-
- Giáo Hội Công giáo nhìn về hôn nhân đồng tính
“ … Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình.Và cả hai sẽ thành một xương một thit. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,4-6; Mc 10,6-8).
Giáo lý Giáo Hội Công giáo cũng dạy rằng: “Giao ước Hôn nhân, nhờ đó một người nam và một người nữ làm thành một cộng đoàn cho cả cuộc đời, tự bản chất nó hướng tới lợi ích của những người phối ngẫu cũng như hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Giao ước này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng Bí tích giữa những người đã lãnh nhận phép rửa tội” (x. SGLGHCG số 1601).
Không chỉ Kinh Thánh và Giáo lý khẳng định chân lý ấy mà cả Giáo luật của Giáo Hội cũng qui định rõ như sau:“Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích.” (x. Giáo luật số 1055 & 1).
Trưng dẫn những điều trên đây để đi đến một kết luận rằng: không có Giáo lý hay Giáo luật nào cho phép hôn nhân đồng tính (same sex marriage) giữa hai người nam hay hai người nữ mà một số lập trường đạo đức học cũng như một số quốc gia đang ủng hộ loại hôn nhân này. Có thể nói, đây là một sự suy thoái trầm trọng về luân lý và mục đích của hôn nhân, một định chế đã có từ lâu trong xã hội con người thuộc mọi nền văn hóa. Định chế đó chỉ nhìn nhận hôn nhân giữa một người nam và một người nữ mà thôi. Nhưng nay vì đạo đức suy đồi, hậu quả của trào lưu tục hóa(vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi, mà người ta muốn định nghĩa lại hôn nhân để công nhận “hôn nhân giữa hai người đồng tính” (homosexual, lesbian), một đổ vỡ to lớn về mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ “phải sinh sôi nảy nở cho thật nhiều và thống trị mặt đất” (St 1:28).
Trung thành với Giáo lý của Chúa, chắc chắn Giáo Hội sẽ không bao giờ thay đổi định chế hôn nhân để bảo vệ mục đích của gia đình, một Giáo hội tại gia (domestic church) và cũng là hình ảnh của gia đình trên trời.
Liên quan đến những người đồng tính, Giáo Hội không kỳ thị và loại bỏ họ trong mục đích hiệp thông tôn thờ Thiên Chúa và tuyên xưng đức tin vào Người. Tuy nhiên, chắc chắn Giáo Hội không cho phép hay công nhận hôn nhân đồng tính giữa hai người nam hoặc hai người nữ như một số quốc gia đang làm vì áp lực chính trị để chiều theo thị hiếu của những người đồng tính muốn hợp thức hóa hôn nhân của họ. Làm như thế, họ đang phá đổ mục đich của hôn nhân và tước bỏ quyền có cha, mẹ, có ông bà nội ngoại của con cháu. Lại nữa, họ cũng tạo gương xấu (scandal) cho giới trẻ khi thấy hai người nam hoặc hai người nữ công khai sống chung với nhau như vợ chồng. Về mặt tinh thần, họ có thể đến nhà thờ cầu nguyện chung với mọi tín hữu, nhưng không thể lãnh nhận bí tích Thánh Thể và hòa giải được vì lối sống của họ (sống chung như vợ chồng) không được Giáo Hội nhìn nhận như những cặp vợ chồng đã thành hôn qua Bí tích Hôn nhân. Tóm lại: một điều chắc chắn, Giáo Hội sẽ không định nghĩa lại hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, vì đây là một định chế thiêng liêng (sacred institution) mà Thiên Chúa đã thiết lập từ khi có con người trên mặt đất và đã được Chúa Kitô nâng lên hàng Bí tích.
- Kết Luận
THAM KHẢO
- Trần Như Ý Lan, Người Công Giáo trước một số vấn đề y sinh học và tính dục, NXB Tôn Giáo, 2017, Hà Nội, tr. 216.
- Judd Marmon, ed. Sexual Inversion (New York, Basic Books, 1965), 4, được trích trong Genosevi, tr. 253.
- Wiliam F. Kraft, “Homosexuality anh Religious Life”, Reveiew for Religious 40 (1981), 371, được trích trong Genovesi, tr. 25
- Lạnh nhạt, thờ ơ ở đây chỉ để cập đến trạng thái khi người đồng tính tiếp xúc tính dục với người khác tính. Không đề cập tới vấn đề tương quan xã hội của họ.
- Lưỡng tính thật – rất hiếm người này có cả tinh hoàn (của nam) và buồng trứng (của nữ) tách riêng hay gộp chung thành tuyến tinh hoàn.
- Ví dụ: một số bé trai từ nhỏ thường thích mặc váy, thích chơi búp bê, thích cài hoa…bé gái thích mặc đồ con trai, thích chơi trò chơi con trai… khi lớn, họ bị ảnh hưởng từ hành vi lúc nhỏ gây rối loạn suy nghĩ và tự quy kết giới tính cho mình. Lâu dần, suy nghĩ “mình là thế giới thứ ba” sẽ trở thành chứng tự kỉ ám thị và biến họ từ bình thường trở thành đồng tính.
- Erik Erikson (1905-1994) sinh tại Franfurt (Đức). Ông đã từng học nghệ thuật và vẽ chân dung trẻ em. Sau đó ông vào học tại viện phân tâm học của thành phố Viên (Áo) và được đào tạo trực tiếp bởi S.Freud, Anna Freud và nhiều nhà phân tâm tài năng khác.
- Nỗi lo hiện sinh: là dạng lo lắng khi nhận ra những yếu kém của bản thân, về mặt thể lý tâm lý, trí tuệ… luôn trong tình trạng nơm nớp lo sợ người khác biết sự thật về mình. Khi hiểu rộng ra nỗi lo hiện sinh còn nằm ở những mong muốn lo gìn giữ giá trị đang có vì sợ mất đi.
- Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) tại https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948/65774/noi-dung.aspx, truy cập ngày 18/4/2018. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ.
- Cf. Joseph Tân Nguyễn, Đạo đức học tổng quát, NXB Phương Đông, TP Hồ Chí Minh, 2016, tr. 117-126.
- Cf. Võ Văn Thành – Lê Kiên – Chi Mai, “Hôn nhân đồng tính: vì sao chưa công nhận?”, tại https://tuoitre.vn , truy cập 15/4/2018.
Tâm Thành






