Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hương,
Đại Chủng Viện Vinh Thanh

Mục lục

I. NGÔI VỊ TÍNH VÀ THẦN TÍNH CỦA CHÚA THÁNH THẦN

      1. Ngôi vị là gì?

      2. Nền tảng Kinh Thánh

      3. Định tín về Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa

II. THẦN HỌC VỀ CHÚA THÁNH THẦN

      1. Chúa Thánh Thần là Tình Yêu – Ngôi Vị (Amor – Persona)

      2. Chúa Thánh Thần là Ân Huệ - Ngôi Vị (Donum- Persona)

      3. Xuất Thần (Ektasis)

      4. Tự Hạ (Kenosis)

      5. Kết Hợp (Synthesis)

III. NHỮNG ĐẶC TÍNH RIÊNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN

      1. Chúa Thánh Thần như người Mẹ hiền

      2. Chúa Thánh Thần là “We”

IV. TẠM KẾT


WHĐ (10.05.2021) - Đây là bài tóm tắt thần học về Chúa Thánh Thần, được trình bày theo dàn ý như sau: (1) Ngôi vị tính và thần tính của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm Ba Ngôi, (2) Thần học về Chúa Thánh Thần, (3) Những đặc tính riêng của Chúa Thánh Thần, (4) Tạm Kết.

I. NGÔI VỊ TÍNH VÀ THẦN TÍNH CỦA CHÚA THÁNH THẦN

1. Ngôi vị là gì?

Ngôi vị là chỗ đứng riêng của mình. Hạn từ ngôi vị có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (prosopon) hoặc (hypostasis) hay (persona trong tiếng La Tinh), nghĩa là khuôn mặt hay nguồn các mối tương quan. Hypostasis là cái đứng ở dưới, cái có thể tự hiện hữu nơi mình.

Trong ngôn ngữ Kitô giáo, ngôi vị chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần để phân biệt các tương quan của Ba Ngôi. Ba Ngôi phân biệt nhau nhờ tương quan, nhưng hiệp nhất, nhờ bản tính, một Thiên Chúa duy nhất.

Sau này, triết học định nghĩa: “Ngôi vị là bản thể cá biệt có lý tính” (Bothius). Ngôi vị là một hữu thể tự lập, có lý trí, ý chí và tự do, hiện hữu nơi chính mình.[1]

2. Nền tảng Kinh Thánh

“Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,25-26).

“Chúa Thánh Thần của chân lý nhiệm xuất từ Chúa Cha” (Ga 15,26).

Tín biểu của Công Đồng Constantinople đã lấy lại dụng ngữ đó: “Thánh Thần xuất phát (ekporeuomenon, procedit) từ Cha.”

3. Định tín về Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa

Công Đồng Constantinople (năm 381):

“Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Đức Chúa và là Đấng ban sự sống, Người phát xuất từ nơi Chúa Cha, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con, Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.”

Công Đồng chính thức tuyên xưng rằng Thánh Thần cũng chính là Đức Chúa, nghĩa là ngang bằng với Thiên Chúa.

Đức Gioan Phaolô II trong Thông điệp Dominum et Vivificantem, số 10 đã nhận định như sau:

“Đồng bản thể với Cha và Con theo thần tính, Chúa Thánh Thần là tình yêu, là ân sủng vô tạo, từ đó – như là từ uyên nguyên hằng sống (fons vivus) – phát xuất mọi hành vi trao ban ân huệ đến các thụ tạo (ân sủng thụ tạo): ơn hiện hữu cho muôn loài qua công cuộc tạo dựng; ơn sủng ái cho con người qua toàn bộ kế hoạch cứu độ.”

II. THẦN HỌC VỀ CHÚA THÁNH THẦN

Tuy nhiên, dựa vào Kinh Thánh và truyền thống của Giáo hội, các nhà thần học đã cố gắng để trình bày căn tính của Chúa Thánh Thần qua nhiều biểu tượng, danh hiệu hay dạng thức khác nhau của Người.

1. Chúa Thánh Thần là Tình Yêu – Ngôi Vị (Amor – Persona)

Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta” (Rm 5,5).

Thánh Augustinô giải thích: “Các Ngài là Ba Đấng, Đấng yêu mến, Đấng được yêu mến và Tình Yêu.”[2] Cần phân biệt: Tình yêu thuộc bản thể Thiên Chúa và Tình Yêu như một Ngôi Vị. Trong trường hợp thứ nhất, đó là tình yêu bản thể (amor substantiel), vốn là chính bản tính thần linh, yếu tính của thực tại thần linh. Trong trường hợp thứ hai, đó là Tình Yêu như một Ngôi Vị, là Ngôi Vị Thánh Thần. Chúa Thánh Thần phân biệt ra khỏi Đấng hằng yêu thương và khỏi Đấng hằng được yêu thương và là một với các Ngài trong tình yêu.

Như thế, Thánh Thần là Tình Yêu như một Ngôi Vị (Amor-Persona) khác với Chúa Cha, Chúa Con, vừa là tình yêu bản thể giống với Cha và Con.

Theo nghĩa này, Thánh Thần là sự chan chứa dạt dào của tình yêu thần linh, là sự viên mãn đến tràn bờ, là trạng thái cực kỳ hoan lạc của Thiên Chúa. Nhờ đó, tình yêu của Cha qua Con ngập tràn vào Thánh Thần, được phản ảnh trong sức năng động của công trình sáng tạo cứu độ.

Thánh Tôma Aquinô cho rằng danh hiệu Tình Yêu này là danh hiệu của Chúa Thánh Thần.[3] Chúa Thánh Thần là Tình yêu liên kết giữa Cha với Con. Tình Yêu ấy không đóng khung khép kín nhưng đã tuôn trào ra, bởi vì Thiên Chúa đã thông đạt tình yêu và mọi thiện hảo cho tạo vật (cách riêng là cho nhân loại) để mời gọi họ vào chia sẻ sự sống với Người. Chúa Cha là Đấng yêu thương, Chúa Con là Đấng được yêu thương, và Chúa Thánh Thần là Tình Yêu Ngôi Vị.

2. Chúa Thánh Thần là Ân Huệ - Ngôi Vị (Donum- Persona)

Thánh Thần được mạc khải như là Ân Huệ của Thiên Chúa (x. 1Ga 4,13). Chúa Giêsu nói với người phụ nữ Samari: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (Ga 4,14).

Trong bài giảng đầu tiên sau ngày Lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô đã mời gọi thính giả nghe ngài hoán cải và đón nhận phép rửa, để “anh em sẽ nhận được Ân Huệ là Thánh Thần” (x. Cv 2,38; 10,45).[4]

Augustinô giải thích Ân Huệ đó chính là Thánh Thần. Ý tưởng Thánh Thần như là Ân Huệ, như là trạng thái cực kỳ hoan lạc của Thiên Chúa hướng về tha thể đã được các Giáo Phụ diễn tả bằng công thức nổi tiếng:

“Từ Cha, qua Con, trong Thánh Thần.” Thánh Thần là điều mà nơi Người tiến trình kết thúc… Thần Khí là Đấng mà bởi Người sự thông ban của Thiên Chúa được hoàn tất. Trong thực tại Ba Ngôi hiệp nhất của Thiên Chúa, Thánh Thần là sự hoàn tất.[5]

Sau đó, thánh Augustinô cũng cho rằng: để biểu thị mối hiệp thông giữa Cha và Con “Chúa Thánh Thần được coi như ân huệ cả hai” cũng như sự nối kết giữa chúng ta với các Đấng; Người là Ân Huệ vì được trao ban bởi Cha và Con.[6]

Trong Thông điệp Dominum et Vivificantem số 10, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết: “Có thể nói rằng, trong Chúa Thánh Thần, đời sống mật thiết của Ba Ngôi Thiên Chúa đã trở nên một ân huệ trọn vẹn, một trình trạng chuyển thông của mối tương ái giữa các Ngôi Vị; và thông qua Thánh Thần chính là hiện thân của ân huệ trao ban, của tình yêu hằng hữu. Người là ngôi vị Tình Yêu. Người là Ngôi Vị Ân Huệ.”[7]

Với tư cách này, Thánh Thần đến với Tha Thể như một sự tặng ban nhưng không tuyệt đối.

3. Xuất Thần (Ektasis)

Thần học Đông Phương nhìn Chúa Thánh Thần như sự khai mở của Thiên Chúa ra khỏi chính mình để đi đến với con người, làm cho con người ra khỏi mình để gặp gỡ Thiên Chúa. Nơi Đức Giêsu, Thánh Thần làm cho Thiên Chúa và con người kết hợp với nhau. Chúa Giêsu là khuôn mặt thần linh của con người, và là khuôn mặt con người của Thiên Chúa. Người là Thiên Chúa mang lấy xác thể để con người mang lấy thần linh. Nhờ Chúa Giêsu, Thiên Chúa tự hiến mình trong Chúa Thánh Thần để cứu độ chúng ta.

Truyền thống Tây phương vẫn quen nhìn Chúa Thánh Thần là chiều sâu của Thiên Chúa, là Tình Yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con (vinculum amoris). Thánh Thần vừa là Đấng Bên Trong (Intimum Dei), vừa là Đấng Mút Cùng (Extremum Dei), Đấng nội tại nhất lại là Đấng siêu việt nhất. Tình yêu tự hiến giữa Chúa Cha và Chúa Con cô đọng trong ngôi vị Thánh Thần. Thánh Thần như sự xuất hành trọn vẹn của Chúa Cha và của Chúa Con.

Về điểm này, nhà thần học Pháp Christian Duquoc diễn tả rất ý nghĩa như sau:

Biểu tượng Ba Ngôi cho thấy một cuộc sống hoặc sự hiệp thông khác biệt và cởi mở. Chúa Thánh Thần phá vỡ sự tự thỏa mãn có thể của hai Ngôi đầu tiên “diện đối diện. Truyền thống Kitô giáo đã nhận ra một vai trò sáng tạo và năng động đối của Người, và trong ý nghĩa này, Thánh Thần là Người tạo nên sự khác biệt. Người là sự mở ra của sự hiệp thông thiêng liêng với những gì không thiêng liêng. Người là sự cư ngụ của Thiên Chúa, nơi mà trong cách thức nào đó, Người ra khỏi chính mình. Do đó, Người được gọi là “Tình Yêu.” Người là “xuất thần” (ektasis) của Thiên Chúa để hướng về các “Ngôi khác” và với thụ tạo.[8]

4. Tự Hạ (Kenosis)

Mầu nhiệm tự hạ của Chúa Thánh Thần là trút bỏ mình trong thinh lặng và ẩn dấu mình vì các Ngôi Vị khác. Nên Người không có một khuôn mặt cụ thể, và dường như không có một danh xưng riêng biệt. Thánh Thần luôn hiện hữu cho các Ngôi Vị khác, đến nỗi gần như lu mờ chính chủ vị của mình. Quả thật, nơi Chúa Con, thần tính ẩn dấu trong nhân tính. Nơi Thánh Thần, ngôi vị ẩn dấu trong thần tính. Chúa Con hạ mình cho đến ngày phục sinh; Chúa Thánh Thần hạ mình cho tới ngày quang lâm cánh chung.[9]

Truyền thống Đông Phương và Tây Phương đều nhận ra sự hạ mình sâu thẳm của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa vượt trên chính mình bằng cách hạ mình. Sự xuất ngoại của Thánh Thần là một sự hạ mình, để yêu thương và tự hiến (x. Ga 12,24; Mc 8,35). Sự tự hạ đó được diễn tả như sau:

- Chúa Thánh Thần gần như không có danh xưng riêng biệt. Hai chữ Thánh (Sanctus) và Thần (Spiritus) ghép lại để làm danh xưng cho Người, là những từ ngữ chỉ các ưu phẩm chung cho Chúa Cha và Chúa Con. Thánh Tôma cho rằng sự “phát xuất” của Thánh Thần không có tên riêng. Theo E. Brunner, sự độc đáo của Thánh Thần là hiện hữu cho. Mức độ hiện hữu cho cao đến gần như làm lu mờ chính chủ vị của Người.

- Sự ẩn khuất của Ngôi Vị Thánh Thần. Ngôi vị Chúa Cha và Chúa Con được mạc khải khá rõ ràng. Chúa Cha được Chúa Con mạc khải, Chúa Con được Thánh Thần mạc khải. Còn ngôi vị Thánh Thần như ẩn khuất sau hai ngôi vị kia. Thánh Thần như hơi thở trong tiếng nói của Cha: “Con là Con Cha, hôm nay Cha sinh ra Con” (Tv 2,7); và như hơi thở trong tiếng nói của Con hướng về Cha: “Ápba, Cha ơi!”

- Chúa Thánh Thần như không sử dụng chữ “Tôi”. Người là “sự phong nhiêu của Thiên Chúa,” nhưng chẳng có ngôi vị nào phát xuất từ Người. Người là chìa khóa để mở ra mầu nhiệm Thiên Chúa, nhưng chính Chúa Con được sinh ra và nhập thể; và thế giới được tạo dựng theo hình ảnh Chúa Con. Người là sự hiệp thông, phục vụ cho sự gặp gỡ vĩnh hằng giữa Chúa Cha và Chúa Con, là dây liên kết giữa Cha và Con.

- Ngay cả trên bình diện lịch sử cứu độ, Thánh Thần vẫn luôn hạ mình. Trong Cựu Ước, Người biểu lộ như là sức mạnh của Thiên Chúa, được diễn tả bằng những hình ảnh vô chủ vị, như hơi thở, nước và lửa. Trong Tân Ước, Chúa Thánh Thần hạ mình trong biến cố Ngũ Tuần, ngôi vị của Người ẩn dấu đằng sau thần tính.

- Chúa Thánh Thần luôn hướng về Chúa Kitô. Vai trò của Người là tháp nhập các tín hữu vào Chúa Kitô, tạo nên cho Chúa Cha những dưỡng tử yêu dấu, thánh thiện. Thánh Thần làm cho chúng ta thuộc về Chúa Kitô (Rm 8,9), và hướng về Chúa Cha (x. Rm 8,15; Gl 4,6). Người cầu nguyện cho chúng ta và trong chúng ta, nhưng không làm cho chúng ta ngỏ lời với Người, trái lại ngỏ lời với Chúa Cha qua lời cầu của Chúa Con, và hướng dẫn chúng ta tuyên xưng Chúa Con (x. 1 Cr 12,3).

- Người hành động trong chúng ta cách kín đáo, làm như hành động chỉ là của riêng ta, làm cho chúng ta trở nên chính mình. Người chấp nhận trở nên “Ơn tha tội” của Thiên Chúa dành cho những tội nhân. Trong Thánh Thần, Thiên Chúa như tự hủy để cho con người được sống.

- Việc của Chúa Thánh Thần là việc âm thầm cho đến tận thế. Người không bao giờ nói gì về chính mình, nhưng chỉ nói về Chúa Cha và Chúa Kitô; cũng không tự động nói điều gì, mà mọi sự đều do Chúa Kitô (x. Ga 16,13-15). Người không làm vinh danh chính mình, nhưng làm vinh danh Chúa Kitô. Người vẫn là Đấng không được biết đến bên kia Ngôi Lời.

- Ngày cánh chung khi Chúa Cha trở nên mọi sự trong mọi nguời, Chúa Thánh Thần sẽ như ánh sáng chiếu soi gương mặt Chúa Kitô và gương mặt các thánh, nhưng Người vẫn như không có gương mặt riêng, Người tự biểu lộ nơi những con người được thần hóa, là Thánh Thần trong các thánh.