MỚI

13:25
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogSống ĐạoSự thật về đức đồng trinh trọn đời của Đức Maria

Sự thật về đức đồng trinh trọn đời của Đức Maria

dttd1
 Wikimedia Commons


Hầu hết các Kitô hữu, bao gồm cả nhiều người Công giáo, không tin vào tín điều về sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria. Nhiều người đưa ra những minh chứng trong các sách Tin Mừng đề cập đến anh chị em của Chúa Giêsu, tin rằng điều này hoàn toàn trái ngược với giáo huấn về tín điều.

Chẳng phải Người là thợ mộc, con trai của Đức Maria, và là anh em của Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simon sao? Và chẳng phải các chị em của Người đang ở đây với chúng ta sao? (Mc 6:3)

Bên ngoài, đoạn trích từ Tin Mừng Marcô này chắc hẳn có vẻ bác lại giáo lý trên. Nhưng ngay từ những ngày đầu, Giáo Hội đã cho rằng Đức Maria là một trinh nữ trọn đời. Đức đồng trinh trọn đời của Đức Maria đã được tuyên bố là tín điều của đức tin Công giáo chúng ta tại Công đồng Constantinople II vào năm 553 sau Công nguyên.

Để chứng minh rằng tín điều về sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria thực sự đúng đắn, cần phải phân tích một số đoạn trích từ cả Tân Ước và Cựu Ước cũng như trích dẫn từ các Giáo phụ đầu tiên.

Đoạn Kinh Thánh đầu tiên trong số này xuất phát từ Tin Mừng Luca.

Vào tháng thứ sáu, thiên thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến một thành miền Galilê tên là Nazarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Đavid, và tên của trinh nữ là Maria. Và đến với trinh nữ, thiên thần nói, “Mừng vui lên, Đấng được ân sủng! Thiên Chúa ở cùng bà!” Nhưng bà rất bối rối về những gì đã được nói và tự hỏi lời chào này có nghĩa gì. Sau đó, thiên thần nói với trinh nữ, “Đừng sợ, Maria, vì bà đã được ân sủng trước mặt Thiên Chúa. Này, bà sẽ thụ thai trong lòng mình và sinh một con trai, và bà sẽ đặt tên cho con mình là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con của Đấng Tối Cao. Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng của Đavid, tổ tiên Người, và Người sẽ cai trị nhà Giacóp đến muôn đời; và vương triều của Người sẽ không bao giờ kết thúc.” Maria nói với thiên thần, “Làm sao điều đó có thể xảy ra, vì tôi không biết đến việc vợ chồng?(Lc 1:26-34)

Câu trả lời của Đức Maria với thiên thần Gabriel có vẻ kỳ lạ không khi xét đến việc Mẹ đã đính hôn với Thánh Giuse? Câu trả lời của Đức Maria với thiên thần Gabriel cho thấy Mẹ chưa từng ăn ở với bất kỳ người nam nào và ngụ ý mạnh mẽ rằng Mẹ cũng không có ý định như vậy trong tương lai. Trong văn hóa Do Thái thời đó, Đức Maria và Thánh Giuse đã đính hôn nhưng vẫn chưa chung sống. Sự sắp đặt đời sống tạm thời này thường kéo dài từ sáu đến mười hai tháng.

Điều quan trọng cần lưu ý là trong đoạn này, thiên thần Gabriel không nói rõ khi nào Mẹ sẽ thụ thai. Vậy thì câu trả lời của Đức Maria có ý nghĩa gì khi biết rằng Mẹ cũng sẽ sớm chung sống với Thánh Giuse như vợ của ngài?

Câu trả lời đó chỉ có ý nghĩa nếu Đức Maria đã khấn hứa đồng trinh trọn đời như một số phụ nữ đã kết hôn thời đó từng làm. Nền tảng Kinh Thánh cho lời khấn hứa đồng trinh như vậy có thể được tìm thấy trong chương 30 của Sách Dân số.

Nếu người nữ kết hôn khi đang giữ lời khấn hứa (đồng trinh) mà cô đã tự ràng buộc mình, và chồng cô biết được điều đó, nhưng không nói gì với cô vào ngày người đó biết được, thì lời khấn hứa mà cô đã tự ràng buộc mình vẫn có hiệu lực. (Ds 30:7)

Do đó, nếu Đức Maria đã thề giữ lời khấn hứa đồng trinh trước khi đính hôn với Thánh Giuse, và thông báo cho Thánh Giuse về lời khấn hứa đó, và ngài không phản đối vào ngày Mẹ nói với ngài về điều đó, thì lời khấn hứa đồng trinh của Mẹ vẫn có gia trị và có hiệu lực.

Điều này dường như hoàn toàn có thể xảy ra khi xét đến truyền thống của Giáo Hội, theo đó Đức Maria khi còn rất nhỏ, có thể chỉ mới ba tuổi, đã được cha mẹ gửi đến đền thờ để nuôi dưỡng. Vì vậy, Mẹ sẽ sẵn sàng sống cuộc đời đồng trinh.

Tuy nhiên, có một số đoạn trong Tin Mừng dường như chứng minh cho tuyên bố rằng Đức Maria đã có những đứa con khác sau khi sinh Chúa Giêsu. Sau đây là một đoạn khác có vẻ ủng hộ những tuyên bố như vậy.

Khi Giuse thức dậy, ông đã làm như thiên thần của Chúa đã truyền cho ông và đưa vợ về nhà mình. Ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai; và ông đặt tên cho con trai là Giêsu. (Mt 1:24-25)

Từ ngữ chính trong đoạn này là “cho đến khi.” Trong từ điển tiếng Anh (và các ngôn ngữ khác) ngày nay, nghĩa của từ “cho đến khi” ngụ ý rằng điều đúng cho đến một thời điểm cụ thể thì không còn đúng nữa sau thời điểm đó.

Ví dụ, cụm từ “Bill nói rằng anh ấy chưa bao giờ bỏ phiếu bầu cho đến khi anh ấy hai mươi mốt tuổi,” ngụ ý rằng Bill đã bỏ phiếu sau khi anh ấy hai mươi mốt tuổi.

Bản văn gốc tiếng Hy Lạp của các sách Tin Mừng được viết bằng tiếng Hy Lạp Kione, ngôn ngữ phổ biến của miền đông Địa Trung Hải vào thời điểm đó. Từ tiếng Hy Lạp được sử dụng trong câu này cho “cho đến khi” là heos, và nghĩa của từ đó không đưa ra lời khẳng định nào như vậy về giai đoạn sau thời điểm tham chiếu của nó, mà chỉ là thời điểm trước đó.

Sau đây là hai ví dụ trong Tin Mừng Matthêu để minh chứng cho quan điểm này.

Chúa phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu ta, cho đến khi (heos) ta đặt kẻ thù con dưới chân con. (Mt 22:44)

Phải chăng câu này có nghĩa là Chúa Giêsu sẽ không ngồi cạnh Cha của Người sau khi kẻ thù của Người bị đặt dưới chân Người ? Tất nhiên là không. Ý nghĩa của từ này chỉ ám chỉ đến thời điểm trước khi kẻ thù của Người bị đặt dưới chân Người!

Đây là minh chứng thứ hai mà Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ của Người.

Và này đây, Thầy ở cùng các con luôn mãi, cho đến khi tận thế. (Mt 28:20)

Phải chăng điều này có nghĩa là Chúa Giêsu sẽ không ở cùng các môn đệ của Người sau khi tận thế? Một lần nữa, tất nhiên là không! Vì vậy, chúng ta phải lưu ý rằng cách hiểu hiện tại của chúng ta về ý nghĩa của từ “cho đến khi” không giống với cách hiểu của những người sống ở Israel vào thế kỷ I!

Bây giờ, nếu Đức Maria thực sự đã khấn hứa trọn đời giữ mình đồng trinh, và Thánh Giuse “không ăn ở với bà cho đến khi bà sinh một con trai,” thì thật có lý khi cho rằng Thánh Giuse đã chấp nhận lời khấn hứa đồng trinh của Mẹ. Suy cho cùng, Thánh Giuse là một người công chính sẽ không vi phạm lề luật như được đề cập trong Sách Dân số:

Tuy nhiên, nếu người chồng hủy bỏ chúng (lời khấn hứa đồng trinh) sau khi lần đầu biết về chúng, ông sẽ phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của bà. (Ds 30:16)

Nếu Đức Maria đã khấn hứa giữ mình đồng trinh, điều được ám chỉ mạnh mẽ trong cuộc đối thoại của Mẹ với thiên thần Gabriel, và Thánh Giuse không phản đối lời khấn hứa đó vào ngày ngài biết về nó, thì bất kỳ mối quan hệ vợ chồng nào với Đức Maria của Thánh Giuse đều sẽ dẫn đến tội lỗi của ngài, điều này càng củng cố thêm cho lập luận về sự đồng trinh trọn đời của Mẹ.

Nhưng những yếu tố như thế giải thích thế nào về đoạn này trong Tin Mừng Marcô?

Ông không phải là thợ mộc, con trai của bà Maria, và là anh em của Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simon sao? Và các chị em của ông chẳng ở đây với chúng ta sao? (Mc 6:3)

Các từ khóa trong đoạn này là “anh trai” và “chị em.” Từ tiếng Hy Lạp chỉ anh em và chị em trong các bản văn này là adelphoi, được sử dụng chủ yếu – nhưng không phải là duy nhất – để mô tả anh em và chị em ruột. Đôi khi nó được dùng để miêu tả anh em cùng cha khác mẹ, chị em cùng mẹ khác cha hoặc anh chị em họ.

Trên thực tế, các sách Tin Mừng cho rằng cái gọi là “anh em” của Chúa Giêsu thực chất là con cái của một người phụ nữ khác cũng tên là Maria. Rất có thể là vợ của anh trai Thánh Giuse, tên là Clopas. Điều đó sẽ khiến bà Maria khác này trở thành chị dâu của Đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu. Đoạn sau đây trong Tin Mừng Marcô về cuộc đóng đinh cung cấp thêm bằng chứng:

Cũng có những người phụ nữ nhìn từ xa. Trong số họ có Maria Mácđala, và Maria mẹ của Giacôbê thứ và của Giôxết, và bà Salomê. Những người phụ nữ này đã theo Chúa khi Người ở Galilê và phục vụ Người. (Mc 15:37, 40-41)

Trong đoạn Tin Mừng trên, bà Maria khác này được gọi là mẹ của hai người con trai có tên trùng với chính những cái tên được trích dẫn trong Mc 6:3 trước đó. Ngoài ra, bà Maria này còn được nhắc đến là đã “đi theo Chúa khi Người còn ở Galilê và phục vụ Người,” chi tiết như thế sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu đoạn này ám chỉ đến Mẹ của Người.

Và sau đó là đoạn này từ Tin Mừng Gioan:

Đứng cạnh thập giá của Chúa Giêsu là mẹ của Người, và chị của mẹ Người là Maria, vợ của Clopas, và Maria Mácđala. Khi Chúa Giêsu nhìn thấy mẹ mình và môn đệ mà Người yêu, Người nói với mẹ mình, “Này bà, đây là con của bà.” Rồi Người nói với môn đệ, “Đây là mẹ của con.” Và kể từ giờ đó, người môn đệ đã rước bà về nhà mình. (Ga 19:25-27)

Trong đoạn này, bà Maria kia được xác định là chị của mẹ Chúa Giêsu. Rất khó có khả năng Thánh Anna, mẹ của Đức Maria, có hai người con gái đều tên là Maria. Rất có khả năng là đoạn này ám chỉ đến “người chị gái” có nghĩa là chị dâu. Do đó, con của bà này sẽ là anh em họ của Chúa Giêsu thông qua hôn nhân.

Hơn nữa, trong chương 15 của sách Công vụ Tông đồ, Giacôbê còn được nhắc đến là người lãnh đạo của Giáo Hội tại Giêrusalem. Truyền thống của Giáo Hội luôn cho rằng Giacôbê này cũng là một tông đồ và là anh em họ của Chúa Giêsu cùng với anh trai của ông là Giuđa (không nên nhầm lẫn với Giuđa Iscariot).

Điều này xác nhận ba trong số bốn “anh em” – Giacôbê, Giôxết và Giuđa – là anh em họ của Chúa Giêsu chứ không phải là anh em ruột của Người!

Bằng chứng cuối cùng để chứng minh rằng Chúa Giêsu không có anh chị em ruột là việc Chúa Giêsu trao mẹ của Người cho người môn đệ được Người yêu. Nếu Chúa Giêsu có anh chị em ruột, thì Người đã không làm như vậy. Một hành động như vậy sẽ thể hiện sự thiếu tôn trọng to lớn đối với cả Mẹ và anh chị em của Người, theo các chuẩn mực và phong tục của xã hội Do Thái thời bấy giờ.

Sau đây là một trích dẫn về điểm này của Thánh Athananisô, người được cho là đã viết phần lớn Kinh Tin Kính Nicêa mà chúng ta đọc trong Thánh lễ mỗi Chúa nhật.

Vì nếu Mẹ có những người con khác, Đấng Cứu Thế sẽ không bỏ rơi anh em mình và giao phó Mẹ của Người cho người khác; Mẹ cũng sẽ không trở thành mẹ của người khác. Mẹ sẽ không từ bỏ con mình để sống với người khác, vì Mẹ biết rõ rằng việc bỏ rơi chồng hoặc con mình là không đúng với một người phụ nữ. Nhưng vì Mẹ là một trinh nữ và là Mẹ của Người, nên Người đã trao Mẹ làm mẹ cho môn đệ của mình, mặc dù Mẹ không thực sự là mẹ của Gioan, vì đức trong sáng tuyệt vời về nhận thức của ông (Gioan) và vì đức đồng trinh vẹn tuyền của Mẹ. (Về đức đồng trinh, Athanasiô)

Một lập luận cuối cùng ủng hộ Tín điều về sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria có thể được tìm thấy trong Cựu Ước. Và nó liên quan đến Hòm bia Giao ước. Đối với những ai trong số các bạn không quen thuộc với Hòm bia Giao ước, thì đó là một vật chứa mà Thiên Chúa đã hướng dẫn người Israel xây dựng, được làm bằng gỗ keo và dát vàng nguyên chất. Hòm bia này có bốn chiếc nhẫn đúc bằng vàng được gắn vào cùng với hai cây sào làm bằng gỗ keo và cũng được dát vàng.

Những cây sào này được luồn qua các vòng ở hai bên hòm bia, với mục đích để vận chuyển hòm bia. Chỉ có các tư tế mới được phép khiêng hòm bia. Một khi các cây sào đã được luồn qua các vòng, chúng sẽ không bao giờ được tháo ra. Bên trong hòm bia là các tấm bia đá ghi Mười Điều Răn, một số manna từ trời và cây gậy của Aaron.

Không ai được phép chạm vào hòm bia này vì nó chứa đựng sự hiện diện của Thiên Chúa, vinh quang shekinah [thuật ngữ được tìm thấy bên ngoài Kinh Thánh trong các bản thảo rabbinic (học giả Do Thái)] thể hiện sự hiện diện của Thiên Chúa như một trụ mây phía trên hòm bia vào ban ngày và một trụ lửa phía trên vào ban đêm. Sau đây là một câu chuyện từ Sách Sử biên niên I khi không may có người đã làm như vậy:

Khi họ đến sân đạp lúa của Kiđon, Útgia giơ tay ra để giữ cho hòm không bị nghiêng vì những con bò đang làm đổ hòm bia. Sau đó, Chúa nổi giận với Útgia và đánh phạt ông, vì ông đã đặt tay lên hòm bia; ông đã chết tại đó trước sự hiện diện của Thiên Chúa. (1Sbn 13:9-10)

Bây giờ nếu Útgia chết chỉ bằng cách chạm vào hòm bia bằng tay, thì chẳng hợp lý sao khi Đức Maria, người, với tư cách là một chiếc bình tinh tuyền và thánh thiện theo đúng nghĩa của mình, đã mang nơi cung lòng trinh nguyên của mình Con Thiên Chúa trong chín tháng, sẽ mãi mãi là một trinh nữ thánh thiện và không vết nhơ trong suốt cuộc đời của Mẹ?

Như đã chỉ ra ở phần đầu bài viết này, Giáo Hội ngay từ những ngày đầu đã tin vào sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria. Sau đây là một câu trích dẫn từ thế kỷ IV của Thánh Giêrônimô, người tin tưởng mạnh mẽ vào sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria.

Bạn có muốn biết làm thế nào mà Người được sinh ra từ một trinh nữ và làm thế nào, sau khi sinh ra, Mẹ của Người vẫn còn đồng trinh? Các cánh cửa đã bị khóa, nhưng Chúa Giêsu đã vào. Không còn nghi ngờ gì nữa, các cánh cửa đã bị khóa. Đấng đã vào qua các cánh cửa bị khóa không phải là một bóng ma hay một vong hồn mà là một thân xác thực sự. Vì sao Người lại nói? “Hãy nhìn Thầy và thấy rằng ma không có thịt và xương như Thầy.” (Bài giảng về Gioan, Giêrônimô)

Thật không quá khi nói nằng thánh nhân là người thông thạo về Kinh Thánh. Thánh Giêrênimô không chỉ là một Kitô hữu thời kỳ đầu mà còn là một giáo phụ quan trọng. Là một nhà ngôn ngữ học phi thường, ngài là người chịu trách nhiệm dịch tất cả các sách Cựu Ước và Tân Ước sang một ngôn ngữ phổ biến, tạo nên bản Kinh Thánh Vulgate (Phổ thông) bằng tiếng Latin.

Tóm lại, bài viết này nhấn mạnh rằng phần lớn sự hoài nghi về sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria có thể là do không hiểu được sự khác biệt về ý nghĩa của các từ tiếng Hy Lạp Kione có nghĩa là “cho đến khi” (heos) và “anh em” và “chị em” (adelphoi) khi được dịch sang tiếng Anh (và các ngôn ngữ khác).

Ngoài ra, còn có một số khác biệt về văn hóa khiến chúng ta bối rối – chẳng hạn như phụ nữ đã đính hôn từng phải khấn hứa giữ mình đồng trinh cũng như nỗi xấu hổ mà một người phụ nữ phải chịu khi được một người khác ngoài con cái của mình chăm sóc, nếu con cái như vậy có tồn tại.

Đức Maria là một trinh nữ cũng như Con của Mẹ là một người giữ đức khiết tịnh! Chúng ta hãy gạt bỏ mọi nghi ngờ về sự đồng trinh trọn đời của Đức Maria và tin vào giáo huấn quan trọng này của Giáo Hội. Bằng cách làm như vậy, chúng ta thêm phần tôn vinh Mẹ và tôn vinh Chúa chúng ta!

Tác giả: Phó tế Frank – Nguồn: Catholic Exchange (17/02/2025)
Chuyển ngữ: Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Chia sẻ MXH:
CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031