CHỦ ĐỀ: HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM
103 Đường 3 tháng 2
P.1 Thị Xã Vĩnh Long – VIỆT NAM
Tel : (070) 824016
Email : [email protected]
Ngày 20.10.2008
V/v Huấn luyện lương tâm con người
Kính gởi : Các Linh mục, Các Tu sĩ Nam Nữ,
Và Anh Chị Em giáo dân Giáo phận Vĩnh Long.
Giáo dục Kitô giáo phải quan tâm huấn luyện lương tâm con người (Thư chung năm 2007, số 36). Tại sao phải huấn luyện lương tâm ?
1. Luật thiết định của xã hội chỉ gia hình phạt khi một người nào đó vi phạm trật tự công cộng, xâm phạm tài sản của người khác hay của một tập thể, xúc phạm mạng sống hoặc thanh danh của đồng loại, còn những ý nghĩ xấu, những gì tiềm ẩn bên trong như thù hận, ghen ghét, kiêu căng, khinh dể tha nhân, thì không xét tới. Đàng khác ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng, hưởng thụ, chuộng danh vọng, tiền của, cổ võ một lối sống xa lạ với lối sống truyền thống: người ta bảo ‘nắng bên nào che bên nấy’ hoặc ‘lương tâm sao bằng lương thực’ và rồi các giá trị đạo đức bị đảo lộn. Hỗn loạn, xáo trộn từ trong lãnh vực gia đình đến ngoài xã hội, từ chỗ cưới hỏi vội vã đến chuyện ly hôn ly dị, không muốn có con hoặc thiếu quan tâm chăm sóc dạy dỗ con cái; giới trẻ sống buông thả, nghiện ngập; tệ nạn gian dối lừa đảo, tống tiền; lợi dụng thời thế chiếm dụng tài sản đất đai của người khác; nạn tham ô đục khoét phá đổ nền móng đạo đức của xã hội, còn gì là công bằng xã hội!
2. Sứ mạng rao giảng và làm chứng cho chân lý thật khó khăn, nhưng cấp bách. Lời của Thánh Phaolô khuyên nhủ Timôthêô nay vẫn còn đáng chú ý: ‘Trước mặt Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, cha tha thiết khuyên con (Timôthêô) : Hãy rao giảng Lời Chúa, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ’(2 Tim 4,1-2).
Phải kiên nhẫn huấn luyện lương tâm. Phẩm giá của con người bao hàm và đòi buộc con người phải có lương tâm ngay thẳng (Giáo Lý của HTCG, 1780). Để có lương tâm ngay thẳng, con người phải học biết các nguyên tắc luân lý, dựa vào đó có thể cân nhắc các lý do và lợi ích trong hoàn cảnh cụ thể, và để có thể phán quyết đúng đắn : phải làm hay không làm một điều gì.
3. Cuộc sống đang trong chiều hướng thay đổi, từ nếp sống theo truyền thống thanh bình ở nông thôn với đồng lúa bát ngát, với cây xanh trĩu quả, dần dần chuyển sang những khu chung cư, những khu công nghiệp thu hút nhiều người trẻ bỏ ruộng rẫy để làm công nhân của một xí nghiệp. Ai đã được chuẩn bị để bước vào cuộc sống mới nầy, cuộc sống xa lạ với nếp sống trong thôn xóm làng mạc ?
Nghĩ mà thương những anh chị em vì hoàn cảnh buộc lòng phải xa gia đình, xa Họ Đạo của mình để đi tìm việc làm, và phải chịu nhiều thiệt thòi, rồi có thể đã gặp nhiều thử thách. Rồi cũng cảm thương những Bạn Trẻ vì muốn theo đuổi việc học hành, phải đi xa, phải phấn đấu hằng ngày với những thách đố, với trăm cái lo, từ chỗ trọ đến cái ăn, đến các chi tiêu hàng ngày.
Giáo dục lương tâm là nhiệm vụ phải theo đuổi suốt đời và phải khởi từ thời thơ ấu ‘ Dạy con dạy thuở còn thơ’. Trẻ con phải được hướng dẫn để nhận biết và thi hành luật nội tâm … Một nền giáo dục tốt dạy con người sống đức hạnh, bảo vệ và giải thoát con người khỏi sợ hãi, ích kỷ và kiêu căng, những mặc cảm tội lỗi và thái độ tự mãn, những thứ phát xuất từ sự yếu đuối và dễ sai lầm của con người. Giáo dục lương tâm bảo đảm tự do và tạo nên bình an trong tâm hồn (x. Giáo Lý của HTCG, 1784).
Để ngăn ngừa ảnh hưởng nguy hại của chủ thuyết duy vật, người Công Giáo phải lấy Lời Chúa làm mẫu mực. Lời Chúa là ánh sáng chỉ đường để rèn luyện lương tâm. Chúng ta phải lãnh hội Lời Chúa trong đức tin, trong kinh nguyện và cố gắng thực hành (x. CĐ Vaticanô II, DH 14).
Bóng tối của thế gian, tráo trở, gian dối và ích kỷ, sự yếu đuối của nhân loại, có thể làm cho con người lạc hướng, nhưng nếu chúng ta kiên trì cầu nguyện và nỗ lực để thực hành Lời Chúa theo giáo huấn của Hội Thánh, chắc chắn sẽ được ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn, thể hiện một đời sống hạnh phúc xây dựng trên đức ái phát xuất từ ‘một tâm hồn trong sạch, một lương tâm ngay thẳng và một đức tin chân chính’ ( 1 Tim 1,5).
+ Tôma Nguyễn Văn Tân
Giám mục Vĩnh Long
CHỦ ĐỀ:
HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM CON NGƯỜI
Giáo dục Kitô giáo còn nhấn mạnh việc huấn luyện lương tâm: Huấn luyện lương tâm không chỉ là giảng dạy cho nhau những mệnh lệnh của hệ thống luật luân lý nhưng còn là tập cho nhau hồn nhiên lắng nghe lòng mình phán đoán thiện ác. Bởi vì “lương tâm là luật tự nhiên vốn phản ảnh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người” (GHXH/GH 140), nên “lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân càng tránh được độc đoán, mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý” (GS 16). Khi có lương tâm ngay thẳng, con người sẽ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phảm giá và sự sống con người hơn.
Có lương tâm mới giữ được mệnh lệnh của luân lý, mới nhận định rõ về thiện ác.
Có lương tâm, sống theo lương tâm mới tránh được lối sống độc tài, tàn ác, quỷ quyệt…
Có lương tâm mới có thể dễ cộng tác với công trình xây dựng xã hội công bình, tôn trọng phẩm giá và sự sống của con người.
DÁM NÓI “KHÔNG”
Đời Tam Quốc, Quan Văn Trường bị thất thủ thảm bại ở Hạ Bì. Thân đơn nhất mã, phò hai người chị dâu (tức vợ của Lưu Bị) qua nương tựa nhà Tào Tháo. Đêm đến, Tào Tháo cho ba người ngủ chung một phòng, dụng tâm là muốn cho chị em loạn luân, chúa tôi phải thất lễ .
Quan Văn Trường một dạ thẳng ngay không để tà tâm vật dụng quyến rũ, tay cầm đuốc, tay cầm sách Xuân Thu đọc đến sáng. Thấy vậy, Tào Tháo khen Văn Trường là người chính trực. Từ đó, danh từ “Ngọn đuốc Văn Trường” được dùng để ám chỉ những kẻ ngay thẳng, không để vật dục quyến rũ lòng mình.
Cám dỗ vẫn là số phận của con người. Đối với người Kitô hữu, cám dỗ càng đeo đuổi họ như hình với bóng, nó chỉ buông tha khi họ đã đi hết cuộc hành trình trần gian.
Những con người anh dũng lướt thắng cám dỗ như Quan Văn Trường quả là hiếm. Càng hiếm hơn nữa là những con người không để cho vật dục quyến rũ mình. Vì người ta đã quen lối sống dễ dãi, thích hưởng thụ và ham khoái lạc. Cho nên, tâm trí họ lúc nào cũng là là mặt đất, không đủ sức bật để vượt qua những cám dỗ thử thách mà vươn lên những ý tưởng cao thượng, những ý nghĩ lành thánh. Tuy nhiên, thành công hay thất bại cũng tuỳ thuộc họ chiến thắng hay đầu hàng trước những cơn cám dỗ. Số phận đời đời cũng sẽ căn cứ vào việc họ đã vượt qua cơn thử thách hay buông xuôi bỏ cuộc.
Cuộc đời Đức Giêsu không thiếu những cơn cám dỗ, có lúc nhất thời, có khi dai dẳng. Những cơn cám dỗ ấy hoặc đến từ ma quỷ, hoặc từ người ta, hay có khi lại ngay trong bản thân Người.
Tin Mừng thuật lại các cơn cám dỗ từ ma quỷ: Chúng dụ dỗ Người biến đá thành bánh mà ăn, vì Người đã ăn chay ròng rã 40 đêm ngày. Chúng khiêu khích Người hãy gieo mình xuống từ nóc cao đền thờ. Chúng hứa cho Người vinh hoa lợi lộc các nước, nếu Người sấp mình bái lạy chúng. Cuối cùng, Đức Giêsu đã oanh liệt chiến thắng các cơn cám dỗ ấy, nhờ trưng dẫn các câu Kinh Thánh. Thật vậy, cám dỗ nào cũng bị Người đánh bại bởi các lời Kinh Thánh.
Kinh Thánh chính là khiên thuẫn cho người tín hữu trong mọi cơn cám dỗ. Một khi Lời Chúa đã thấm nhiễm vào con tim, khối óc, và toát ra trong các hành vi của người tín hữu, thì không một cơn cám dỗ nào mà họ không thể vượt qua, không một thử thách nào mà họ không lướt thắng.
Cám dỗ nào cũng dẫn chúng ta đến một chọn lựa. Hoặc là chọn Thánh ý Chúa hoặc là chọn chính mình. Người không có Lời Chúa hướng dẫn, thường hay chọn mình lắm: họ chọn danh vọng cho mình, giàu sang cho mình, khoái lạc cho mình. Khi “cái tôi” đã đầy ứ trong lòng thì Thiên Chúa phải đội nón ra đi.
Chúng ta hãy tập chiến đấu với những cơn cám dỗ trong đời thường: cám dỗ từ ma quỷ, từ nơi người khác, và nhất là từ ngay chính bản thân mình. Có bao nhiêu giác quan là có bấy nhiêu cửa ngõ cho cám dỗ đi vào.
Dù bầu trời đen mênh mông bao trùm địa cầu, thì trong một bờ đá nào đó, cánh hoa mảnh mai vẫn hồn nhiên nở trong đêm khuya. Cánh hoa mỏng manh là thế mà sao dũng mạnh hơn tâm hồn chúng ta nhiều quá! Nếu hoa lá là ngôn sứ của Thiên Chúa, thì sứ điệp chúng ta là: Hãy ngoan ngùy để cho Lời Chúa đưa chúng ta vượt qua đêm mưa bão của cám dỗ, thử thách. Và ngày mai trời lại sáng.
“Lương tâm là luật tự nhiên vốn phản ảnh phẩm giá con người và đặt nền tảng cho các nghĩa vụ căn bản của con người” (GHXH/GH 140), nên “lương tâm ngay thẳng càng thắng thế thì những cá nhân càng tránh được độc đoán, mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lý” (GS 16) (TMV số 36). Khi đề cập đến việc huấn luyện lương tâm, Thư Mục Vụ nhắc lại định nghĩa của lương tâm, đồng thời nhấn mạnh đến việc đào tạo một lương tâm ngay thẳng, theo Huấn giáo của Hội Thánh.
Trước hết, vì phẩm giá của con người là được dựng nên “theo và giống hình ảnh thiên Chúa” nên con người được tham dự vào sự khôn ngoan, nhân từ của Chúa, Đấng ban cho họ “quyền làm chủ mọi hành vi và khả năng tự hướng đến chân lý và sự thiện” (x. GLCG, 1954). “Luật tự nhiên không gì khác hơn là ánh sáng trí tuệ do Chúa đặt trong ta, nhờ đó, chúng ta biết điều phải làm và điều phải tránh. Aùnh sáng nầy hay luật nầy, Thiên Chúa đã ban khi sáng tạo con người” (T. Tôma Aquinô). Luật tự nhiên nêu ra những mệnh lệnh đầu tiên và chính yếu điều khiển đời sống luân lý. Luật tự nhiên quy hướng về Chúa là căn nguyên và là tiêu chuẩn mọi điều thiện, cùng với cảm thức về tha nhân như người bình đẳng với mình. Và “lương tâm chính là luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã đặt sẳn nơi đáy lòng mọi người để soi dẫn họ làm lành, lánh dữ” (GLCH Hỏi-Thưa, câu 303). “Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể cảm nhận được Thiên Chúa đang nói với mình” (GLCG 1777).
“Luật tự nhiên nói lên phẩm giá con người và xác định nền tảng các quyền và các bổn phận cơ bản của con người. Luật tự nhiên thì bất biến và trường tồn qua dòng lich sử…là cơ sở cần thiết cho việc thiết lập các quy luật luân lý và luật dân sự” (GLCG 1978-1979).
Luật tự nhiên được trình bày thành những điều răn chính trong “Thập Giới”, bước đầu của Mặc Khải, còn được gọi là Luật cũ và được hoàn thiện bằng Luật mới là luật yêu thương, mà người tín hữu có thể thực hiện được nhờ ân sủng của ChúaThánh Thần. “Chúa Kitô dùng Bài Giảng trên núi để diễn tả những điểm chính của Luật mới và dùng các bí tích để thông ban ân sủng cho con người thực thi luật đó” (GLCG 1983).
Như vậy, để sống đúng phẩm giá con người ta cần phải sống theo tiếng lương tâm, là luật tự nhiên Chúa đặt trong lòng mỗi người. Để làm điều tốt và tránh điều xấu, mỗi người chúng ta phải được huấn luyện để có sự chọn lựa đúng đắn. “Gần mục thì đen, gần đèn thì sáng”. Sống trong môi trường tốt, con người dễ chọn lựa điều tốt và làm điều lành. Muốn chọn lựa đúng thì cần phải có một lương tâm ngay thẳng. Lương tâm ngay thẳng gồm ba yếu tố:
Hai là ứng dụng các nguyên tắc ấy vào những hoàn cảnh cụ thể.
Ba là phán quyết về những hành vi cụ thể đã làm, đang làm hay sắp làm.
Mỗi người có quyền hành động theo tiếng mách bảo của lương tâm mình. Bởi vì với hiểu biết và tự do, mỗi người phải chịu trách nhiệm về những hành vi mình đã thực hiện. Và khi xác định lỗi lầm của mình, lương tâm ngay thẳng nhắc nhở ta sám hối, xin ơn tha thứ và nhờ ơn Chúa, quyết tâm thay đổi.
– Việc huấn luyện lương tâm là nhiệm vụ phải theo đuổi suốt đời, nhất là những trẻ thơ cần được sống trong môi trường đạo đức, đặc biệt từ chính gia đình, giáo xứ của mình…Và vì lương tâm là tiếng của Chúa trong cung thánh tâm hồn dạy làm điều lành, lánh điều dữ, trước mỗi hoàn cảnh cụ thể, nên ta cần phải lắng nghe tiếng của lương tâm. Khi con người không còn cảm thức về cái thiện và cái ác, thì lương tâm của họ đã bị chai lỳ và coi như đã chết.
Nhờ lắng nghe và sống theo lương tâm, chúng ta được đảm bảo sống trong tự do và nhân phẩm được tôn trọng. Cụ thể trong đời sống gia đình, chính “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội số 48) “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân” (nt). Không một luật lệ nào của con người đi ngược lại với luật tự nhiên về hôn nhân về sự sống của con người mà không làm tổn thương con người và hủy hoại tương lai xã hội.
– Lương tâm còn chỉ ra cho con người thấy những quyền lợi và bổn phận của mình. Như sự sống là thánh thiêng, thuộc về Thiên Chúa, không ai có quyền tước đoạt mạng sống của người khác. Đồng thời con người không chỉ ích kỷ sống cho riêng mình, còn phải có trách nhiệm đối với mọi người, vạn vật…sao cho hài hoà.
– Tuy nhiên, lương tâm có thể bị sai lệch do “thiếu hiểu biết về Đức Kitô, về Tin Mừng và ảnh hưởng xấu của ngươiø khác; nô lệ các đam mê; nghĩ sai lạc về tự do lương tâm; khước từ quyền bính và giáo huấncủa Hội Thánh; thiếu hoàn cải và bác ái” (GLCG 1792). Lương tâm cũng có thể sai lạc do áp lực của đám đông: nhiều người cho là đúng, mình tin theo. Đâu phải dân luật cho phép phá thai, thì điều đó là đúng; bởi vì điều nầy đi ngược lại luật tự nhiên, tiếng lương tâm.
Cần phán đoán “hợp lý trí và luật Thiên Chúa” để chọn lựa đúng. Giáo Lý Công Giáo đưa ra một vài quy tắc có thể áp dụng trong mọi trường hợp:
Khuôn vàng thước ngọc: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12; x. Lc 6,31;Tb 4,15)
Đức ái Ki-tô giáo luôn luôn đòi chúng ta tôn trọng tha nhân và lương tâm của họ. “Phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm của họ… là phạm đến Đức Ki-tô” (1Cr 8,12). “Tốt nhất là tránh những gì gây cớ cho anh em mình vấp ngã” (Rm 14,21). (GLCG 1789).
Xin Chúa giúp ta biết siêng năng học hỏi và sống Lời Chúa, giữ Luật Hội Thánh, sống trong ân sủng của Thánh Thần, nhờ việc năng lãnh nhận các Bí tích để lương tâm mỗi người được đào luyện mỗi ngày một ngay chính hơn.
KIỂM ĐIỂM
- Chúng ta có nhận định trong con người chúng ta có lương tâm là một thứ cán cân để nhận biết chân giả, thiện ác không?
- Lương tâm, có thể do giáo dục, do xã hội, do hoàn cảnh… làm cho lệch lạc. Chúng ta có nhận biết cái nguy hiểm nầy không?
- Có nhận thấy: lương tâm cần phải được giáo dục, để nhận xét đúng, tốt và thiện hảo không?
- Chúng ta có thấy nhờ Chúa soi sáng, Chúa mạc khải, chúng ta mới có được lương tâm ngay chính, lành thánh, có thấy không?
- Có tự phụ, ý nghĩ của mình, sáng kiến của mình là hoàn hảo.
V. LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN
Kêu mời: Anh chị em thân mến,
Khi dựng nên loài người giống hình ảnh Thiên Chúa, Chúa muốn loài người càng ngày càng làm sáng tỏ diện mạo của Chúa, loài người càng trau giồi luơng tâm mình cho sáng thánh ý Chúa. Chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho mọi người:
- Chúa phán: “Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh luôn rèn luyện lương tâm chân chính, làm cho thế giới biết tôn trọng công bằng và sự thật.
- Chúa phán: “Hãy đến và học cùng Ta, các con sẽ được bình an”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người nhận biết Chúa Giêsu, học nơi Chúa một tấm lòng khiêm tốn, một lương tâm trong sạch, hầu được thanh thản, và không bị cắn rứt.
- Mọi người cần phải tự rèn luyện mình có một lương tâm chân chính. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người biết nhật định công lý và hoà bình, mà tập luyện cho mình có được một lương tâm chân chính như ý Chúa.
- Chúa phán: “Các con hãy coi chừng men Biệt phái và men Sa đốc”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, không lây nhiễm thói đời trần tục hoá, nhưng chuyên cần luyện tập một lương tâm trong sạch.
Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con làm sáng tỏ thánh ý Chúa trong một lương tâm chân chính. Xin Chúa ban Thánh Thần giáo dục đức tin chúng con, huấn luyện lương tâm chúng con, hầu giúp cho thế giới thanh bình tiến lên Nước Trời. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM
Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường nghe nói “Lương tâm cắn rứt”. Thế lương tâm là như thế nào mà có thể “cắn rứt” được? Lương tâm là gì và phải làm sao để cho lương tâm được ngay thẳng?
Theo Hiến Chế Mục Vụ của Giáo hội số 16 thì “Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ” (Gs 16)
Trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1796 định nghĩa: Lương tâm là một phán quyết của lý trí, nhờ đó, con người nhận biết một hành vi cụ thể là tốt hay là xấu.
Như vậy, có thể quả quyết rằng Lương tâm là tiếng Thiên Chúa nói trong tâm hồn của mỗi người. Thế nhưng trong thực tế cuộc sống sự phán đoán của lương tâm của mỗi người khác nhau, cùng một sự kiện nhưng có những phán đoán và hành động khác nhau, vậy phải chăng tiếng Thiên Chúa nói trong mỗi người khác nhau? Thực ra, bản chất của lương tâm là hoàn toàn tốt, ngay khi gọi là lương tâm (cõi lòng ngay thẳng, trong sạch, tốt lành) cũng đã khẳng định điều này. Nhưng có thể do thiếu hiểu biết, do tập quán hay những hấp lực nào đó đè nén dẫn đến những hành động sai lầm làm cho người ta “cắn rứt lương tâm”. Thế nên cần phải có một sự huấn luyện lương tâm ngay thẳng để có thể phán đoán đúng và hành động đúng như tiếng Thiên Chúa khơi lên trong tâm hồn của mỗi người.
Muốn huấn luyện lương tâm ta phải làm sao và theo cách nào? Để có một lương tâm với những phán đoán trung thực cần phải hướng nhìn về Đức Kitô và lấy lời dạy của Ngài làm kim chỉ nam cho cuộc sống: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Thật vậy, ai cũng muốn những điều tốt lành dành cho mình, yêu thương mình …điều đó không có gì là xấu nhưng sẽ xấu nếu dùng mọi thủ đoạn, bất chấp tất cả để mình được điều mình mong muốn. Đức Kitô, Người đã yêu thương và yêu thương cho đến hy sinh mạng sống chỉ vì muốn điều tốt lành cho nhân loại mà Người yêu thương. Những người Kitô hữu chúng ta được mời gọi theo gương Thầy Chí Thánh mà biết mang điều tốt lành cho người khác, trước hết là nên giống Thiên Chúa ngày một hơn sau là để khỏi bị “lương tâm cắn rứt” .
Người ta thường nói lương tâm là con đẻ của Chúa và là con nuôi của xã hội. Nói “con đẻ” là nói tới nguồn cội của lương tâm, nói đến “con nuôi” là nói tới vai trò của xã hội trong việc huấn luyện lương tâm ngay thẳng. Xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc huấn luyện lương tâm con người. Con người tự bản chất là con người xã hội nên việc tương quan với nhau trở thành một nhu cầu không thể thay thế. Vì có những tương quan như thế nên sự phán đoán của lương tâm có thể bị ít nhiều ảnh hưởng. Một xã hội tốt là một xã hội chỉ dẫn cho người ta biết chân lý, đi trong đường lối của sự thật, của tự do… Vì thế mỗi người Kitô hữu hãy biết cảm giác với những quyến rũ làm cho phán đoán của lương tâm bị méo mó, tiếng nói của Thiên Chúa trong tâm hồn không còn vang vọng.
Chúng ta đang sống trong một xã hội mà tiếng lương tâm có vẻ như bị méo mó khi tham nhũng, rút ruột công trình, “lót tay”…đã trở thành những việc rất đỗi bình thường thì người Kitô hữu chúng ta cần có một sự rèn luyện lương tâm mình hằng ngày bằng Lời Chúa dạy, bằng việc lắng nghe tiếng lương tâm thường xuyên để có một phán đoán đúng đắn.
Không có lương tâm xấu chỉ có con người vì những hấp lực của quyền lực danh vọng, của cải vật chất hay những đam mê thấp hèn là che mờ lương tâm. Nên chúng ta hãy làm cho lương tâm mình được trong sáng đúng với bản chất mà Thiên Chúa đã ban cho, để mỗi người được trở nên hình ảnh của Thiên Chúa một cách đích thực.
BÀI 34: NGÔN SỨ ÊLIA VÀ ÊLISÊÔ
(1V 17,1tt thuộc V.Q Miền Bắc)
1/ Hai ngôn sứ nầy thuộc triều đại vua Achab, sống vào khoảng 870 trước Chúa Giáng sinh.
– Êlia một con người sống khắc khổ. (Gioan Tẩy giả có nếp sống giống như ông). Ông rao giảng về một Thiên Chúa độc nhất và chỉ tôn thờ một mình Ngài. Ông rất căm ghét sự bất công trong xã hội. Ông nhân từ với nguời nghèo và sẵn sàng giúp đỡ họ như việc giúp bà góa Sarepta. (1V 17, 7-16).
– Đời ngài kết cục rất oai hùng. Ông được đem đi trong xe bằng lửa và có những con ngựa lửa kéo lên trời (2V 2,11). Phúc âm có nhắc đến Êlia tám lần (Mt 3,3;17,3.10; 27,47; Mc 6, 15; 15,35; Lc 9, 11. 28-36; Jn 1, 20-25). Ông cùng Môisê xuất hiện trong lần Chúa Giêsu biến hình trên núi (Mt 17, 1-8; Mc 9, 2-10; Lc 9, 28-36).
2/ Êlisêô là môn đệ của Êlia ông được kêu gọi lúc đang cày với 12 đôi bò. Khi biến khỏi đất Êlia để lại áo choàng của mình (tượng trưng cho sứ mệnh của ông) cho Êlisêô. Ông cũng làm nhiều phép lạ như:
– Cho con trai bà Shunem sống lại (2V 4, 25-37).
– Biến 20 chiếc bánh cho 100 người ăn (2V4, 42-44).
– Chữa lành cho tướng Naaman khỏi bệnh cùi bằng việc tắm sông Giođan bảy lần (2V 5, 1 tt). Phép lạ nầy là hình bóng của phép Rửa tội. Ông cũng là hình bóng của Đức Kitô: Chúa Kitô đã cho kẻ chết sống lại, cho người bệnh cùi được sạch.
– Và còn nhiều phép lạ khác nữa (2V 19-23; 4, 1-7; 6, 1-7)
Lời Chúa: “Ông Êlia phải đến để chỉnh đốn mọi sự. Nhưng Thầy nói cho anh em biết: ông Êlia đã đến rồi mà họ không nhận ra, lại còn đối xử với ông theo ý họ muốn. Con Người cũng sẽ phải đau khổ vì họ như thế” (Mt 17, 11-12).
Cầu nguyện : Lạy Chúa, xin ban thêm cho con sức mạnh để con sống và làm chứng cho chính Chúa là Sự Thật. Amen.
THÁNG CÁC ĐẲNG
Các Đẳng là những con người đã qua đời, xác thì phải tan rã, nhưng linh hồn còn lại, không bị xác thể bao vây, nên ở trong tình trạng cao siêu hơn, vì thế chúng xưng tặng là các đẳng là các vị các đẳng ở cấp cao siêu hơn.
Trong tháng này, Hội thánh muốn chúng ta đặc biệt cầu cho các đẳng được về với Chúa, kết hợp mật thiết với Chúa.
Cầu nguyện, làm việc lành giúp các đẳng đó là giữ tình liên kết của Giáo hội. Việt nam chúng ta phần lớn tin ông bà, cha mẹ qua đời rồi, vẫn còn liên hệ với con cháu, nên trên giường thờ vẫn để bài vị (thẻ ghi tên tuổi ông bà). Tin hồn ông bà vẫn còn ở lại với con cháu, không những ở lại mà còn phù hộ nữa.
Chúng ta còn nhờ mạc khải và tin tưởng xác tín sâu xa hơn: Chúa dựng nên cả nhân loại vì thế “tứ hải giai huynh đệ”, nhưng bởi nhân loại sinh rồi nẩy nở quá nhiều không giữ được tình liên kết gia tộc, nên Chúa đã thành lập Hội thánh như một đại gia đình quy tụ nhân loại nên một, không những đối với con người còn tại thế mà cả với những đấng đã vào thiên đàng và những linh hồn trong luyện ngục. Đó là giáo lý hiệp thông, chúng ta, dầu ở nơi nào cũng là con cái Chúa nên vẫn liên kết hiệp thông với nhau, cùng nhau tôn thờ ca tụng Chúa, cùng cầu cho nhau.
Đối với các thánh, chúng ta hiệp thông, không những chung nhau tôn thờ ca tụng Chúa, mà cũng ít nhiều tham gia phần vinh phúc của các thánh. Còn luyện ngục và trần thế chúng ta có thể cầu Chúa cho nhau!
Tháng các đẳng, chúng ta sống hiệp thông với các đẳng bằng cầu nguyện, bằng việc lành, bằng các việc có hưởng ân xá, đại xá, nhường lại cho các ngài. Dĩ nhiên các đẳng cũng cầu Chúa cho chúng ta.
Vậy việc giúp các đẳng phải kể là một việc khẩn thiết. Hội thánh lập tháng các đẳng thúc đẩy chúng ta cố gắng hâm mộ làm nhiều việc giúp các đẳng mà hằng ngày trong buổi đọc kinh, chúng ta thường đọc: chúng tôi cậy vì danh Chúa nhân từ cho các đẳng linh hồn đặng lên chốn nghỉ ngơi.
Cầu nguyện cho các đẳng là phận sự con cái – nhớ ông bà đã qua đời – là một việc giúp chúng ta sống giáo lý hiệp thông, cũng là một công trình từ thiện đặc biệt: vừa hiếu thuận, vừa thương yêu.
Thương yêu người cần được giúp đỡ. Các đẳng đã vào tình trạng đời đời, tình trạng vĩnh định (định rồi không sửa đổi được), nên các ngài không còn phương tiện để đền tội, để tự cứu. Một việc từ thiện chắc được hiệu quả mà không sợ bị lạm dụng.
Chúng ta xin Chúa cho mình biết ham mộ cầu nguyện cho các đẳng, không thực hiện theo máy móc mà ý thức thương yêu thực sự.
Nota: Người tân tòng có được cầu nguyện cho ông bà người lương đã qua đời không?… Vẫn được, vẫn nên cũng có thể nói cần nữa. Thiên Chúa là Chúa cả nhân loại.
TRƯỜNG SINH BẤT TỬ
Đó là hoài bảo của con người. Tuy vẫn biết từ xưa tới nay có ai sinh ra và rồi không chết (tự cổ nhân sinh thùy vô tử).
Thật ra, Chúa dựng nên con người, có hồn có xác, vì có xác nên cũng phải tan rã, phải chết; nhưng Chúa lại ban cho con người không chết, thể xác vẫn sống mãi, lại có linh hồn. Linh hồn phần nào được có một sự sống giống sự sống của Thiên Chúa, để có thể kết hợp với Chúa và tham gia phúc lộc của Chúa. Cùng với đặc ân có sự sống giống sự sống của Chúa và kết hợp với Chúa, Chúa ban cho con người có tự do.
Để con người đáng hưởng những ân huệ đó, thì Chúa thử thách con người: Không được ăn trái cấm, ăn thì phải chết. Nguyên tổ đã lạm dụng tự do, không tuân lệnh Chúa, phá đổ chương trình của Chúa, chúng ta thường gọi là nguyên tội.
Nhưng Hội thánh lại gọi là Felix Culpa, Tội Hồng Phước, vì do đó, kéo được Chúa giáng trần để chuộc tội, tỏ tình, tiếp xúc thân mật với con người, tái tạo kết hợp gần như nên một giữa Chúa và người.
Tự bản tính con người là vật thọ tạo, khi đã phạm đến Đấng Tạo Dựng thì lấy gì, làm gì để đền tộ xứng đáng. Vật thọ tạo, dường như một điểm không trong vũ trụ thì việc tôn thờ có giá trị gì?
Nhờ việc Nhập Thể, thực hiện chương trình tái tạo, nhân tính kết hợp với thiên tính. Cuộc khổ nạn của nhân tính thành việc của Thiên tính, có khả năng đền tội thích đáng. Và nhờ kết hợp với nhân tính của Chúa mà việc thờ phượng của chúng ta mới có giá trị tôn thờ thích đáng.
Về mặt tình yêu cũng thế. Ông vua tìm gặp và thương yêu một cô gái lọ lem đó là điều phi thường, mà Thiên Chúa tạo dựng tìm yêu vật thọ tạo nhỏ hèn thì càng lạ hơn nữa.
Nhìn vào mầu nhiệm Nhập Thể và Tử Nạn của Chúa chúng ta bớt sợ sự chết chẳng những vậy mà cái chết lại còn là một mối lợi (Theo thánh Phaolô).
Chết là không còn bị thể xác ràng buộc; chết là ngưỡng cửa bước vào cuộc sống; chết là lánh được cảnh ồn ào hỗn loạn, mà vào nơi an bình khoái lạc; chết là trở về nhà Cha; chết là em bé nhảy ngồi trên vế của cha; chết là không còn ở thế tạm mà về nơi vĩnh cửu.
Tự nhiên, ít nhiều chúng ta cũng sợ chết, vì không biết cái chết có những khổ nhọc nào và chết rồi chúng ta sẽ ra sao, có khi còn ngờ vực về kiếp sau của mình.
Nhờ đức tin, không những chúng ta tin chắc có sự sống đời sau, mà cùng tin tưởng nhờ ơn Chúa, chúng ta có thể dùng tốt cuộc sống tạm ở đời để mua chuộc cuộc sống vĩnh cửu phúc lạc ở mai sau.
Đời sống của tín hữu, là đời sống đầy hy vọng, chắc đạt hy vọng, đến lúc chết là đạt hy vọng: sống vĩnh cửu phúc lạc.
LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ VÀ VUA VŨ TRỤ
Để kết thúc năm Phụng vụ, Lễ nầy nói được là kết tụ những điều tin tưởng và những điều phải giữ trong đạo. Lễ giúp chúng ta hy vọng và thu đạt mục đích tối chung.
Nhưng thực tế chúng ta tham dự lễ trọng này như thế nào? Tham dự như bao nhiêu lễ khác? Không có được ấn tượng nào lợi ích, cũng không giúp được cho sống thiêng liêng, sống siêu nhiên tăng trưởng?
Chúng ta có ý thức rằng Hội thánh muốn chúng ta nhớ đặc biệt phận sự tôn thờ Chúa, yêu mến và kết hợp với Chúa.
Chúa là Vua, nghĩa là quyền tuyệt đối trên vũ trụ, trên cả các loài thụ tạo… Vì Chúa là đầu và là cùng sau hết của mọi loài (là Alpha và Ômêga, Alpha là chữ khởi đầu và Omega là chữ sau cùng của chữ cái Hy lạp). Nói Chúa là Vua, là Alpha và Omega nghĩa là Chúa là tạo dựng mà cũng là cùng đích của các vật thọ tạo.
Chúa tạo dựng nên Chúa có quyền năng tuyệt đối. Nhưng quyền năng tuyệt đối Chúa lại thực hiện qua tình yêu, bằng tình yêu Nhập thể, để đền tội thay cho loài người và đền tội bằng cuộc khổ nạn… Đó là thương yêu tuyệt vời hơn các tình yêu. Yêu tuyệt đối, Nhập Thể để kết hợp với loài người.
Thật ra, Chúa có quyền tuyệt đối, thương yêu vô cùng và đã định mục đích tối chung là kết hiệp. Tuy nhiên, Chúa vẫn cho con người được tự do. Chúa không áp đặt, bắt buộc, như đòi nô lệ phải tuân giữ.
Trên nguyên tắc, con người phải hoàn toàn lệ thuộc Chúa. Chúa yêu thương vô cùng thì phải có tình yêu đáp lại. Yêu hơn các đối tượng nào khác: người, vật, tiền tài, danh vọng… không chi chiếm ngự được tình yêu của con người. Con người yêu vạn vật vì yêu Chúa.
Sau cùng, mục đích tối chung của con người phải là chính Chúa. Chúa là Hữu Thể Tuyệt Đối duy nhất. Khi Chúa tạo dựng thì không thể tạo cho ai khác ngoài Chúa, mọi hữu thể phải hướng về Chúa. Hữu thể có lý trí và sống siêu nhiên thì mục đích tối chung là phải kết hợp với Chúa.
Lễ Chúa Giêsu Kitô là Vua Vũ Trụ đã đưa đến cho chúng ta ý nghĩ nào? Có giúp ta thăng tiến trên đời sống siêu nhiên không? Xin Chúa cho chúng ta biết ý Chúa và ý Hội thánh mà sống thăng tiến.
ĐÌNH KHAO
Là nơi khao thưởng quân lính đã khổ nhọc chiến đấu và chiến thắng. Đình Khao đối với chúng ta là giáo hữu Giáo phận Vĩnh Long, là nơi mà Thánh Philipphê Minh đã nhận cuộc khổ nạn, tử hình và thể hiện cuộc chiến thắng vinh quang. Đức tin của Ngài không những đáng thưởng mà đáng được vinh quang. Là nơi mà ngàn triệu người đến, chiêm ngưỡng, cầu nguyện và học hỏi.
Hằng năm cứ ngày mồng 3 tháng 7 và ngày 24 tháng 11 nơi nhà thờ nhỏ bé mang tên Đình Khao có ngàn ngàn người quy tụ, cầu nguyện ca tụng tiền nhân anh dũng.
Chúng ta dầu không trực hệ thuộc gia tộc thánh Philipphê Minh nhưng theo Tertulianô nói: Các thánh tử đạo là hột giống, là dòng tộc sinh nên tín hữu. Thực tế, dân tộc Việt nam chúng ta có nhiều tín hữu vì qua mấy trăm năm bị bách hại, số người chết vì đạo trên 100.000 người. Có người nói chỉ thua, chỉ nhường Roma.
Chúng ta hãnh hiện phần nào, bởi vì những Vị Thánh này lại là dòng tộc,
là đồng bào của chúng ta. Ít nhiều dòng máu cũng lưu lại cho con cháu. Đó là truyền thống của nòi giống Việt Nam: Can đảm, trung thành, anh dũng, bền vững trong tình yêu Chúa.
Hành hương để nhờ Thánh Philipphê Minh cầu bàu cho chúng ta biết sống can đảm không để những hèn kém dục vọng lôi cuốn, chạy theo lối sống tội lỗi, giúp ta trung thành trong mọi trường hợp, trước những đau phiền, khó nhọc, vẫn sống đức tin nguyên vẹn. Ngay trong những thử thách gay go, những thất bại, bịnh hoạn, đau phiền vẫn anh dũng vượt qua, luôn giữ vẹn tình yêu Chúa. Như thế hành hương mới đạt kết quả tốt, mới vinh danh tiền nhân, mới nở mày nở mặt con cháu.
Không hành hương chạy theo phong trào, không hành hương chạy theo hãnh diện mình là con cháu các Đấng Tử Đạo. Không hành hương để nhờ các Tiền Nhân Tử Đạo cho mình được sống dễ dãi giàu có, may mắn.
Hành hương để nhớ và nhất là để noi gương tiền nhân. Để Đình Khao là nơi Chúa ban thưởng cho tiền nhân mà Chúa cũng Khao thưởng con cháu của các ngài.
NGỌC CÒN SÁNG HAY BỊ PHỦ MỜ?
Nhiều lần tôi nghĩ rằng thật quá sớm khi nói về lương tâm đối với những người còn trẻ tuổi. Bởi tâm hồn nơi trẻ thơ ví như tờ giấy trắng, sống vui vẻ hồn nhiên. Nơi họ không chút hờn ghen, có giỗi hờn thì cũng mau qua, làm hoà với nhau có khi chỉ bằng một viên kẹo ngọt. Quý giá vô cùng cho những ai có được tâm hồn như trẻ nhỏ.
Thế rồi, trẻ nhỏ cũng khôn lớn theo thời gian. Cách sống trong trắng hồn nhiên dần dần bị pha nhiễm vẫn đục. Lương tâm là viên ngọc quý ẩn kín nơi mỗi con người. Nó thúc giục con người làm điều lành, lánh xa điều dữ. Đến một lúc nào đó lương tâm con người cũng muốn nằm ì, không thích hoạt động. Chính lúc ấy, lương tâm cần được gột rửa và đắp bồi để nó được tinh nhạy như năng lực vốn có thuở ban đầu.
Hiểu biết lương tâm
Nói cách đơn giản lương tâm là tâm lương thiện, nhận thức được lẽ phải, đúng sai. Đó là một tâm hồn ngay chính, có khả năng đánh giá chính xác hành vi của mình về phương diện lẽ sống và đạo đức. Theo cách hiểu tôn giáo, lương tâm là tiếng Chúa vang vọng trong tâm hồn thúc giục ta làm lành lánh dữ. Lương tâm chính là năng lực để định hướng cho con người luôn hướng về điều tốt và làm điều tốt. Người có lương tâm là người sống có nhân có nghĩa, có trước có sau, biết đất rộng trời cao chứ không nghênh ngang tự cho mình là vua vũ trụ.
Gột rửa lương tâm
Lương tâm là thứ quà tặng cho không biếu không từ Thiên Chúa. Lương tâm như thể một khả năng bẩm sinh để con người nhận ra chân lý và lẽ sống ở đời. Với khuynh hướng tự nhiên, con người lại thích nghiêng chìu theo hướng xấu. Chuyện ác ôn, độc địa, hại người sao lại làm dễ dàng. Những điều tốt lành, giúp người lại không muốn thực hiện. Có người cảm thấy sung sướng khi làm cho người khác bực bội, khổ đau. Có người lấy làm vui thích khi thấy người khác thua thiệt hơn mình. Họ chẳng bao giờ động lòng trắc ẩn trước sự túng thiếu của một ai. Tất cả đều là biểu hiện của một lương tâm lệch lạc. Lương tâm của họ đã bị phủ mờ bởi lớp bụi ích kỷ, vô tâm, thờ ơ, lãnh đạm.
Ngọc quý mà chẳng gọt chẳng mài lâu ngày sẽ biến thành viên đá sỏi, không còn giá trị sử dụng như vốn có ban đầu. Lương tâm con người không đủ sáng suốt, không cố gắng giũa mài ắt có ngày sẽ tiêu tan. Người không biết cho đi thì cả đời không muốn rời ra một cắc. Người không sống bao dung thì cả đời chỉ coi người khác là đối thủ cạnh tranh chứ không phải là người bạn đồng hành. Ngọc quý cần phải gọt giũa thế nào thì lương tâm cũng cần phải chịu bào mòn để loại bỏ những gì xấu xa ra khỏi cuộc sống. “Thói xấu buổi đầu như một người khách qua đường. Dần dần nó trở thành người bạn thân trong nhà, và sau cùng trở thành một ông chủ khó tính”. Đừng để thói xấu trở thành thói quen, đừng để bất chính trở thành điều không thể thiếu. Hãy sớm loại dần sự ác thì sự thiện mới có dịp tiến triển mỗi ngày trong đời sống.
Bồi đắp lương tâm
Lương tâm con người không phải là thứ bất di bất dịch. Với thời gian nó có thể thay đổi tuỳ vào nhận thức hay hoàn cảnh sống. Có những thay đổi tiêu cực làm cho đời sống con người bị biến chất tự lúc nào không hay: thiện tâm trở thành ác tâm, ngay chính trở thành bất chính. Tâm hồn xúc động trước nỗi đau một người có khi đã trở thành “linh hồn tượng đá” không còn một chút thương tâm. Sự chai lỳ trong lối sống là một thứ siêu vi cực kỳ khó trị. Những lỗi lầm tuy nhỏ nhưng không được nhắc bảo dần dần biến thành lẽ đương nhiên thì thật là nguy hiểm.
Bồi đắp lương tâm là ra sức gieo trồng những giống cây tốt trong khu vườn còn nhiều cỏ dại. Mục đích là cỏ dại bị loại trừ hầu cây tốt được xanh tươi. Đời sống con người không chỉ ra sức loại trừ điều xấu nhưng cần phải sinh hoa trái trong Thánh Thần đó là: bác ái, bình an, hoan lạc, nhân hậu, hiền hoà, tiết độ.
Xét cho cùng lương tâm không chỉ là vấn đề luân lý nhưng còn mang chiều kích tôn giáo. Nghĩa là có sự tương quan giữa lương tâm và Thiên Chúa. Con người không phải nghĩ đúng là đúng nhưng mọi phán đoán cần được soi rọi bởi chân lý khách quan và lề luật của Thiên Chúa. Huấn luyện lương tâm là giúp con người nhận thức được giá trị của cái thiện, thấy được sự biến chất của cuộc sống để điều chỉnh từng ngày. Trong mọi hoàn cảnh hãy để tiếng Chúa vang vọng cách trung thực thì tâm hồn mới luôn bừng sáng mà không bị thế lực của sự ác phủ mờ.
HUẤN LUYỆN LƯƠNG TÂM CON NGƯỜI
Một trong những điều cao quý mà Thiên Chúa đã đặt sẵn trong mỗi con người là tiếng nói lương tâm. Chính tiếng nói ấy sẽ thúc đẩy con người làm lành lánh dữ. Càng sống theo tiếng nói lương tâm bao nhiêu thì con người càng trở thành người bấy nhiêu.
Dầu vậy, điều đáng tiếc con người ngày nay dường như rất xem nhẹ tiếng nói lương tâm. Phương châm “Lương tâm không bằng lương tháng và lương tháng không bằng lương lẹo” được càng được nhiều người trọng dụng hơn. Người ta bất chấp tất cả miễn sao có lợi cho mình, cho gia đình mình là được. Họ quên rằng làm như thế là họ đang tự làm khổ cho mình, tự hạ thấp phẩm giá của mình. Có thể nói đây như là hồi chuông báo động cho những ai còn biết quan tâm đến điều hay lẽ phải. Cách riêng các bạn trẻ cần biết quan tâm nhiều hơn.
Quan tâm bằng cách lo cho mình có được sự huấn luyện lương tâm sao cho được luôn ngay thẳng. “Khi có lương tâm ngay thẳng, con người sẽ dễ dàng cộng tác để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phảm giá và sự sống con người hơn”. (Thư chung HĐGMVN năm 2008 số 36)
Làm thế nào để có được lương tâm ngay thẳng? Với người Công giáo thì không có nguồn nào quý giá cho bằng Lời Chúa và những chỉ dẫn của Giáo hội. Đó chính là tiêu chuẩn chính xác giúp ta soi rọi lương tâm của mình.
CỨU LẤY LƯƠNG TÂM
Cạnh làng tôi có một gia đình trẻ, có thể coi là thành đạt trong việc làm ăn. Gia đình có mở tiệm thuốc bán rất chạy, chồng là y sĩ, vợ là nữ hộ sinh. Niềm vui của họ lại tăng thêm khi sinh được một cậu quí tử rất dễ thương.
Ngày tháng cứ trôi qua, việc làm ăn của họ ngày càng phát đạt, đứa bé càng lớn càng kháu khỉnh và hiếu động. Bà con ai cũng trầm trồ.
Thế là mười năm đã trôi qua. Một ngày nọ, hai vợ chồng vừa đi làm về thì thấy khắp nhà máu me lay láng….xác những chú gà con nằm tứ tung, mỗi con chết một kiểu: con thì bị chặt đầu, con thị bị mổ bụng, con bị phanh thây ra thành từng mãnh…..hỏi ra mới biết thủ phạm không phải ai xa lạ mà chính là cậu quí tử đã làm!
Nguyên do là vì lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên vắng nhà không có giờ chăm sóc con cái, phần thì có tiền, có của, thương con nên con đòi gì được nấy nên cậu quí tử không lo học hành mà cứ thuê băng video về xem, lâu dần bị nhiễm những hình ảnh chém giết trong những phim bạo lực và giờ đây có lẻ cậu muốn thử cảm giác khi thực hiên những hành động đó là như thế nào!
Đã đành người xưa có câu : “nhân chi sơ tính bản thiện”, thế nhưng ông bà ta cũng dạy : “gần mực thì đen…”. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã không tiền định cho người này là thánh nhân, người kia là kẻ tội lỗi nhưng do hành vi của mình mà họ sẽ là kẻ lành hay người dữ, mà hành vi, xét cho cùng, được chi phối bởi cái tâm của mỗi người.
Cái tâm con người khi mới sinh ra là thiện, thế nhưng nó không phải là một đối tượng bất biến, vô nhiễm nhưng nó là một khả thể, rất tế nhị và nhạy cảm tựa như mặt nước tĩnh lặng nhưng chỉ cần một làn gió nhẹ cũng đủ làm nó gợn sóng, vì vậy chúng ta phải hết sức giữ gìn.
Khổ thay, chúng ta đang sống trong một xã hội quá nhiều xáo động và ô nhiễm, có thể nói ô nhiễm cách trầm trọng và toàn diện. Đã nhiều lần trên báo đài người ta phản ảnh về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí…. Đó là những ô nhiễm vật chất mà người ta thấy được, còn một thứ ô nhiễm khác nguy hiểm hơn đó là ô nhiễm về tinh thần mà ít ai nghĩ tới, nó chính là nguyên nhân làm lu mờ ánh mắt tâm linh và giết chết lương tâm con người.
Chúng ta đang sống trong thời đại vật chất làm chủ tinh thần, cơ sở hạ tầng chi phối kiến trúc thượng tầng, kinh tế đóng vai trò quyết định thì lương tâm rõ ràng đang hấp hối. Bảo vệ lương tâm là việc cấp thiết hơn bao giờ hết mà mỗi người chúng ta phải làm. Muốn được như thế cần phải dạy cho con người biết thế nào là thiện, ác, đúng, sai, thế nào là cao thượng, thế nào là thấp hèn, cái gì đáng trọng, cái gì đáng khinh…
Các loài động vật khi phải đấu tranh sinh tồn, chúng có thể ăn thịt đồng loại. May thay con người thì không như vậy, vì con người còn có lương tâm mà Thiên Chúa đã phú bẩm. Thế nhưng nếu chúng ta để cho lương tâm chết đi, lúc đó con người cũng sẽ chẳng khác gì con vật, cũng sẽ ăn thịt hút máu đồng bào mình để sinh tồn.
GIÁO LÝ VIÊN ƠN GỌI VÀ SỨ MẠNG
(tiếp theo)
Nếu nội dung của ơn gọi tông đồ là nhận biết – yêu mến – đi theo và được sai đi, thì nội dung của ơn gọi làm Giáo Lý Viên cũng như vậy. Nghĩa là Giáo lý viên phải là người hiểu biết, yêu mến, sống theo lời Đức Giêsu và chia sẻ về Ngài cho người khác.
- Giáo lý viên là người nhận biết Thầy Giêsu Giáo lý viên phải là người biết khám phá ra rằng: Đức Giêsu chính là trung tâm điểm việc dạy giáo lý. Chính Chúa Giêsu mới thật sự là là một Giáo Lý Viên đúng nghĩa. Hiểu biết của người Giáo lý viên về Chúa Giêsu phải là một hiểu biết sâu xa. Một khi người ta hiểu biết sâu xa về ai thì sự hiểu biết đó chính là tình yêu.( x.Yn 4,7-12). Kinh nghiệm của thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu, nói với chúng ta: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Kitô, Con của Người (1 Yn 1,1-3). Biết được như thế thì người Giáo lý viên mới có thể làm cho người khác cũng nhận biết, yêu mến và bước theo Đức Giêsu.
Và để có hiểu biết sâu xa này, Giáo lý viên cần:
- Thấm nhuần giáo lý và Thánh kinh: GLV học hỏi không ngừng để thấm nhuần giáo lý và Kinh Thánh. Bởi vì như Thánh Giáo phụ Giêrônimô đã xác quyết: “Không biết Kinh thánh là không biết Chúa Kitô”â (x. MK 25). Giáo lý viên biết mình tin vào ai , tin thế nào, tại sao mình tin, thì mới có thể mạnh dạn chia sẻ cho người khác điều mình đã tin. Đó cũng là lý do mà sách hướng dẫn Giáo lý viên của Bộ Phúc Aâm Hoá các dân tộc đề nghị: “Hãy dấn thân tối đa vào việc học hỏi để trở thành ngọn đèn soi lối cho anh em”. (x. SHD số 23)
- Cầu nguyện: Bên cạnh việc trao d?i giáo lý và Kinh Thánh, người Giáo lý viên cũng phải là người biết cầu nguyện và sống nội tâm sâu xa. Để khi chia sẻ và dạy giáo lý cho người khác, vị Thiên Chúa mà Giáo lý viên chia sẻ không phải là một Thiên Chúa trong sách vỡ, cũng không phải là một Thiên Chúa xa lạ, nhưng là một vị Thiên Chúa thân tình, sống động mà bản thân người Giáo lý viên đã gặp và tiếp xúc. Chính Thiên Chúa sống động ấy mới là vị Thiên Chúa luôn hiện diện với con người trong từng phút giây cuộc đời.
- Giáo lý viên là người yêu Chúa Giêsu Có rất nhiều cơ duyên và lý do thúc đẩy Giáo lý viên dấn thân dạy giáo lý. Dẫu thế, tất cả những lý do và động lực ấy sẽ được thanh lọc để cuối cùng chỉ là một lý do rất đơn giản và duy nhất. Đó là vì tôi yêu Chúa Giêsu. Thật vậy, chỉ có tình yêu và chỉ có tình yêu Đức Giêsu mới thật sự là cội nguồn và là động lực thúc bách ta chia sẻ về Người cho người khác. Và cũng chỉ có lòng yêu mến rất mạnh mới giúp Giáo lý viên sẵn sàng hy sinh tất cả để dấn thân bền lâu cho sứ mạng và ơn gọi của mình.
Đó là kinh nghiệm của thánh Phaolô, mà năm nay ta dành trọn vẹn để tôn kính Ngài. Thánh Phaolô khẳng định: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”(2 Cr 5,14). Đó cũng là kinh nghiệm của thầy Anrê Phú Yên, Giáo lý viên đầu tiên và là vị tử đạo tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Andrê Phú Yên đã dạy giáo lý cho đến hơi thở cuối cùng. Bằng cả niềm tin và tình yêu, thầy Andrê đã dạy bài giáo lý cuối cùng của mình ở pháp trường, ngắn gọn nhưng đầy đủ, nói lên tất cả: “ Hỡi anh em, chúng ta hãy giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu cho đến hết hơi, cho đến trọn đời.”Tất cả được tóm tắt bởi 1 từ: Yêu. (còn tiếp)
Tài liệu tham khảo:
1. PVGK, Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước, Toà TGMGPTPHCM,1994
Bộ Phúc Âm Hoá Các Dân Tộc, Sách Hướng Dẫn GLV
Tài liệu Bồi Dưỡng GLV khối Kinh Thánh, Nxb Thuận Hoá, 1997.
Tài liệu Thánh Tử Đạo Việt Nam,
Tìm Hiểu SẮC LỆNH TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN
Chương IV : Các Phương Thức Hoạt Động Tông Đồ
17. Tông đồ cá nhân trong những hoàn cảnh đặc biệt
Việc tông đồ cá nhân này rất cần thiết và cấp bách trong những miền mà tự do của Giáo Hội bị cản trở trầm trọng. Trong những hoàn cảnh khó khăn đó, giáo dân tùy khả năng thay thế linh mục, họ liều mất tự do của mình và đôi khi ngay cả mạng sống mình để dạy giáo lý công giáo cho những người chung quanh, huấn luyện cho những người ấy biết sống đạo và khuyến khích họ năng lãnh nhận các bí tích và đặc biệt tôn sùng phép Thánh Thể 1. Thánh Công Đồng hết lòng tạ ơn Thiên Chúa đã không ngừng cho xuất hiện ngay cả trong thời đại chúng ta những người giáo dân can đảm phi thường giữa những cơn bách hại. Thánh Công Đồng lấy tình người cha yêu thương và tri ân họ.
Việc tông đồ cá nhân có môi trường hoạt động đặc biệt trong những miền người công giáo ít oi và tản mác. Ở những nơi đó, giáo dân chỉ hoạt động tông đồ từng người hoặc vì những lý do nói trên hoặc vì những lý do đặc biệt do sinh hoạt nghề nghiệp. Nên để thuận tiện gặp gỡ nhau, họ hợp lại thành từng tổ nhỏ không cần đến hình thức tổ chức hay hệ thống chặt chẽ, miễn sao người khác thấy được dấu hiệu của cộng đoàn Giáo Hội như bằng chứng đích thực của tình thương. Như thế, trong khi giúp nhau trên bình diện thiêng liêng nhờ tình bằng hữu và kinh nghiệm, họ được mạnh sức để thắng vượt những khó khăn của cuộc sống và sự hoạt động quá lẻ loi cũng như để việc tông đồ đạt được kết quả phong phú hơn.
Gợi ý giải thích:
Trong những vùng đất ít người Công Giáo, hoặc sống rải rác.
Trong những hoàn cảnh trên, người làm việc Tông Đồ cá nhân có được những thuận lợi hoặc những khó khăn nào?
Làm thế nào để việc Tông Đồ gặp được nhiều hiệu quả nhất? Cần phải có những trợ lực nào?
Gợi ý thực hành:
Những lúc sống đạo đã là khó, thì Ông/Bà làm thế nào để có thể hoạt động Tông Đồ?
Làm Quới Chức trong những trường hợp này, có dễ bị mất mạng không? Phải làm sao mới được?
Noi gương thánh Giuse Trùm Lựu và các thánh Tử Đạo Việt Nam, để sống đạo và làm việc Tông Đồ trong thời cấm cách.
HUẤN LUYỆN GIA ĐÌNH
Là Kitô hữu, chúng ta có quyền được giáo dục và đồng thời có trách nhiệm giáo dục những người khác. Thật vậy, nhờ được giáo dục bởi cha mẹ, bởi giáo hội và những người khác mà chúng ta trở thành người và thành người con Chúa như ngày hôm nay. Đến phiên chúng ta, chúng ta cũng phải giáo dục những người mà chúng ta có trách nhiệm, không trừ một ai. Vì vậy, trong số 22 Thư Chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2007 có ghi:“Tính phổ cập của nền giáo dục Kitô giáo một mặt không miễn trừ cho bất kỳ ai, một mặt cũng đòi buộc Kitô hữu không được loại trừ bất kỳ đối tượng nào.”
Trong bài này chúng ta đề cập đối tượng đầu tiên cần giáo dục là gia đình: vợ- chồng, cha mẹ-con cái, anh chị em, bà con họ hàng. Khi gia đình ta đầm ấm thì mọi người trong gia đình tuỳ khả năng quan tâm đến những thành phần trong các gia đình khác thường bị xã hội ruồng rẫy, khinh miệt, lãng quên: người thất học, trẻ em không có điều kiện đến trường, những người bị cô lập do mặc cảm hay bị kỳ thị, những di dân vì kinh tế, thiếu nhi và giới trẻ.
1. Để chuẩn bị hôn nhân, các bạn trẻ sắp lập gia đình cần được các Cha, các tu sĩ giúp đào sâu về giáo lý công giáo để họ xác tín đời sống Kitô hữu và có khả năng giúp người khác sống đạo. Bên cạnh đó, họ cần được học hỏi về hôn nhân và gia đình với mọi khía cạnh liên hệ để họ có khả năng sống hạnh phúc lứa đôi và xây dựng gia đình đầm ấm. Nói cụ thể, họ biết trách nhiệm làm vợ chồng và giúp nhau làm tốt nhiệm vụ vợ chồng, cha mẹ. khi đã có con, họ biết nuôi dưỡng, giáo dục con cái trở nên người thông minh, giỏi giang, đủ tài, đủ đức sống thảo hiếu với cha mẹ, sống huynh đệ với anh chị em, sống tốt với mọi người, góp phần xây dựng xã hội lành mạnh. Đồng thời họ đào luyện con cái thành người con Chúa đạo đức, thánh thiện, nhiệt thành, xây dựng giáo hội vững mạnh. Trong đời sống gia đình đầm ấm, cha mẹ đào luyện con cái, con cái cũng giúp cha mẹ tự đào luyện bản thân như cổ nhân đã nói: “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Anh chị em trong gia đình đào luyện lẫn nhau trong tình tương thân tương ái “Chị ngã em nâng”, giúp nhau thành công trên đời, thành người Kitô hữu trung kiên, đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.
2. Khi gia đình ta đã thật sự đầm ấm thánh thiện thì lòng bác ái của Chúa Kitô đòi hỏi chúng ta tự lực hay cộng tác với các gia đình khác, hoặc các tập thể khác để phục vụ các gia đình không được may mắn như ta. Cụ thể, mỗi thành viên trong gia đình đầm ấm tuỳ khả năng, phương tiện, điều kiện hiện có quan tâm giúp đỡ: những người thất học được học hành hiểu biết, nâng cao trình độ kiến thức; các em thiếu điều kiện đi học được đến trường chính qui, hoặc theo học lớp tình thương, hay trường bổ túc, hy vọng các em có khả năng thấp sáng tương lai; những người bị cô lập do mặc cảm được tháo gỡ mặc cảm, những người bị kỳ thị được giải gỡ bớt kỳ thị, hay có thể chấp nhận kỳ thị để vui sống. Đối với những người di dân vì kinh tế muốn hoà nhập với môi trường địa phương được chúng ta tiếp giúp, nâng đỡ, chia sẻ cả tinh thần lẫn vâtï chất để có thể vui sống như anh em một nhà, có chung một người Cha trên trời. Với các thiếu nhi và giới trẻ là tương lai của xã hội và giáo hội cần được mọi người quan tâm, chăm sóc, dìu dắt, hướng dẫn. Nếu chúng ta không cung cấp cho các em những điều hay, lẽ phải,những điều tốt đẹp để chúng trở nên những người hữu dụng cho bản thân, cho gia đình, và cho xã hội, cũng như giáo hội là chúng ta đang bôi đen cuộc đời của các em, làm cho xã hội và giáo hội suy thoái.
Tóm lại, gia đình đầm ấm là gia đình cởi mở, hân hoan vui vẻ đón nhận sự giáo dục của các đại gia đình, xã hội và giáo hội để nên gia đình tốt đẹp, hoàn thiện như lòng Chúa mong ước. Đồng thời, các gia đình đầm ấm phải ra tay giúp đỡ các gia đình khác cũng được đầm ấm như họ. Cụ thể, họ sẽ nên giống Chúa Kitô hiền lành, khiêm tốn, phục vụ không mệt mõi để giáo dục mọi người cần được đào luyện nên tốt. Hỡi các gia đình đầm ấm, hãy can đảm đứng lên đón nhận sự giáo dục cần thiết, và giúp đỡ mọi người được giáo dục, hãy nhiệt tình thắp sáng đêm đen bằng những đóm lửa, đừng ngồi thụ động buồn sầu nguyền rủa bóng tối.
NÊN THÁNH
Tôi thường nghe những người thân thích với nhau thường trêu chọc bạn của mình rằng “Thánh vừa vừa thôi, coi chừng lên tuốt Thiên đàng đó!”; hoặc nghe họ cằn nhằn nhau rằng: “Thánh vừa vừa thôi chứ! Thánh quá ai chịu cho nổi!” . . .Và cứ thế, nghe nói “làm thánh” là ai cũng “sợ”!
Đã đến lúc, chúng ta cần phải nghiêm túc nhìn lại vấn đề này. Ơn gọi của người Kitô hữu là nên thánh mỗi ngày. Thế nhưng, nghe nói đến chuyện nên thánh thì hầu như mọi người coi đó là chuyện xa vời, chuyện của ai đó chứ không phải của mình. Giáo dân thì nghĩ việc nên thánh là của các cha, các thầy, các Dì. Còn các cha, các thầy, các Dì thì khiêm tốn “hỏng dám nghĩ đến”. Tại sao vậy?
Khi học Giáo lý, ngay từ Giáo lý vỡ lòng, tôi nhớ đã được dạy rằng: Giữ đạo là để ngày sau được hưởng phúc thiên đàng, là để được Chúa cho sống đời đời hạnh phúc với Ngài, là để được ơn cứu độ, để được vào Nước Trời . . . Mà được vào Nước Trời, được cứu độ nghĩa là làm thánh rồi!
Giữ đạo và sống đạo tốt là đứng vững trong ơn thánh sủng mà chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội (= không phạm tội trọng); là thực thi ý Chúa dành cho đời mình và chu toàn những công việc bổn phận hằng ngày trong đấng bậc mình. Sống được như thế là nên thánh vậy. Nhưng để làm được những việc này, không ai bảo rằng đó là chuyện dễ. Nhưng chúng ta không nên thánh nhờ vào sức riêng của mình. Chúng ta chỉ có thể nên thánh cùng với ơn Chúa mà thôi.
Chúng ta nên nhớ rằng: nên thánh là một lời mời gọi, một sự nhắc nhở thân thương nhưng quyết liệt của Chúa nếu không muốn nói đó là một đòi hỏi của Chúa cho chúng ta vì hạnh phúc của chính chúng ta: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Lịch sử Giáo hội đã cho chúng ta những mẫu gương thánh thiện như thế. Nhận ra được điều đó nên thánh Agustinô đã mạnh dạn nói rằng: “Ông này bà nọ nên thánh được, tại sao tôi lại không?” Và ngài đã trở thành một vị đại thánh trong Giáo hội.
Đã có những sai lầm cần chấn chỉnh lại trong việc nêu gương của các thánh cho người ta học đòi. Những người viết chuyện các thánh có lẽ vì quá giàu thiện chí hay vì vấn đề tình cảm riêng tư, nên khi nêu gương của các vị thánh nhân đã toàn nói lên những chuyện phi thường, rồi thêm son phết vàng, thêm thắt “hoa, lá cành” vào . . . làm cho người đọc tuy có ngưỡng mộ, nhưng thấy khó lòng mà học đòi bắt chước vì nghĩ rằng các thánh là những người từ trên trời xuống, được đưa “nguyên bì” trên thiên đàng xuống trần gian! Hơn nữa người ta sẽ còn ngộ nhận rằng: làm thánh là phải làm những chuyện kinh thiên động địa, những chuyện phi thường, to tát. . . và còn phải sống một cuộc đời đầy khổ hạnh và hãm mình. Không phải thế. Tuy các thánh là những người có gương sống anh hùng và đầy chí khí, nhưng các ngài cũng là những con người như chúng ta. Các ngài cũng nếm trải những kinh nghiệm tội lỗi, về những yếu đuối của con người. Tiêu biểu là thánh Augustinô, thánh nữ Maria Mađalêna, thánh Inhaxiô Lôyôla . . . cũng đâu phải các ngài làm những chuyện to tát “dời non lấp bể” gì. Hãy nhìn gương thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu để hiểu “công việc thánh” là gì? Đôi khi chỉ cần nhặt một cọng rác bỏ vào thùng, quét nhà . . . vì lòng mến Chúa thì cũng có giá trị hơn xây nhà, làm đường . . . nếu ta làm những chuyện đó để được nổi danh và kiêu căng.
Tôi rất thích định nghĩa này: “thánh nhân là một tội nhân sám hối”. Mà sự thật là như thế. Rất nhiều những vị đại thánh từng là những tội nhân nghiêm trọng. Nhưng khi gặp được ánh sáng của Chúa thì các ngài sám hối đến tận căn và quay ngược 180 độ để trở thành những người con ngoan hiền của Chúa. Đó chẳng phải là trường hợp của Phêrô, của Matthêu, của Phaolô, của Augustinô . . . đó sao!
Tắt một lời là chúng ta nhất định phải làm thánh. Chúng ta cần xác tín mạnh mẽ và rõ ràng về điều này. Bởi lẽ, con người chỉ có 2 lối ngã cho mình khi hoàn tất cuộc sống ở trần gian này là: hoặc là nên thánh để đi vào cõi vĩnh phúc, hoặc là phải rơi vào chốn trầm luân đời đời, vì “Không thánh thiện thì không ai sẽ được thấy Chúa” (Đức tin 12, 14). Như vậy, chúng ta có nhiệm vụ nên thánh và giúp người khác nên thánh. Nhiệm vụ này trở nên cần thiết và cấp bách hơn cho những ai đang có trách nhiệm hướng dẫn linh hồn người khác. Các ngài cần mạnh mẽ xác tín về nhiệm vụ khó khăn nhưng cao quý này.
Có lẽ cũng một phần nào đó chúng ta thấy “sợ” nên thánh vì thấy có một số vị “Thánh sống” đang sống quá khác người! Đại loại như khi người ta ngủ thì mình thức để “cầu nguyện”, người ta vui thì mình buồn, người ta ăn uống thì mình hãm mình ép xác . . . Người ta thường nói rằng “một ông thánh buồn là một ông thánh đáng buồn!”. Thánh không sống khác người nhưng vượt lên trên cuộc sống của con người.
Ta nên nhớ rằng: không được hãm mình thường xuyên nhưng phải bỏ mình thường xuyên. Chỉ khi nào biết bỏ mình thật sự vì lòng yêu mến Chúa chúng ta sẽ nên thánh. Chúng ta đừng chọc ghẹo nhau là thánh A, thánh B mà làm ảnh hưởng không tốt đến vấn đề rất nghiêm túc và linh thánh này. Chúng ta phải nên thánh và nên thánh mỗi ngày. không ai được dừng lại để nói rằng: nên thánh như vậy là đủ rồi! Cũng đừng có ai bằng lòng với mức thánh thiện của mình. Bởi lẽ, giữa thế gian lôi kéo ngược dòng, ai không tiến ắt sẽ lùi vậy. Và thiết nghĩ chúng ta cũng cần nhắc lại lời cảnh báo của Chúa Giêsu rằng ” Ai tưởng mình đứng vững coi chừng ngã!” (1Cr 10, 12)
Xin cho chúng ta cảm nhận được phần nào cái quí báo của việc tiến lên trên con đường thánh thiện để mỗi ngày chúng ta say mê trên con đường nên thánh.
XIV. MỘT LỐI SỐNG
NHỮNG TRÁI BẮP TỐT
Câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu về tình liên đới cũng như những ích lợi của việc sống tình liên đới.
“Có một người nông dân đoạt nhiều giải thưởng cho những trái bắp mà ông trồng khi tham gia cuộc thi những trái bắp tốt của tỉnh. Một lần kia, có một phóng viên đã phỏng vấn ông và đã khám phá một điều rất thú vị về cách mà ông đã thực hiện: Người nông dân chia sẻ những hạt giống của ông với những người hàng xóm.
– “Tại sao ông cho láng giềng những hạt bắp giống tốt nhất của mình như vậy, trong khi họ cũng tham gia tranh tài với ông?” Người phóng viên hỏi.
– “ Ồ!”, người nông dân trả lời- “Anh không biết rằng những luồng gió thổi những hạt phấn hoa từ cây bắp này sang cây bắp khác sao? Nếu láng giềng của tôi trồng toàn bắp kém chất lượng thì sự thụ phấn có thể khiến những trái bắp của tôi cũng sản sinh ra những trái bắp kém chất lượng. Do đó, muốn có được những trái bắp tươi tốt, tôi phải giúp những người hàng xóm của tôi trồng những cây bắp tươi tốt. Đó là lý do tại sao hằng năm tôi đều san sẻ những hạt bắp giống tất nhất cho họ. Và đó cũng chính là lý do tại sao tôi thường giành được các giải thưởng cao nhất mỗi năm”.
Người nông dân trên đã nhận thức được sự liên hệ của cuộc sống. Những trái bắp của ông không thể nào lớn mạnh trừ khi những trái bắp của ông không thể nào lớn mạnh trừ khi những trái bắp của những người láng giềng cũng lớn mạnh.
Các khía cạnh khác trong cuộc sống cũng vậy. Những ai muốn có được hoà bình, trước hết phải giúp người khác tìm được hoà bình. Những ai muốn có cuộc sống tốt đẹp, phải biết giúp người khác tìm được cuộc sống tốt đẹp cho họ. Những ai muốn có hạnh phúc, nên giúp đỡ người khác tìm được hạnh phúc của họ. Bởi sự thành đạt của người khác gắn liền với sự thành đạt của tất cả những người xung quanh.
Một người chỉ có thể có được hạnh phúc thật khi biết cách làm cho người khác hạnh phúc. Nói cách khác, nếu chúng ta biết gieo hạt giống hạnh phúc thì chắc chắn chúng ta sẽ gặt được hoa quả của hạnh phúc và ngược lại.
Hễ “có” thì phải nói “có”, “Không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ.






