Như đã tường trình, phần cuối cùng Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Vùng Amazon bàn về những vấn đề mục vụ thực tiễn cho vùng này. Trong những Gợi Ý của phần này, người ta lưu ý tới một vấn đề từng được thảo luận rộng dài trong Giáo Hội mấy năm qua, nhất là từ thời giáo hoàng của Đức Phanxicô: vấn đề phong chức linh mục cho những viri probati (những người đàn ông có vợ nhưng sống 1 cuộc sống xứng đáng).
Đã có nhiều nhận định xoay quanh Gợi Ý trên của Tài Liệu. Trước khi tường trình một số nhận định ấy, chúng tôi xin trích đăng nguyên văn Gợi Ý của chính Tài Liệu Làm Việc:
I.Từ Tài liệu Làm việc
Chương III: Cử hành đức tin, một phụng vụ hội nhập văn hóa
“Việc truyền giảng Tin Mừng trong niềm vui trở thành vẻ đẹp trong phụng vụ, như một phần trong quan tâm hàng ngày của chúng ta muốn truyền bá sự tốt lành” (Evangelii Gaudium, 24)
124. Hiến chế Sacrosanctum Concilium(37-40, 65, 77, 81) đề nghị rằng phụng vụ nên được hội nhập văn hóa nơi các dân tộc bản địa. Tính đa dạng văn hóa chắc chắn không đe dọa tính hợp nhất của Giáo Hội; đúng hơn, Giáo Hội phát biểu tính Công Giáo chân thực của mình bằng cách trưng bày “vẻ đẹp trên khuôn mặt đa dạng của mình” (Evangelii Gaudium 116). Đó là lý do tại sao “chúng ta phải bạo dạn đủ để khám phá ra các dấu chỉ mới và các biểu tượng mới, các xương thịt mới để hiện thân và thông truyền lời Chúa, và các hình thức khác của vẻ đẹp vốn được trân qúy trong các khung cảnh văn hóa khác…” (Evangelii Gaudium167). Không có sự hội nhập văn hóa này, phụng vụ có thể bị giản lược thành “món đồ ở viện bảo tàng” hay “tài sản của một ít người ưu tuyển” (Evangelii Gaudium 95).
125. Việc cử hành đức tin phải được tiến hành một cách hội nhập văn hóa để nó trở thành một biểu thức cho kinh nghiệm tôn giáo của riêng người ta và trở thành sợi dây hiệp thông trong cộng đoàn cử hành. Một nền phụng vụ hội nhập văn hóa cũng sẽ là một bảng thăm dò đối với các tranh đấu và hoài vọng của các cộng đồng và là một lực đẩy có tính biến đổi hướng tới một “lãnh thổ không có sự ác”.
Các Gợi Ý
126. Nên lưu ý các điều sau đây:
a) Một diễn trình biện phân là điều cần thiết liên quan đến các nghi lễ, biểu tượng, và phong thái cử hành các nền văn hóa bản địa khi tiếp xúc với thiên nhiên, những điều cần được tích nhập vào các nghi thức phụng vụ và bí tích. Điều cần là chú ý để nắm bắt ý nghĩa đích thực của các biểu tượng, một ý nghĩa vượt lên trên thẩm mỹ và văn hóa dân gian, đặc biệt trong bí tích khai tâm Kitô Giáo và Hôn Phối. Có gợi ý cho rằng các cử hành nên có tính lễ hội, với âm nhạc và điệu múa của riêng họ, sử dụng ngôn ngữ và trang phục bản địa, trong hiệp thông với thiên nhiên và cộng đồng. Một phụng vụ biết đáp ứng nần văn hóa riêng của họ để trở thành nguồn cội và đỉnh cao đời sống Kitô hữu của họ (xem Sacrosanctum Concilium 10) và liên kết với các tranh đấu, đau khổ và niềm vui của họ.
b) Các bí tích nên là nguồn sống và thuốc chữa ai cũng với tới được (xem Evangelii Gaudium 47), nhất là người nghèo (xem Evangelii Gaudium 200). Chúng ta được yêu cầu vượt quá các cứng ngắc về kỷ luật vốn có tính loại trừ và tha hóa, và thực hành một nhậy cảm mục vụ biết đồng hành và tích nhập (Amoris Laetitia 297, 312).
c) Các cộng đồng thấy khó có thể cử hành bí tích Thánh Thể vì thiếu linh mục. “Giáo Hội rút tỉa sự sống của mình từ Thánh Thể” và Thánh Thể xây dựng Giáo Hội. Do đó, thay vì để các cộng đồng không có Thánh Thể, cần phải có sự thay đổi trong các tiêu chuẩn lựa chọn và chuẩn bị các thừa tác viên được phép cử hành bí tích Thánh Thể.
d) Phù hợp với việc “tản quyền lành mạnh” trong Giáo Hội (Evangelii Gaudium 16), các cộng đồng yêu cầu các Hội Đồng Giám Mục thích ứng các nghi thức của bí tích Thánh Thể theo nền văn hóa của họ.
e) Các cộng đồng yêu cầu đánh giá cao hơn, đồng hành và cổ vũ lòng đạo đức mà người nghèo và những người đơn sơ vốn dùng để phát biểu đức tin của họ qua hình ảnh, biểu tượng, truyền thống, nghi lễ và các á bí tích khác. Tất cả các điều này diễn ra nhờ các hiệp hội của cộng đồng biết tổ chức các biến cố như cầu nguyện, hành hương, thăm viếng các đền thánh, và rước kiệu cũng như các lễ hội cử hành thánh quan thầy. Đây là bằng chứng của túi khôn và nền linh đạo từng tạo nên một nguồn cứ liệu thần học (theological locus) thực sự có tiềm năng truyền giảng Tin Mừng (xem Evangelii Gaudium 122-126).
Chương IV: Tổ chức các cộng đồng
……………………………..
Các khoảng cách địa dư và mục vụ
128. Ngoài tính đa nguyên văn hóa tại Amazon, các khoảng cách cũng tạo ra một thách thức mục vụ nghiêm trọng không thể giải quyết bằng các phương thế máy móc và kỹ thuật mà thôi. Các khoảng cách địa dư làm xuất hiện cả các khoảng cách văn hóa và mục vụ nữa; thành thử “thừa tác mục vụ thăm viếng” cần nhường bước cho “thừa tác mục vụ hiện diện”. Điều này đòi giáo hội địa phương tái cấu hình mọi chiều kích của nó: các thừa tác vụ, các bí tích, thần học và các dịch vụ xã hội.
Các Gợi Ý
129. Các gợi ý sau đây từ các cộng đồng gợi nhớ các khía cạnh của Giáo Hội sơ khai khi đáp ứng các nhu cầu của mình bằng cách tạo ra các thừa tác vụ thích đáng (Cv 6:1-7; 1 Tm 3:1-13):
a) Các thừa tác vụ mới để đáp ứng hữu hiệu hơn các nhu cầu của các dân tộc vùng Amazon:
1. Cổ vũ các ơn gọi nơi các đàn ông và đàn bà bản địa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc mục vụ và bí tích. Việc đóng góp chủ yếu của họ nằm trong phong trào hướng tới một việc truyền giảng Tin Mừng chân chính theo quan điểm bản địa phù hợp với các thói quen và phong tục của họ. Đây sẽ là việc người bản địa truyền giảng cho người bản địa theo một nhận thức sâu sắc nền văn hóa và ngôn ngữ của họ, có khả năng thông đạt sứ điệp Tin Mừng bằng sức mạnh và sự hữu hiệu của những người có chung một bối cảnh văn hóa với họ. Điều cần là chuyển dịch từ một “Giáo Hội thăm viếng” sang một “Giáo Hội hiện diện”, một Giáo Hội biết đồng hành và hiện diện qua các thừa tác viên xuất phát từ chính các cộng đồng của họ.
2. Trong khi quả quyết rằng sống độc thân là một hồng phúc đối với Giáo Hội, có yêu cầu cho rằng, đối với các khu vực xa xôi hẻo lánh nhất trong vùng, nên nghiên cứu khả thể truyền chức linh mục cho các người cao niên, ưu tiên là người bản địa, được cộng đồng của họ kính trọng và chấp nhận, dù họ đang có một gia đình vững ổn, để bào đảm có sẵn các bí tích để đồng hành và nâng đỡ đời sống Kitô hữu.
…………………………….
II. Các nhận định
Dù việc phong chức linh mục cho các viri probati đã được nhiều lần nêu ra và thảo luận rộng rãi, thiển nghĩ cũng nên hiểu ý nghĩa của gợi ý này trong Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng về vùng Amazon.
Ba điểm đặc thù của Gợi Ý
Ở đây, John Allen (https://cruxnow.com/news-analysis/2019/06/18/understanding-the-debate-over-married-priests-at-the-amazon-synod/) cho rằng có ba điều thiết ý cần lưu ý:
Thứ nhất cuộc tranh luận tại Thượng Hội Đồng Amazon không phải về việc liệu Giáo Hội Công Giáo có nên có các linh mục có vợ hay không. Vì Giáo Hội Công Giáo vốn đã có các vị như thế này rồi. Hai mươi ba Giáo Hội Đông phương hiệp thông với Rôma vốn có các linh mục có vợ và tại một số Giáo Hội Tây Phương vẫn có các cựu mục sư Thệ Phản trở lại Công Giáo và được tiếp tục cuộc sống có vợ trong tư cách linh mục Công Giáo.
Thứ hai, cuộc thảo luận lần này rất khác với cuộc thảo luận về các linh mục có vợ tại Hoa Kỳ hay Tây Âu vì nó không có tính ý thức hệ. Ở Tây Phương, các người Công Giáo cấp tiến gây áp lực để có hàng giáo sĩ có vợ dựa trên cơ sở cho rằng sống độc thân là điều không tự nhiên và nuôi dưỡng các trục trặc tính dục, thậm chí còn liên kết nó với cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục.
Các nhà tranh đấu ấy đôi khi cũng cho rằng vì tạo ra một đẳng cấp những người đàn ông không lập gia đình, việc sống độc thân đã góp phần vào chủ nghĩa giáo sĩ trị, ưu quyền, và sống xa lìa các cuộc tranh đấu của các gia đình bình thường và rất nhiều biểu hiện bệnh hoạn khác.
Ở Amazon, thuần túy chỉ vì nạn thiếu linh mục, nên tín hữu “đói” Thánh Thể mà Thánh Thể vốn là nguồn và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Nhưng tỷ lệ linh mục/giáo dân rất khác nhau trong Giáo Hội: ở Hoa Kỳ chẳng hạn 1 linh mục trông coi 1,300 giáo dân; ở Châu Mỹ La Tinh, tỷ lệ ấy là 1 trên 7,000,; ở vùng hạ Sahara, 1 trên 5,300; ở vùng Caribbean, 1 trên 8,300; riêng ở vùng Amazon, tỷ lệ ấy có khi lên đến 1 trên 16,000 hay 17,000.
Thành thử đối với các Giám Mục của vùng này, vấn đề phong chức cho các viri probati không hề là vấn đề cánh tả/cánh hữu vì nhiều vị Giám Mục này là những vị đứng hàng đầu về bảo thủ thần học và chính trị.
Thứ ba, cuộc tranh luận lần này cũng vẫn chỉ là một cuộc tranh luận không hơn không kém. Không hề có kết luận dọn sẵn rằng gợi ý viri probati sẽ được đa số ủng hộ. Vả lại, Thượng Hội Đồng Giám Mục chỉ là một định chế tư vấn và Đức Giáo Hoàng có toàn quyền muốn sử dụng công trình của nó thế nào tùy ý, tuy ngài hết sức lắng nghe.
John Allen cho rằng đây không phải là lần đầu vấn đề này được đem ra thảo luận. Nó vốn đã được nêu lên trong rất nhiều Thượng Hội Đồng, dù không được ghi trong nghị trình chính thức như lần này.
Giáo Phận Vĩnh LongBlogTin Giáo Hội Hoàn VũGợi Ý gây tranh cãi nhất trong Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Vùng Amazon: phong chức linh mục cho người có vợ
Gợi Ý gây tranh cãi nhất trong Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Vùng Amazon: phong chức linh mục cho người có vợ
CÁC NỘI DUNG KHÁC
CN
T2T3T4T5T6
T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031
- 11/05/2026
- 11/05/2026
- 11/05/2026
- 11/05/2026
- 26/01/2011
- 11/04/2012
- 05/01/2011
- 27/01/2011
- 29/03/2017
- 05/09/2017
- 25/01/2017
- 04/03/2019






