Lc 24, 13-35
Mộ trống và những lần hiện ra chớp nhoáng mà mục đích chính là để “sai đi” không đủ thuyết phục để cả các tông đồ tin chắc là Đức Giêsu sống lại thật. Tác động mạnh mẽ của Chúa Phục Sinh bằng Thần Khí qua công thức được công nhận là “Người đang (vẫn) sống, đang hiện diện và hoạt động bằng Thần Khí của Người” mới thật sự làm cho họ tin.. Câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmaus là một công thức khác để nhận ra Chúa Phục Sinh đối với những người ở các thế hệ sau là” Kinh Thánh (Phúc Âm) và Thánh Thể “. Trước khi có Phúc Âm thì Kinh Thánh là Môsê và các tiên tri, khi có Phúc Âm thì Phúc Âm là chính Chúa Giêsu.
Các đoạn chính của bài Phúc Âm:
Đang khi họ trò chuyện và bàn tán thì Đức Giêsu tiến đến và cùng đi với họ, nhưng họ không nhận ra vì còn bị che khuất: về sau từ từ hình thành công thức Phục Sinh : Người vẫn sống, hiện diện và hoạt động bằng Thần Khí của Người.
Đấng Kitô chẳng phải chịu khổ hình rồi mới được vinh quang sao? Rồi Nguời bắt đầu giải thích Kính Thánh cho các ông nghe từ Môsê cho đến các tiên tri tất cả những gì liên quan đến Người: Trước Đức Giêsu thì Kinh Thánh là Môsê và các tiên tri. Đó là những lời tiên báo mà nay đã được thực hiện.
Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ: Công thức của Bí tích Thánh Thể. Bản văn nầy được viết khi việc cử hành Thánh Thể đã vào nề nếp.
Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người…..Đức Giêsu hiện diện với nhân tính trong bí tích Thánh Thể. Nhưng không phải là Đức Giêsu như khi còn sinh tiền giữa các môn đệ lúc ở Galilê mà thân xác Người đã được biến đổi trở thành siêu nghiệm nên không thể nhận ra bằng “thấy” mà chỉ có thể bằng “biết” qua nghe giải thích Kinh Thánh.
Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó sao? Kinh Thánh và tác động của Thần Khí mới biến đổi làm cho lòng các bừng cháy .
Nhận ra Đức Giêsu mới hiểu việc Nguời làm và khi ấy họ mới tin . Tin thì hết mọi ngờ vực, lo âu, ưu phiền, thất vọng,chán nản. Họ phấn khởi đang đêm quây trở lại, không bỏ về quê nữa.
Các ông – chúng ta – đi dường, bàn tán, buồn sầu, thất vọng, chán nản….Người tiến lại đồng hành, tiếp xúc, trò chuyện… Người ở trong tha nhân, những người chúng ta gặp gở trong đời sống hằng ngày . “Người đang sống, hiện diện, hoạt động bằng Thần Khí của Người” mà chúng ta không nhận ra.
Không hiểu Kinh Thánh thì có rước lễ, ngay cả làm lễ hằng nghìn hằng triệu lần cũng vẫn không nhận ra Người vì cỏn bị che khuất.
Đức Giêsu hiện diện trong Phúc Âm. Đức Giêsu Galilê được Thần Khí mà Đức Giêsu Phục Sinh thở hơi ban cho khi Người hiện đến với các tông đồ. Thần Khí mà Đức Giêsu hứa sẽ “dẫn đưa các tông đồ dến sự thật trọn vẹn” đã từ từ trong bốn mươi ngày và mười ngày “nhắc các ông nhớ lại và hiểu thấu” những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm. Đem Đức Giêsu Phục Sinh ráp lại với Đức Giêsu Galile thì các ông biết và gặp lại Đức Giêsu trọn vẹn. Nhớ lại việc Người đã làm “tối thứ năm trước khi Người chịu chết”. Biết và nhận ra Chúa Giêsu Phục Sinh thì họ gặp Người và tin Người đã sống lại “đang sống, đang hiện diện và đang hoạt động” với họ và nhờ họ mà mọi người tin và trở thành tín hữu. Cộng đoàn tiên khởi được hình thành và lớn lên.
Những ngưới tin chịu phép rửa, hằng ngày nghe các tông đồ dạy dổ”học kinh thánh” và tham dự nghi lễ “bẻ bánh”. Và họ trở thành Ki Tô hữu và chính họ làm cho người khác thấy Chúa Kitô.
Nhờ tác động của Thần Khí, các tông đồ đã lấy các dữ liệu từ ký ức của mình mà phục chế Đức Giêsu và họ đã hiểu và đã rao giảng và cuối cùng đã ghi lại thành các sách Phúc Âm . Phúc Âm là Đức Giêsu. Chỉ có thể biết Đức Giêsu trong Phúc Âm ( không có tài liệu nào khác) còn gặp Đức Giêsu thì phải trong Bí tích Thánh Thể. Sau công thức ” Đức Giêsu đang sống, đang hiện diện, đang hoạt động nhờ Thần Khí” là công thức “biết Đức Giêsu nhờ Phúc Âm và gặp Đức Giêsu trong Bí tích Thánh Thề “.
Nhưng lại rất bí ẩn Phúc Âm khó hiểu quá. Cho tới ngày nay các vấn đề của các sách Phúc Âm cũng chưa ngả ngủ mặc dù đã có nhiều công khó để nghiên cứu và kết quả cũng khả quan nhưng vẩn còn phải tiếp tuc..
Ngày nay những nhóm học hỏi và chia xẻ Phúc Âm mọc lên rất nhiều ở khắp nơi và kết quả rất khích lệ , Nhưng nếu không có những nhà chuyên môn hướng dẩn thì có thể bị lệch lạc..
Đời sống Kitô hữu phải được nuôi dưởng bằng Phúc Âm và Thánh Thể (không phải chỉ Thánh Thể). Những người có trách nhiệm “mục tử” trước hết phải cố gắng cho con chiên ăn Lời Chúa như của ăn chính. Phụng vụ Lời Chúa dẩn người tín hữu tới Thánh Thể thì họ mới nhận ra Chúa Giêsu và mới có gặp gở với Người. Không biết thì không có gặp gở. Đại Hội dân Chúa tại Sài Gòn vừa qua cũng có lời cầu xin: “XIN CHO CHÚNG CON LỜI CHÚA”
CHÚNG TÔI XIN LÀM CHỨNG
Ga 20, 1, 1-9
Anh chị em thân mến,
Sau khi Chúa tử nạn, bị chôn vùi trong mồ ba ngày, các môn đệ rất thất vọng; họ muốn trở về với công việc của riêng mình. Đúng lúc đó, Chúa xuất hiện củng cố niềm tin cho họ, giúp họ hiểu Lời Chúạ Chính Chúa cặn kẻ giải thích Kinh Thánh cho họ và còn nhấn mạnh: Người phải thực hiện cho trọn Lời Kinh Thánh đã nói trong Cựu Ước…Đây chính là điều mà Hội Thánh mong muốn chúng ta suy niệm trong ngày Chúa nhật hôm nay
a/. Câu chuyện trên đường đi Êmaus:
Câu chuyện này ít ai biết, chỉ một mình Luca thuật lạị Câu chuyện xảy ra vào chiều ngày chúa nhật phục sinh, trên quảng đường từ Giêrusalem tiến về Ê mau, cách nhau lối 20 cs. Hai môn đệ cùng đi; một người tên Clêôphas, còn người kia không rõ tên… Họ đi một đổi đường rồi, Chúa Giêsu mới hiện ra và đi với họ, dù vậy họ chưa nhận ra là Chúạ Họ đang nói chuyện với nhau về biến cố Chúa tử nạn, họ đau buồn vì Chúa đã chết; họ chưa hiểu Người phải sống lạị Sau đó chính Chúa phải giải thích cặn kẻ cho họ Lời Kinh Thánh nói về Ngườị Lúc đó họ mới hiểu được; nhưng mãi cho tới khi Chúa cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra trao cho họ, mắt họ mới sáng lên và nhận ra là chính Chúa….
b/. Biến cố Chúa phục sinh đem lại hai điều cho các môn đệ của Chúa: Niềm vui vì Chúa phục sinh: câu chuyện hai môn đệ đi làng Ê mau là một bằng chứng. Lúc họ bỏ Giêrusalem mà đi, họ buồn nản thất vọng bao nhiêu, thì khi hiểu được Chúa sẽ sống lại, nhất là khi nhận ra người lúc bẻ bánh, các ông vui mừng còn hơn thế nữạ Trong mấy lần hiện ra khác tại nhà Tiệc Ly, có đông đủ các tông đồ và môn đệ, khi Chúa hiện ra cho các ông thấy, họ vui mừng xiết bao vì, họ chưa hiểu rõ Lời Kinh thánh và những gì Chúa nói trước, nên họ nghỉ cái chết của Chúa là chấm hết những ước mong giải thoát Israel của họ “mộng vàng tan bay”. Chính vì thế, Chúa phục sinh chính là niềm vui sướng hạnh phúc cho họ…. các môn đệ nhận ra: Chúa luôn sống và đồng hành với họ: Chúa đã sống lại, không giống như Ladarô được Chúa cho sống lại, vì Ladarô vẫn còn phải chết một lần nữạ Chúa sống lại với chính thân xác của Chúa ngày xưa, nhưng đã được thần hóa, không cần phải ăn phải uống, không lệ thuộc vào không gian và thời gian; và Chúa không phải chết nữạ Với thân xác đó, các môn đệ vẫn có thể sờ mó, đụng chạm được. Chính Chúa khi hiện ra trên bờ biển hồ Tibêriađê, Người vẫn ngồi ăn với các ông…Điều chúng tôi muốn nói ở đây chính là Chúa sống lại với thân xác đó, trong một cuộc sống khác, không dễ nhận ra, nhưng Người vẫn luôn đồng hành, hiện diện bên các ông, như chính lời Chúa nói: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế “. Trong mấy lần hiện ra khác, Chúa luôn ban bình an cho các môn đệ, an ủi khích lệ họ, để họ nhận ra người luôn đồng hành với họ…
Ai đã đọc cuốn sách: “Lữa thiêng Tây Nguyên”, thuật lại cuộc hành trình truyền giáo cho dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên của các cha thừa sai Paris, dưới quyền lãnh đạo của Đức Cha Cuénot, Giám mục địa phận Đông Đàng Trong (miền Trung Việt Nam); ngày hôm nay, ta gọi là địa phận Kontum. Thiên hồi ký này ghi lại cuộc hành trình truyền giáo từ năm 1850 – 1885 do cha Dourisboure thuật lạị Chúng ta sẽ thấy vô cùng cảm phục: Các vị truyền giáo sống giữa rừng thiêng nước độc, chịu đựng đủ mọi thứ hiểm nguy: ăn uống thiếu thốn, dả thú, bệnh tật, rình rập bắt bớ của quan quân triêu đình, thái độ e dè của kẻ ngoại cuồng tín. Vậy mà các ngài vẫn vững vàng. Lý do các ngài bền chí như thế, chắc chắn vì các ngài đã tin vững vàng Chúa Kitô đã chết và đã sống lại, để cho mọi người được sống. Trong khi đó, các bạn của cha Dourisboure, khi đến đây đã không sống quá 10 vì hung thần kiết lỵ và sốt rét rừng; chỉ có một mình cha sống được 35 năm mà thôi….
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Biến cố Chúa Kitô đã sống lại, đem lại niềm vui to lớn cho các tông đồ, các môn đệ. Biến cố này có phải cũng là niềm vui thực sự cho mỗi người kitô hữu chúng ta không?
CHÚA VẪN LUÔN ĐỒNG HÀNH
Ga 20, 1, 1-9
Anh chị em thân mến.
Trong trận bão cuối năm 2006 vừa qua, nếu có người nhìn thấy những gì cơn bão tàn phá, sẽ cảm nhận được sức mạnh hũy diệt của sức gió và con người không thể làm gì được. Nhìn thấy những hoan tàn đỗ nát của sự vật cùng với cảnh vất vả của những con người đang phải ở trong hoàn cảnh bị tàn phá, mọi người đều động lòng trắc ẩn trước những đau thương như thế. Biết bao nỗi thất vọng hằn sâu nơi những con người, vì họ đã mất tất cả, gia tài sản nghiệp có khi mất cả người thân, làm sao có thể sống được trong hoàn cảnh như thế. Nhưng hôm nay khi trở lại những nơi bị tàn phá đó, mọi người sẽ nhận ra được sức sống mới, tất cả mọi sự đều mới, cả con người cũng mới trong cách giao tiếp, trong nhận thức và trong niềm hy vọng mới. Không phải nhờ những nhà hảo tâm giúp đỡ mà họ được như thế. Những nhà hảo tâm giúp chỉ là thứ yếu, quan trọng, là chính những con người đã bị tàn phá đó có đủ can đảm đứng lên để tìm cho mình một hy vọng mới không, những con người đó có nhận ra được tình yêu thương mà nhiều người quan tâm đến mình không; khi nhận ra và họ quyết đứng lên làm lại cuộc sống, khi đó sự giúp đỡ của mọi người mới có được kết quả tốt.
Các Môn Đệ thất vọng chán nản, rồi xa anh em, buông xuôi tất cả, quay trở về với sự thất vọng mà không biết mình làm gì. Các ông chỉ còn biết phiền trách cho sự kiện, cho dù các ông biết mình không thể nào làm thay đổi. Chán nản đến nỗi các ông không còn nhận ra người bên cạnh mình là ai, buồn đến nỗi các ông không nghe thấy gì khi người bên cạnh khyên nhủ. Các ông cứ ôm mãi nỗi buồn, giữ mãi sự thất vọng chán nãn bên mình. Cũng may thay, chút tình người không bị sự thất vọng tống khứ đi, nên các ông còn nhận ra trời tối và mời người khách lạ trú ngụ. Chỉ cần một chút hy vọng một chút sự sống biết quan tâm đến người khác, các ông đã được tràn đầy hy vọng. Khi đó, các ông mới nhận ra, Thiên Chúa vẫn bên cạnh các ông, đồng hành với các ông, lo lắng cho các ông mọi việc. Cũng nhờ chút hy vọng đó, các ông đã can đãm đứng lên, quay trở lại với mọi người, làm lại cuộc đời cho mới hơn, tốt hơn với những gì các ông đã nhận được.
Mang thân phận làm người ai cũng có những lúc vui lúc buồn, lúc tràn trề hy vọng, lúc chán nản thất vọng. Trong cuộc sống, điều gì điều khiển con người, có phải là tất cả những sự kiện chóng qua đó, hay là lý tưởng sống mà mỗi người đã chọn.
Có những mỗi người tự buông xuôi hết tất cả vì thất vọng chán nãn: thất vọng vì những người chung quanh sống không tốt theo như mình tưởng nghĩ; thất vọng vì những điều mơ ước không đạt được; thất vọng vì những người chung quanh không ủng hộ ý kiến của mình; thất vọng vì công việc làm bị thất bại, thua lỗ. . . còn biết bao điều làm cho chúng ta thất vọng để rồi từ đó không còn biết cố gắng, trở nên người chán đời, tự hành hạ mình và người khác bằng nhiều cách mà nếu giờ nầy nhớ lại, mình không thể nào chịu nỗi. Khi đó chúng ta giống như các môn đệ mang tâm trạng nặng nề đặt lên những bước chân lê lết trở về làng quê. Chúng ta bỏ ngoài tai tất cả những lời động viên, bỏ qua không thể nghe được những lời nhắc nhở, kể cả những người bên cạnh còn không thấy có cảm tình thì làm sao lắng nghe được. Thất vọng càng chồng chất thất vọng và càng không lối thoát.
Trong những lúc như thế, có lần nào bản thân chợt giật mình sáng mắt, nhận ra tình trạng của mình để biết quay trở lại, làm lại, biết đứng lên rủ bỏ đi những gì làm nguy hại cho mình và cho người khác. Nếu chúng ta nhận ra Hồng ân Chúa qua những người bên cạnh, với tất cả tình yêu thương mà mọi người quan tâm chăm sóc, để rồi biết đền đáp cho xứng đáng. Nếu chúng ta cũng nhận ra được, còn biết bao người tốt trong cuộc sống và cũng còn biết bao nhiêu điều tốt đang chờ đợi, để bỏ đi những lời phiền trách nặng nề, bỏ đi những cử chỉ loại trừ gây đau lòng, để biết hành động vì yêu thương và biết chấp nhận mọi người, chấp nhận hoàn cảnh sống để vươn lên cùng với những người bên cạnh, thì thật là hạnh phúc cho chúng ta. Khi đó chúng ta đã nhận ra Chúa Trong cuộc sống, nơi sự việc và trong người khác, để biết vâng phục qua việc chu toàn những gì mình phải làm.
Xin Chúa soi sáng cho mỗi người, để biết nhận ra Chúa và luôn làm vui lòng Chúa trong cuộc sống.
Trong đời sống đức tin của người Kitô hữu, có rất nhiều việc chúng ta làm cách vô ý thức hay không chú tâm đủ. Rất nhiều lần, chúng ta làm những việc như đọc kinh, dự lễ, cầu nguyện . . . một cách máy móc, vô hồn và dĩ nhiên chẳng ích lợi gì cho chúng ta. Kết quả là chúng ta cảm thấy nhàm chán và mất đức tin với những công việc xem ra rất đạo đức ấy. Hoặc cũng có thể, chúng ta làm những việc xem ra rất đúng luật hay rất đúng với những Lời Chúa dạy, nhưng với mục đích khác: làm để được khen, để lấy uy tín, để nổi danh hay tìm một chỗ ẩn náu an toàn. Quả là đôi khi thân xác chúng ta ở bên Chúa mà lòng thì thật là xa Chúa: “Đồng sàng nhưng dị mộng”. Và dĩ nhiên, kết cuộc của những gì là tính toán, là vụ lợi, là ích kỷ . . . sẽ dẫn đưa con người vào ngõ cụt và bóng tối. Giuđa tông đồ là một mẫu gương cho chúng ta nhìn ngắm.
Hãy tỉnh ngộ!
Câu chuyện 2 người môn đệ trên đường Emaus trong đoạn Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta nhiều điều để suy gẫm trong chiều hướng “tỉnh ngộ” trong đời sống đức tin và bước đi theo Chúa.
Chúng ta thử hỏi mục đích của 2 môn đệ này bước đi theo Chúa và làm môn đệ của Chúa Giêsu là gì; có đúng với ý muốn của Chúa Giêsu khi kêu gọi họ bước theo Ngài không? Tôi nghĩ là không. Vì chính miệng lưỡi của họ đã nói lên nỗi niềm của họ khi được dịp tâm sự và thổ lộ : “Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel “. Chữ “cứu” ở đây theo ý của họ là giải thoát Israel khỏi sự đô hộ của Đế quốc Rôma đang cai trị đất nước của họ bằng con đường làm chính trị. Họ quan niệm Đấng cứu thế theo kiểu thế gian: Một Đấng Messia làm chính trị và được dành riêng cho Israel . Vì mang hy vọng hão huyền như thế, nên họ đâu thấy được Chúa thực hiện điều gì theo như điều họ muốn và nghĩ tưởng. Đây cũng là hy vọng và suy nghĩ của một số đông các tông đồ được Chúa kêu gọi và tuyển chọn trong Nhóm 12. Rõ ràng là “đồng sàng nhưng dị mộng”.
Không phải vì Chúa Giêsu không dạy hay không nói cho họ biết về sứ mạng của Ngài; cũng không phải Ngài không giáo dục họ về vai trò môn đệ của họ khi bước đi theo Ngài. Nhưng vì họ mải mê trong những dự tính riêng của mình nên không hiểu hay hiểu sai những lời Chúa dạy và những việc Chúa làm. Chẳng hạn, 2 anh em Giacôbê và Gioan luôn nuôi trong mình ước muốn là làm sao khi Đức Giêsu lập Quốc hay lên cai trị Israel , thì 2 anh em họ được một chỗ danh dự và cao trọng bên Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nghe họ bày tỏ tâm sự của mình với Chúa Giêsu khi có dịp tâm sự . Họ nói: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” (Mc 10,37). Những dự tính rất riêng, rất trần trục nhưng cũng là hy vọng và động lực của họ khi bước theo Chúa Giêsu. Và chính vì bước theo Chúa với những động lực và tính toán như thế, nên những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, những hành động minh chứng cho sứ mạng Messia đích thực của Ngài không được các môn đệ chú ý và hiểu cho đúng đắn. Nên khi Chúa Giêsu đi vào cuộc khổ nạn, thì các ông hoang mang, lo sợ và thất vọng.
Hãy tỉnh ngộ!
Vì tình yêu, Chúa Giêsu sau khi phục sinh từ cõi chết như lời Ngài đã tiên báo nhiều lần với các môn đệ không muốn để họ sống trong bóng đêm của sự chán chường và thất vọng, nên Ngài đã đến với họ và “mở mắt” tâm hồn cho họ. Ngài dùng chính Thánh kinh để dẫn đưa cho niềm tin của họ quay về. Ngài dùng tất cả những lời các ngôn sứ tiên báo về Ngài để soi lòng mở tr1i cho họ, nhưng họ vẫn chưa nhận ra Ngài. Vẫn còn là tối tăm. Chưa tỉnh ngộ! Rồi cũng chính vì tình yêu, Ngài dùng đến những cử chỉ thân ái nhất mà Ngài đã từng làm họ trong bữa Tiệc Ly “bẻ bánh trao cho các ông”.
Với sức mạnh của Lời Chúa và Thánh Thể, họ đã tỉnh ngộ và nhận ra Chúa Giêsu Phục sinh đang sống và đang đồng hành với họ trên nẻo đường họ đang tiến bước. Chúa Giêsu Phục sinh đã hiện hiện luôn với con người và làm cho lòng con người được bừng sáng ngọn lửa tin yêu và hy vọng. Nhất là Ngài làm cho họ nhận ra được Ngài đang sống và đang hoạt động với họ. Ngài đang đồng hành với họ và không bao giờ để cho họ chìm trong cô đơn hay tuyệt vọng. Niềm tin Phục sinh đã bừng lên xoá tan bóng đêm của thất vọng, nghi nan và sợ hãi.
Đây là bài học rất tuyệt vời cho người Kitô hữu chúng ta. Nhiều lúc trên hành trình tiến bước theo Chúa Giêsu, làm môn đệ của Ngài, chúng ta đã đắm chìm trong bóng đêm của thất vọng, của chán chướng và sợ hãi. Những khi đó, ta hãy tìm đến với Lời Chúa và với Thánh Thể của Chúa. Hơn nữa, đức tin của người Kitô hữu chúng ta không thể lớn lên và vững mạnh nếu chúng ta không thường xuyên tiếp nhận Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể Ngài. Hãy làm cho lòng ta được bừng sáng nhờ kết hợp với Chúa Giêsu Phục sinh cũng như hãy tỉnh ngộ với những động lực theo Ngài của chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta can trường và vững bước theo Ngài vì Ngài là Thiên Chúa hằng sống, đã Phục sinh vinh hiển cho chúng ta và vì chúng ta.






