫn của Môsê, họ đã vượt Biển Đỏ trở về nguyên quán. Trải qua nhiều năm tháng gian khổ lưu lạc trong sa mạc, cuối cùng 12 chi tộc người Israen mới vào định cư ở đất hứa. Có thể nói kinh nghiệm lưu đày, xa xứ, di cư là phần thiết yếu của lịch sử cứu độ. Ngay cả biến cố Nhập thể cũng có thể xem là một cuộc di cư của Con Thiên Chúa từ trời xuống thế, chịu khổ nạn, phục sinh rồi trở về trời (Phlp 2, 1-11). Ngài đã trở nên đồng hình đồng dạng với tất cả các di dân của mọi thế hệ.

Thiên Chúa đã tỏ mình ra trước hết là Đấng Tạo Hoá, người Cha chung của muôn loài muôn vật. Mặc dù tội lỗi đã làm thế giới này trở nên hỗn loạn và con người xa cách nhau, Thiên Chúa vẫn hằng quan tâm đến thế giới của chúng ta, đặc biệt là những con người thấp cổ bé miệng, bên lề xã hội, mà thành phần di dân, người tha hương là chủ yếu.  Ngài luôn thúc bách con người qua tiếng nói của lương tâm và lòng trắc ẩn để con người xích lại gần nhau, quan tâm đến nhau, và tìm cách xây dựng một thế giới công bình và tốt đẹp hơn.

Trong biến cố Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã đi vào thế giới của nhân loại để hàn gắn những vết thương, xoá bỏ những bất công, nối lại tình người với người. Trong kinh nghiệm làm người, Đức Giêsu cũng đã trải qua thời thơ ấu như một người tị nạn ở Ai Cập (Mt 2, 13-17). Con Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận loài người của những người kém may mắn nhất, chịu đói chịu khát, không nhà không cửa, bị đồng hương thân thuộc hiểu lầm, từ chối (Mt 13, 54-57; Mc 3, 20-21; 6, 1-4, Lc 4, 13-20), bị đối xử bất công, kỳ thị vùng miền (Ga 7, 41-43.52), bị các môn đệ bán đứng, bỏ rơi, chối bỏ (Mc 14, 13-46; 50; 66-72), bị lên án như kẻ gây rối (Lc 23, 1-5), bị đóng đinh như một tội phạm (Lc 23, 32-43), và chết tha hương (Mt 27, 57-60). Qua cuộc sống, sự chết và phục sinh của Ngài, Đức Giêsu Kitô đem lại cho những anh chị em di dân niềm an ủi sâu xa là Ngài hiểu họ và trở nên một với họ. Câu chuyện của Đức Giêsu Kitô đem lại cho người di dân niềm hy vọng vào một Thiên Chúa ở cùng với họ trong mọi hoàn cảnh, rằng kể cả trong những tình huống tuyệt vọng và chán chường nhất niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh có thể đem lại cho họ ánh sáng và bình an.

c. Missio Dei

Cả cuộc đời Đức Giêsu thành Nazaret, có thể nói cả sứ mạng của Ngài, là rao giảng về Nước Thiên Chúa (regnum Dei) – một thực tại tối hậu mà trong đó không còn một sự chia rẽ hay phân ly nào. Ngay từ đầu trong công cuộc rao giảng, Đức Giêsu đã mượn lời của ngôn sứ Isaia để nói về sứ mạng của mình như sau: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Phúc Âm cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng” (Lc 4, 18-19; Is 61, 1-2).

Nước Thiên Chúa là phần thiết yếu trong viễn tượng của Thiên Chúa (visio Dei) mà Đức Giêsu đã tỏ bày cho chúng ta qua những lời rao giảng, cuộc sống và cách ứng xử của Ngài, đặc biệt là với ngoại kiều, phụ nữ và trẻ em, là những đối tượng bên lề trong xã hội Do Thái thời xưa. Qua những cuộc tiếp xúc với phụ nữ người Samari (Ga 4, 4-42), người phụ nữ Syrô-Phênixia (Mt 15, 24-28), viên quản đốc Roma (Mt 8, 5-13), người thu thuế Zakêu (Lc 19:1-10),hay đồng bàn với người tội lỗi (Mt 9, 9-13), Đức Giêsu đã phá bỏ hàng rào ngăn cách phân biệt chủng tộc, giai cấp và định kiến xã hội giữa người và người. Đức Giêsu không chỉ quan tâm đến họ, Ngài còn giúp cho họ được hội nhập trở lại trong cộng đồng qua việc chữa lành người phong hủi (Mc 1, 40-45), đàn bà bị ô uế vì băng huyết (Mc 5, 25-34). Quan tâm, nâng đỡ, ủi an, và giúp cho họ hội nhập vào cộng đoàn, là cách mà Đức Giêsu thể hiện tình liên đới giữa người và người trong sứ mạng rao giảng về Nước Thiên Chúa.

Trong lời giảng và cách sống của Ngài, Đức Giêsu hướng con người đến viễn tượng của Thiên Chúa là tạo lập lên những tương quan mới trong cộng đồng nhân loại, vượt lên những ranh giới, định kiến xã hội – những tương quan không dựa trên vùng miền, giai cấp, chủng tộc, tiếng nói, địa vị, hay khả năng, nhưng dựa trên tương quan Cha-con với Thiên Chúa và anh chị em đồng loại với nhau.

Đức Giêsu đã thách đố những con người ở thời đại của Ngài có cái nhìn rộng mở hơn với kẻ khác, dựa trên lòng thương xót của Thiên Chúa chứ không phải những quan niệm xã hội và luật lệ của con người. Đức Giêsu không đến để phá bỏ luật lệ, trật tự, kỷ cương, vốn là điều cần thiết cho mọi xã hội. Tuy nhiên Ngài kêu gọi mọi người đi đến với một luật cao hơn đó là luật bác ái vị tha, lấy con người làm gốc: “Ngày Sabát được lập ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày Sabát” (Mc 2, 27).

Sứ mạng của Giáo hội là tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô (missio Dei), Đấng được Chúa Cha sai đến vì loài người chúng ta. Ngày nay, Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Ngài để xây dựng Nước Thiên Chúa (regnum Dei), rao giảng về tình thương của Thiên Chúa, hoà giải và chữa lành những đổ vỡ giữa con người, và xây dựng một nền văn minh tình thương và sự thật, tôn trọng phẩm giá con người. Người tín hữu dấn thân không chỉ việc bác ái, nhưng hơn thế nữa, xem việc dấn thân cho các đối tượng bên lề xã hội, những con chiên “lạc”, những đồng bạc bị “mất”, trong đó người di dân là ưu tiên mục vụ hàng đầu để xây dựng mỗi xã hội công bình và nhân ái hơn.