I. Dẫn NhậpBài viết dưới đây tập trung trình bày ba vấn đề căn bản sau đây: Thứ nhất: Vài nét khái quát về vấn đề phá thai; Thứ hai: Vấn đề phá thai dưới cái nhìn đạo đức học; Thứ ba: Một vài phản biện và nhận định chung; Phần bốn: Kết luận.
II. Nội Dung
1. Vài nét khái quát về vấn đề phá thai
1.1. Khái niệm phá thai
Thông thường, các trường hợp phá thai thường do mang thai ngoài ý muốn. Những phụ nữ chưa chồng do quan hệ tình dục không sử dụng các biện pháp tránh thai. Do không muốn mang tiếng hoặc chưa sẵn sàng cho cuộc sống gia đình, người phụ nữ thường phải bỏ thai. Một số cặp vợ chồng do điều kiện kinh tế hoặc do pháp luật giới hạn số lượng con cái trong gia đình nên cũng phải quyết định phá thai. Ngoài ra, cũng có trường hợp phá thai do thai dị tật, khó nuôi, do bị xâm hại tình dục, cưỡng dâm, loạn luân, hoặc nguy hiểm đến tính mạng thai phụ.
Thứ nhất, giới trẻ hoặc thiếu kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản, hoặc không làm chủ được mình, hoặc thích cuộc sống hưởng thụ, buông thả, có quan hệ tình dục dẫn đến mang thai ngoài ý muốn. Trong khi đó, bản thân chưa sẵn sàng để đi tới việc kết hôn, khi tuổi đời còn quá trẻ, chưa chuẩn bị đầy đủ những yếu tố sức khỏe và tâm lý để mang thai.
Thứ hai, chính sách hạn chế việc gia tăng dân số, mỗi gia đình chỉ được phép có một con hoặc hai con. Vì luật này, những người có thai lần thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư sẽ buộc phải bỏ.
Thứ ba, vì bác sĩ nói rằng đứa bé sinh ra có thể không bình thường hoặc sẽ khuyết tật suốt đời hoặc nguy hiểm đến tính mạng của người mẹ.
Thứ tư, vì sợ đứa con sinh ra sẽ gây phiền phức, tốn kém tiền bạc, mất thì giờ chăm sóc, sợ chúng sẽ làm hỏng chương trình cha mẹ đã dự tính, hoặc vì một mục đích riêng tư nào đó.
Trước vấn nạn phá thai, một câu hỏi cấp bách đặt ra: Có nên cấm phụ nữ phá thai không? phá thai có phải là một hành vi tội ác, một hành động giết người? Đạo đức học đòi hỏi mỗi người phải cố gắng suy tư để tìm ra câu trả lời, nhưng tự mình suy tư không có nghĩa là muốn nghĩ sao cũng được, nhưng phải dựa trên nền tảng hay cơ sở nào đó. Một vài triết thuyết đạo đức học sau đây sẽ giúp định hướng vấn đề.
2. Phá thai dưới cái nhìn Đạo đức học
2.1. Theo thuyết Nữ quyền
Những người theo thuyết Nữ quyền có một khẩu hiệu đơn giản: “Cơ thể tôi là của tôi” nhằm khẳng định quyền tự quyết của họ. Nói cách khác, phụ nữ có quyền phá thai, vì thai nhi nằm ở trong bụng họ[3]. Quyền được phá thai là nền tảng cho sự tiến bộ của người phụ nữ. Đó là một trong những quyền chính yếu để phụ nữ có được sự bình đẳng với nam giới. Việc có thai ngoài ý muốn cũng giống như việc bạn gặp một người ăn xin ngoài đường, bạn không có trách nhiệm đạo đức phải giúp họ vì bạn không chủ động tìm đến họ. Vì thế, người phụ nữ cũng không có trách nhiệm đạo đức với việc mang thai nhi – cái thai mà mình không hề mong muốn. Đối với những người theo thuyết này, bất cứ thai phụ nào cũng đều có quyền tự do để chọn lựa. Họ cho rằng sẽ thật là bất công khi giới hạn sự tự do chọn lựa của người phụ nữ bằng việc cấm họ phá thai. Hơn nữa, những người chủ trương thuyết nam nữ bình quyền đều biết rằng sự sống con người bắt đầu trước khi sinh, nhưng ho dù đứa trẻ chưa chào đời có được coi là con người đi nữa, thì chúng vẫn có ít quyền hơn là người phụ nữ. Do đó, người phụ nữ vẫn có quyền phá thai.
Hơn thế nữa, một đứa trẻ tồn tại trên đời chẳng có ý nghĩa gì khi mẹ ruột của nó không muốn nó tồn tại. Cơ thể là của người phụ nữ, sinh hay không sinh là quyết định của họ và chỉ họ mới có quyền cho đứa trẻ được chào đời hay không, chứ không phải chồng hay bố mẹ của cô ta. Chính quyền càng không có quyền can thiệp và không có ai có thể tự cho mình cái quyền đại diện cho thuần phong mỹ tục mà lên án vấn đề riêng tư và nhạy cảm này. Quả thế, trong xã hội có những trẻ sơ sinh bị vứt trong thùng rác, bị bỏ quên ở bệnh viện; có những gia đình, bà phải làm mẹ; có những đứa trẻ không có cơm ăn, không có áo mặc, không được đến trường, những đứa trẻ này lớn lên sẽ trở thành ai? thành chủ nhân tương lai của đất nước hay sao? Đất nước được lợi gì khi có những công dân như thế? Vì thế, đứa trẻ ấy có thể bị phá chứ đâu nhất thiết phải sống, vì nó sống cũng không được tôn trọng và không có vị trí nào trong xã hội. Mỗi một đứa trẻ đều là một đứa trẻ được mong muốn, nhưng sẽ là bất công cho các trẻ em nếu đem các em vào một thế giới mà không có ai mong muốn các em tồn tại. Tuy nhiên có một sự khác biệt giữa việc mang thai ngoài ý muốn và một đứa trẻ “không được mong muốn” sinh ra đời. Chuyện không được mong muốn chính là thái độ về phía người lớn. Vì thế, phải nói: điều bất công nhất đối với một đứa trẻ “không được mong muốn” chính là việc giết chết em bằng cách phá thai, không cho em được làm người. Việc có thêm nhiều những đứa trẻ không được mong muốn sinh ra trên đời này chỉ dẫn đến kết quả là các em sẽ bị lạm dụng và ngược đãi mà thôi. Do đó, chuyện phá thai được chấp nhận.
Tuy nhiên, thuyết Nữ quyền lại bộc lộ nhiều lỗ hổng. Bởi lẽ, trong thực tế, hầu hết những trẻ em bị ngược đãi đều đã từng được cha mẹ mong muốn cho các em được chào đời. Việc lạm dụng và ngược đãi trẻ em trong xã hội đã không giảm đi kể từ khi việc phá thai được hợp pháp hóa, mà trái lại nó càng gia tăng thêm một cách kinh khủng. Vậy thuyết Nữ quyền đúng chăng khi quá đề cao quyền tự quyết của người phụ nữ và áp đặt vị trí cũng như giá trị của đứa trẻ trong xã hội phải được nhìn nhận, để làm cái cớ bảo vệ cho việc phá thai.
Việc cho rằng phá thai làm giảm đau khổ của phụ nữ và tăng hạnh phúc gia đình họ cũng chỉ là phỏng đoán. Không ai biết chắc rằng sau khi phá thai người phụ nữ không bị ám ảnh vì vừa bỏ “một đứa con tiềm năng” của họ. Không ai chắc rằng sự kiện này không ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng và các mối tương quan khác trong gia đình. Điều quan trọng hơn, việc nạo thai có thể gây hại sức khỏe cho người phụ nữ, nếu nghiêm trọng dẫn đến vô sinh trong tương lai. Chính vì vậy, không biết chắc việc phá thai có thể mang lại hạnh phúc nhiều hơn việc giữ lại thai hay không?
Việc lấy lý do “cơ thể tôi là của tôi” hãy để người phụ nữ được tự do phá thai cũng bị thách thức. Xét về quan hệ quyền lực giữa người phụ nữ và phôi thai là không công bằng. Việc một người trưởng thành, có đầy đủ ý chí và có quyền lựa chọn quyết định loại bỏ cuộc sống của một phôi thai có thể có mong muốn sống, gây ra một phản ứng trái chiều. Do đó, nếu cho rằng phá thai là phá bào thai trong bụng tôi, chứ không phải của người khác, nên không phải là giết người thì hành vi đó khác chi khi bảo rằng thụt két ngân khố quốc gia, không phải của riêng ai, nên không phải là ăn cắp, và cũng tương tự, chuyện ăn ngủ với người khác không phải vợ hay chồng mình, nhưng chỉ vì người đó rất yêu mình, nên không phải là ngoại tình, thì thật sai lầm đến nguy hiểm. Do đó, xét trên phương diện thực chất của hành động, phá thai chắc chắn đủ yếu tố cấu tạo thành một hành động giết người thực sự.
Phá thai không bao giờ là một sự lựa chọn cá nhân, bởi lẽ luôn có ít nhất hai người liên can với phôi thai: hai người đã truyền đi sự sống và quyết định, một mình hoặc với nhau để trục xuất sự sống đó. Khi phủ nhận quyết định thai nhi còn nhỏ, nên không có chiều kích xã hội, thì cũng tương đương với việc phủ nhận con người không hề có xã hội tính. Khi tính dục và việc phủ nhận rằng con người không chịu trách nhiệm về việc sử dụng nó trở thành một chọn lựa cá nhân, thì khi ấy, toàn bộ đời sống tính dục sẽ bị bóp méo và giảm giá trị. Ai sẵn sàng loại bỏ sự sống con người như loại bỏ một thứ hàng hóa, thì họ cũng coi tất cả đời sống con người chỉ là một thứ hàng hóa không hơn không kém.
Như đã nói trên, quyền được phá thai là nền tảng cho sự tiến bộ của người phụ nữ và là một trong những quyền chính yếu để họ có được sự bình đẳng với nam giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những người ủng hộ thuyết nam nữ bình quyền một cách chân chính lại chính là những người bảo vệ sự sống đích thực. Họ rất tích cực, mạnh mẽ và gay gắt chống lại việc phá thai. Mà quyền của người phụ nữ thì không bao giờ được liên kết với quyền phá thai cả. Chính những lý lẽ căn bản của phong trào ủng hộ quyền phá thai thực ra đang làm giảm đi phẩm giá của người phụ nữ. Người ta đang cố đưa ra rất nhiều giải pháp nhằm liên kết các phúc lợi của người phụ nữ với việc phá thai, như viên thuốc ngừa thai và việc tự do tình dục, nhưng kết quả, họ đã sai lầm. Một số đường lối, sách lược của phe ủng hộ quyền phá thai đã thừa nhận sự bất lực đáng thương của người phụ nữ, và biến họ trở nên đối tượng của sự ngu dốt và bóc lột. Mỗi người phụ nữ có quyền kiểm soát chính thân thể của họ, nhưng trên thực tế, việc phá thai đã quả quyết rằng, hàng chục triệu người phụ nữ trên toàn thế giới không hề có chút quyền kiểm soát nào trên chính thân thể của họ. Ngược lại, sẽ là một điều làm tổn thương phẩm giá và lòng tự trọng của người phụ nữ nếu xem chuyện mang thai như là một điều gì đó bất bình thường, tiêu cực hay nằm ngoài vòng kiểm soát trên chính thân thể của họ. Lý do phá thai để tránh rơi vào sự nghèo khổ chỉ là một cách lập luận giả trá, mang tính nguỵ biện. Nó ngăn cản người phụ nữ và cả xã hội không cần nỗ lực để đạt tới những giải pháp tích cực khác, thay vì lựa chọn phá thai.
Tất cả những lý luận trên làm cho thuyết Nữ quyền trở nên yếu thế, luôn phải xem xét và lượng giá lại một cách nghiêm túc, thận trọng.
Mọi cá nhân đều có quyền hoàn toàn làm chủ cơ thể mình, bao gồm cả hệ thống sinh sản, miễn là không phương hại tới quyền làm chủ cơ thể của người khác. Họ cho rằng cái thai chưa sinh không thể được coi là một con người thật sự và rằng cơ thể của ai thì người đó có toàn quyền. Họ có quyền giữ hay bỏ cái thai, nhất là những người mang thai không mong muốn như hiếp dâm, vỡ kế hoạch, hay do điều kiện kinh tế eo hẹp. Dưới lăng kính của Vị kỷ, việc phá thai là một điều hợp lý vì sẽ dẫn đến hạnh phúc cá nhân và không ảnh hưởng gì đến lợi ích chung của tập thể. Do đó, nếu ai ngăn cản việc phá thai thì vi phạm nghiêm trọng đến quyền cá nhân. Cũng theo thuyết này, người phụ nữ đang chu toàn bổn phận của họ là làm thăng tiến tư lợi một cách trực tiếp. Phá thai vì thế là một dạng lợi ích cá nhân dài hạn đối với người phá thai.
Hành vi phá thai lại đi ngược với Đạo đức học “Luật tự nhiên” (Ethics of Natural Law). Luật tự nhiên ở đây được hiểu như là khuynh hướng phát triển hay những gì tự nó là tốt và đúng cho bản chất của một hữu thể. Bản chất của luật tự nhiên của con người là tận dụng lý trí để đạt đến các mục tiêu mà con người tin rằng sẽ mang lại hạnh phúc[4]. Như vậy việc hiểu hành vi phá thai đi ngược với luật Đạo đức tự nhiên chính là do việc lấy khái niệm tự nhiên chồng lên khái niệm Đạo đức tự nhiên, thực ra Đạo đức tự nhiên không quy định hành vi con người nhưng hướng con người đến những vai trò và hành vi dẫn đến hạnh phúc con người.
Liệu một người chỉ chú ý đến lợi ích của bản thân mà tước đoạt đi sự sống của người khác, trong khi người đó không có khả năng tự bảo vệ mình, thì có phải là một hành động đáng để ủng hộ. Thuyết Vị kỷ sai lầm và sinh ra nhiều bất cập trong cách giải quyết vấn đề.
Thuyết Vị lợi, mỗi người phải có bổn phận và trách nhiệm lo cho chính mình về đời sống vật chất, tinh thần, sau đó mới lo cho người khác, bằng những cách thế khác nhau, tùy hoàn cảnh. Mục tiêu của thuyết Vị lợi là mang đến lợi ích tốt nhất cho nhiều người trong xã hội. Học thuyết nhằm định hình xã hội tốt hơn, xã hội tốt đó phải có mục tiêu giảm thiểu đến mức có thể các đau khổ trong nó và thúc đẩy hạnh phúc của tất cả, hay ít nhất là của đại đa số. Nếu thông qua một biện pháp hay một hành động mà càng thu được nhiều hạnh phúc so với số bất hạnh xảy ra thì biện pháp hay hành động đó càng vị lợi. Hành vi là hành vi đem lại lợi ích tốt nhất, và một hành động là đúng là khi hành động đó gia tăng lợi ích, là sai khi gia tăng điều bất lợi. Nếu một hành động không gây hại cho tập thể, nhưng đem đến hạnh phúc cho người thực hiện hành động thì thuyết Vị lợi hoàn toàn ủng hộ. Tiền đề chung như vậy đối với đạo đức ở những người theo chủ nghĩa Vị lợi là nguyên tắc tối đa hóa hạnh phúc chung hay đơn giản là nhân gấp bội tổng số phúc lợi củamọi người. Theo Vị lợi, những kẻ đáng bị phán xét là những người không góp phần làm gia tăng hạnh phúc chung[5].
Trả lời cho câu hỏi có được phép phá thai hay không, thuyết Vị lợi lý luận: Phá thai không gây hại gì cho ai, có thể mang lại nhiều hạnh phúc hơn là bất hạnh cho thai phụ, cũng như giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Vì để kiểm soát tình trạng gia tăng dân số tại một số quốc gia, nhà chức trách đưa ra dự luật và cho phép phá thai. Họ lập luận, phá thai sẽ đem lại lợi ích chung cho cả xã hội. Giả như chưa có chồng, người phụ nữ sinh con không những chịu vất vả về vật chất, mà còn bị đay nghiến bởi gia đình và xã hội, nhất là thai phụ đó sống trong các gia đình và cộng đồng bảo thủ, coi trọng lễ giáo, tập tục, truyền thống. Họ có thể rơi vào ngõ cụt bởi những thành kiến của những người xung quanh. Nếu giữ lại thai nhi, họ có thể gặp khó khăn về kinh tế, thậm chí có thể bị tước mất cơ hội thăng tiến trong cuộc sống. Rõ ràng, đau khổ của người phụ nữ là có thật, còn đau khổ của thai nhi chỉ ở dạng tiềm năng. Nếu mang ra cân đong đo đếm, Vị lợi thuyết nhìn nhận phá thai là một việc chính đáng và nên làm.
Tuy nhiên, thuyết Vị lợi nhanh chóng bị phản bác ở một vài điểm. Thoạt nghe, Vị lợi có vẻ hợp lý, nhưng do khá nhiều người chỉ biết sơ sơ về Vị lợi mà không hiểu tường tận những hậu quả tai hại mà nó mang lại cho xã hội, khi ý tưởng thuần túy của nó được thực thi triệt để. Chẳng hạn, nếu bạn là người tin vào ý tưởng cơ bản của Vị lợi, thì bạn sẽ phải sắm vai kẻ giết người nhiều lần trong đời để thỏa mãn niềm tin của mình. Cũng thế, người mang thai có trách nhiệm về hành động của mình lại được thêm một cơ hội để vui chơi, trong khi thai nhi không có trách nhiệm gì lại bị tước đoạt cách dã man cơ hội làm người duy nhất của mình.
Hơn nữa, hành vi của chúng ta có hậu quả trên những người chung quanh, tác động trên cách suy nghĩ người khác. Ví dụ một người phụ nữ có thai siêu âm biết cái thai bị hở hàm ếch, sứt môi là một tật chữa được, nhưng bà ta nhất định phá thai. Hành vi này sẽ tác động trên tập thể, làm cho người ta quen đi và chấp nhận việc phá thai, vì có một khuyết điểm nào đó, có con nhưng phải có con như mình muốn. Hơn nữa, chính phần vụ của xã hội là phải báo cho mọi người biết rằng ngoài mối nguy hại về luân lý và tâm lý, việc phá thai còn ảnh hưởng trên nhiều người, và nếu làm gián đoạn việc mang thai thì có thể có những biến chứng nghiêm trọng. Việc phá thai nhiều lần gây ra mức độ rủi ro sinh sớm cao hơn cũng như các biến chứng khác ở những lần sinh sau.
Tình huống cho rằng phá thai là để việc kiểm soát tỷ lệ gia tăng dân số đã bị phản bác gay gắt. Việc phá thai giúp giải quyết vấn nạn về tình trạng đông dân số và để nâng cao chất lượng cuộc sống. Riêng đối với nước Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới, tỉ lệ sinh đẻ hiện tại vẫn hãy còn rất thấp để cần thiết duy trì về mức độ gia tăng dân số. Ngược lại, sự giảm thiểu đáng kể trong tỉ lệ sinh đẻ lại sẽ có ảnh hưởng rất xấu đối với nền kinh tế của từng quốc gia ấy. Thật ra, tình trạng quá đông dân trong một nước là do những vấn nạn khác gây ra. Mà giả như có một vấn nạn liên quan đến dân số có ảnh hưởng tai hại đến chất lượng cuộc sống chúng ta, thì giải pháp đúng đắn không phải là giết chết đi một phần dân số của quốc gia đó. Khái niệm về chất lượng của cuộc sống chỉ là một cách ngụy tạo mà thôi. Người ta nguỵ biện, viện dẫn đến tiêu chuẩn này để phá huỷ chính sự sống.






