![]() |
Bác ái, công lý và sứ mệnh truyền giáo cho người nghèo.
Tiếp nối di sản của Đức Phanxicô kính yêu, giờ đây, sau sáu tháng kể từ khi ngài qua đời, Đức Lêô XIV đã công bố Tông huấn Dilexi Te – Ta đã yêu con (DT), về “tình yêu thương dành cho người nghèo.” Thật vậy, tiếp nối truyền thống với Kinh Thánh và các thánh giáo phụ hay tiến sĩ – là chính các thánh – kết hợp với Huấn quyền của Giáo hội với Học thuyết Xã hội (DSI) của các vị Giáo hoàng tiền nhiệm, DT dạy chúng ta điều chân thực nhất, đẹp đẽ nhất và tốt đẹp nhất của một thần học và linh đạo đích thực về “tình yêu thương ưu tiên dành cho người nghèo.” Đây cũng là điều mà các Giám mục ở Mỹ Latinh đã truyền đạt qua các Hội nghị ở Medellín và Puebla, cho đến tận Aparecida, hay tại Tây Ban Nha, với hai văn kiện đáng nhớ là “Giáo Hội và Người nghèo” và “Giáo Hội, Tôi tớ của Người nghèo,” mà chúng ta cũng hết lòng khuyến khích.
Trước hết, nền tảng cốt lõi và Kitô học của sự lựa chọn này. Con Một Hằng Hữu của Chúa Cha, Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể nơi Chúa Giêsu Kitô, đã giáng sinh và trở nên nghèo khó và khiêm nhường; Người hạ mình xuống với những người bé mọn nhất, với người nghèo và các nạn nhân hay nô lệ, để ban cho chúng ta tình yêu, lòng thương xót và sự liên đới của Người với nhân loại, với đau khổ, sự dữ và bất công mà họ phải chịu đựng. Đây là điều mà Lời Chúa, các trình thuật Tin Mừng về Thời Thơ ấu (trong Matthêu và Luca), và chính các Thư của Thánh Phaolô (1-2Côrintô và Philemon) cho chúng ta thấy. Chúa Giêsu đã nhập thể và sinh ra trong một gia đình nghèo khó; mẹ Người là một người phụ nữ đơn sơ, khiêm nhường và tầm thường, đã sinh ra trong máng cỏ với các loài động vật, ở một nơi ngoại thành như Bêlem. Chúa Kitô sống ở vùng ngoại vi của Đế quốc Rôma và quyền hành của người Do Thái, tại Nazareth, trong khi cha Người và chính Người là những người lao động nghèo khó (DT 18-20). Chúa Giêsu công bố Nước Thiên Chúa và công lý của Người cho người nghèo, thể hiện sứ mệnh của Người: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Người đã thánh hiến tôi qua việc xức dầu của Người.” “Người đã sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18; x. Is 61,1). Vì vậy, Người tự giới thiệu mình là Đấng đến để biểu lộ trong lịch sử hôm nay sự gần gũi yêu thương của Thiên Chúa, trên hết là công trình giải thoát những ai bị giam cầm bởi sự dữ, những người yếu đuối và người nghèo (DT 21).
Điều này đã được Công đồng Vaticanô II (Hiến chế Lumen Gentium 8) và các Đức Giáo hoàng, chẳng hạn như Đức Bênêđictô XVI tại Aparecida hoặc trong trong điệp Thông điệp Deus Caritas Est – Thiên Chúa là tình yêu (DCE) và đặc biệt là Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm vui của Tin Mừng (EG, chương IV), Thông điệp Laudato Si’ về chăm sóc ngôi nhà chung (LS) hoặc Thông điệp Fratelli Tutti về tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội (FT). Do đó, Truyền thống này (DT 45-46) và Huấn quyền của Giáo Hội nhìn thấy nơi người nghèo: một bí tích (sự hiện diện) của Đức Kitô nhập thể, nghèo khó, khiêm nhường và chịu đóng đinh, được kết hợp với tiêu chuẩn cuối cùng của ơn cứu độ, đó là tình yêu thương và công lý huynh đệ dành cho người nghèo, trong đó chúng ta tìm thấy Đức Kitô nghèo khó (Mt 25,31-46). Quả thật, “Chúa Giêsu đồng cảm với người nghèo” (Bênêđictô XVI, DCE 15). Như Thánh Phaolô VI và Thánh Gioan Phaolô II đặc biệt nhấn mạnh trong giáo huấn và DSI của các ngài, trong đó nhấn mạnh “lựa chọn ưu tiên cho người nghèo” này… Tình yêu này của Giáo Hội dành cho người nghèo là quyết định và thuộc về truyền thống liên tục của Giáo Hội… Tình yêu dành cho nhân loại, và trước hết, dành cho người nghèo, nơi họ, Giáo Hội nhìn thấy Chúa Kitô, được cụ thể hóa trong việc “thúc đẩy công lý” (Thánh Gioan Phaolô II, Thông Ðiệp Centesimus Annus – Năm thứ một trăm – kỷ niệm 100 năm ban hành Thông điệp Rerum Novarum – Tân Sự của Ðức Lêô XIII, về những vấn đề xã hội, 57-58). Chúa Giêsu đã nhập thể (trở thành xác phàm) trong người nghèo (DT 110).
Chắc chắn, Lời Chúa, cùng với Giáo Hội và thần học, truyền lại cho chúng ta những nền tảng của nhân học thần luận (theological anthropology), những nền tảng nâng đỡ tình yêu này dành cho người nghèo. Ân sủng, cùng với Tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Kitô và Thánh Thần của Người đổ tràn vào sâu thẳm con người và tâm hồn chúng ta (Rm 5:5), dẫn chúng ta đến sự sống và các nhân đức đối thần của đức tin, đức cậy và đức mến, là những nhân đức liên kết bất khả phân ly; và nhân đức quan trọng nhất được đặt lên hàng đầu là đức ái (1Cr 13), tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, được thực hiện một cách đích thực trong việc thúc đẩy công lý, là bất khả phân ly (DCE 17), như Đức Bênêđictô XVI cũng dạy trong Thông điệp này (số 6).
Theo nghĩa này, như Kinh Thánh đã kết nối các ngôn sứ (DT 17) và Thánh Truyền với các thánh giáo phụ (DT 41) cùng với giáo huấn của Giáo Hội, việc thờ phượng Thiên Chúa đích thực qua phụng vụ và các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, không thể tách rời khỏi cuộc sống, khỏi tình liên đới yêu thương và sự dấn thân cho công lý đối với người nghèo (DCE 14-15). Về vấn đề này, các giám mục Tây Ban Nha khẳng định rằng “Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta hai bí tích về sự hiện diện của Người: một là bí tích, trong cộng đoàn: Bí tích Thánh Thể; và một là hiện sinh, trong khu phố và trong thị trấn, trong khu ổ chuột ngoại ô, giữa những người bị gạt ra ngoài lề xã hội… Cũng như đức tin của chúng ta khám phá ra Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, tức là Nhiệm Thể của Người, như Giáo Hội những thế kỷ đầu đã gọi, hoặc trong tâm hồn chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta, chúng ta cũng phải khơi dậy đức tin của mình để khám phá ra Người trong tất cả mọi người, đặc biệt là những người đang cần được giúp đỡ nhất. Chúng ta không thể khẳng định khía cạnh này mà không có khía cạnh kia, cũng không thể phủ nhận khía cạnh này mà không phủ nhận khía cạnh kia” (IP 22, 132).
Vì lý do này, như Thánh Gioan XXIII đã khẳng định cùng với Công đồng Vaticanô II (LG 8, Hiến chế Gaudium et Spes 1) và Thánh Gioan Phaolô II trong Thông điệp Laborem Exercens về lao động của con người (LE, 8), Đức Phanxicô đã nhấn mạnh rằng Giáo Hội của Chúa Giêsu là Giáo Hội nghèo với người nghèo (DT 35-36). Những chìa khóa mang tính Giáo Hội học này cho việc lựa chọn người nghèo được làm sáng tỏ, tiếp nối Công đồng Vaticanô II, và được diễn tả trong điều quan trọng nhất đối với Giáo Hội. Đó là ơn gọi phổ quát hướng đến sự thánh thiện, mà tất cả chúng ta được mời gọi với tư cách là Dân Thiên Chúa, cùng nhau bước đi trong tinh thần hiệp hành, phục vụ sứ mệnh truyền giáo, loan báo, tôn vinh và phục vụ Nước Thiên Chúa, mang tình yêu, sự sống và công lý đến cho người nghèo. Chính Giáo Hội theo gương người Samaritanô nhân hậu, phát xuất từ Lòng Thương Xót, được nhập thể bởi Thiên Chúa làm người là Chúa Giêsu Kitô, Đấng hướng dẫn Giáo Hội thực hiện tất cả tình liên đới huynh đệ và công lý này với người nghèo (DT 109-11).
Theo cách này, như lịch sử Giáo Hội đã diễn tả (DT, chương III), linh đạo và sự thánh thiện đích thực được hiện thực hóa trong sứ mệnh phục vụ việc truyền đạt đức tin và tình yêu dành cho Thiên Chúa, cho Giáo Hội và cho tha nhân, với sự nghèo khó thiêng liêng này, theo tinh thần Tin Mừng của các Mối Phúc (Mt 5, 3-11). Đó là sự hiệp thông đức tin, sự sống, của cải và hành động liên đới vì công lý với người nghèo, là một Giáo Hội nghèo, cứu độ chúng ta và giải thoát chúng ta khỏi sự ích kỷ và các ngẫu tượng của của cải – giàu có, khỏi quyền hành và bạo lực. Theo hướng này, DSI đã và đang phát triển như một con đường của lòng bác ái, tình yêu và công lý với người nghèo (DT, chương IV), với các giá trị, nguyên tắc hay chìa khóa của nó.
Chẳng hạn như sự sống cùng với phẩm giá thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người, của các dân tộc và của người nghèo với “các phong trào bình dân” của họ, với tư cách là hình ảnh và con cái Thiên Chúa, là những nhân vật chính của sứ mệnh truyền giáo, của sự khôn ngoan, của văn hóa, của giáo dục, của sự phát triển, thăng tiến và giải phóng toàn diện của họ (DT 99-102). Chống lại mọi chủ nghĩa phúc lợi, gia trưởng và chủ nghĩa tinh hoa (DT 114), chống lại những vị thần giả dối của quyền lực, của việc chiếm đoạt và sở hữu trước khi là chính mình. Thúc đẩy và giải phóng toàn diện khỏi tội cá nhân, xã hội, cấu trúc và lịch sử, những “cấu trúc tội lỗi” và bất công đang thống trị và làm cho nghèo đói, gây ra bất bình đẳng, bất công và loại trừ ngày càng gia tăng. Chẳng hạn như nền kinh tế thống trị giết người này, chế độ độc tài của thị trường, mô hình kỹ trị tài chính – ngân hàng đầu cơ, sự sùng bái đồng tiền, văn hóa vứt bỏ và tính toàn cầu hóa của sự thờ ơ (DT 90-98); đối lập với cách hiểu mang tính ý thức hệ và cá nhân chủ nghĩa về người nghèo và sự nghèo khổ, vốn đổ lỗi, kỳ thị và làm tha hóa họ.
Như có thể thấy, tất cả lòng bác ái xã hội và chính trị thiết yếu này, vốn kêu gọi chúng ta “cam kết ‘giải quyết các nguyên nhân cơ cấu của nghèo đói’” (DT 91), là rất quan trọng… “Chúng ta phải cam kết hơn nữa để giải quyết các nguyên nhân cơ cấu của nghèo đói. Đây là một vấn đề cấp bách không thể trì hoãn, không chỉ vì nhu cầu thực dụng là đạt được kết quả và thành tựu xã hội, mà còn để chữa lành xã hội khỏi một căn bệnh khiến nó trở nên mong manh và không xứng đáng, và điều này chỉ có thể dẫn đến những cuộc khủng hoảng mới. Các kế hoạch hỗ trợ, nhằm giải quyết một số trường hợp khẩn cấp, chỉ nên được coi là những giải pháp tạm thời.” Thiếu công bằng “là gốc rễ của các tệ nạn xã hội.” Thật vậy, “người ta thường cho rằng, trên thực tế, các quyền con người chưa được bình đẳng cho tất cả mọi người.” (DT 94)
Tình liên đới đích thực, một đức tính thiết yếu của con người và tinh thần không thể tách rời khỏi đức ái (tình yêu), như Thánh Gioan Phaolô II (Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis – Quan tâm đến Vấn đề Xã hội (SRS)) đã dạy chúng ta, là chia sẻ ngay cả những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và “đấu tranh chống lại những nguyên nhân mang tính cơ cấu của nghèo đói, bất bình đẳng, thiếu việc làm, đất đai và nhà ở, và sự phủ nhận các quyền xã hội và lao động. Đó là đối đầu với những tác động tàn phá của đế chế tiền bạc […]. Tình liên đới, được hiểu theo nghĩa sâu sắc nhất của nó, là một cách làm nên lịch sử, và đó là điều mà các phong trào quần chúng đang làm.” (DT 81). Ở đây, chúng ta phải nhấn mạnh tầm quan trọng mang tính quyết định của việc làm đúng đắn, hơn là những kế hoạch hay trợ cấp và những thứ tương tự (LE), cuộc sống xứng đáng của người lao động với quyền tự quyết và các quyền của họ, chẳng hạn như “tiền lương công bằng”, điều này được đặt lên trên tính tư bản (DT 87). Nhờ công lý, định hướng chung của của cải là giúp chúng ta chỉ có thể sở hữu những gì cần thiết cho cuộc sống, “khôi phục” mọi thứ vốn thuộc về người nghèo, những con người được ưu tiên hơn tài sản.
Theo nghĩa này, DSI, như một yếu tố thiết yếu của sứ mệnh loan báo Tin Mừng với hành động bác ái và yêu thương, được tổng hợp trong nỗ lực tìm kiếm sự phát triển con người và sinh thái toàn diện, đón nhận tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của trái đất; thúc đẩy công bằng xã hội và môi trường bằng một “đạo đức sinh học toàn cầu” bảo vệ sự sống trong mọi giai đoạn hoặc chiều kích của nó, tất cả các nạn nhân, người nghèo, người bị bỏ rơi, anh chị em di dân,… Để kết luận – như chúng ta đã lưu ý – tất cả tính phổ quát của tình yêu-bác ái và công lý dành cho người nghèo trên trái đất, vượt qua mọi biên giới (DT 120), dẫn chúng ta đến cuộc sống trọn vẹn, siêu việt và vĩnh cửu, đã được các thánh làm chứng trong suốt lịch sử. Ví dụ, Thánh Phanxicô (DT 6) và Tổng Giám mục Romero, những chứng nhân của Tình Yêu của Thiên Chúa này với sự lựa chọn ưu tiên của Người dành cho người nghèo (DT 89).
Tác giả: Agustín Ortega – Nguồn: Exaudi (27/10/2025)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên







