
Con người tự bao đời luôn trăn trở với suy tư của mình về vũ trụ bao la. Con người luôn khao khát tìm kiếm nguyên lý ẩn sau thế giới vật chất này. Đâu là nguyên lý chi phối hoạt động của vạn vật. Nhiều thế hệ triết gia đã cố gắng tìm tòi và suy tư để rồi đi đến hiểu được có một Logos, là Lý trí bao trùm vũ trụ. Hiện nay, khoa học cũng chứng minh được rằng có những lực vật lý tác động lên các hành tinh cũng như toàn bộ sự vật. Qua những khám phá trên con người lại càng ngỡ ngàng trước sự kỳ vĩ và khôn dò khôn thấu của vũ trụ. Thế nhưng, nhiều câu hỏi lại được đặt ra. Vũ trụ chỉ được chi phối bằng những lực vật lý thôi không? Hay còn một lực nào khác nữa chi phối nó? Phải chăng có nhiều Logos khác cùng chi phối sự vận hành của vạn vật và cả cuộc sống của nhân loại. Vẫn luôn có những tranh luận về vấn đề này và lý trí của con người chưa thể nắm bắt hoàn toàn được. Trong niềm tin vào một Thiên Chúa là Chúa Tể vũ trụ, chúng ta tin rằng Người là Đấng tạo nên vũ trụ cũng muôn loài muôn vật trong đó. Nếu như về khía cạnh vật lý, Thiên Chúa đã trao ban cho vũ trụ những nguyên lý hay những lực vật lý để nó vận hành một cách hoàn hảo, thì về khía cạnh tinh thần, Thiên Chúa cũng trao ban cho con người một lực tình yêu, là căn tính của ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa.
Thánh Gioan từng nói: “Thiên Chúa là tình yêu.” (1Ga 4, 16) Đây rõ ràng là trọng tâm của đức tin Kitô giáo. Bản chất của Thiên Chúa là tình yêu và Người muốn thông ban tình yêu ấy cho tạo vật của mình, đặc biệt nơi con người. Con người không thể nào sống trọn vẹn căn tính của mình nếu thiếu đi tình yêu. Khi nhắc tới khái niệm “lực” chúng ta thường hay nghĩ tới lực hút hay lực đẩy, lực hướng tâm hay lực ly tâm. Vậy còn lực tình yêu có thể được hiểu cách tương tự hay không? Lực tình yêu là lực hướng tâm hay lực ly tâm? Thực sự mà nói ngôn ngữ của nhân loại không thể gói gọn hết được bản chất tình yêu của Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong sự giới hạn đó, chúng ta có thể hiểu được phần nào bản chất ấy. Nếu chúng ta chọn điểm quy chiếu là Thiên Chúa, mà thực chất Thiên Chúa luôn là điểm quy chiếu cho mọi hoạt động của chúng ta, thì lực tình yêu phải là lực hướng tâm. Chúng ta quy hướng tình yêu của mình vào tình yêu của Thiên Chúa, là nguồn cội của chúng ta. Nếu mất đi điểm quy hướng đó, chắc chắn chúng ta sẽ lạc lối và dễ rơi vào cạm bẫy của tình yêu vị kỷ nơi mình. Còn nếu chúng ta chọn điểm quy chiếu là bản thân mình thì lực tình yêu phải là lực ly tâm. Thiên Chúa vốn yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một của mình để cứu rỗi con người. Thiên Chúa đã hướng tình yêu của mình ra cho tạo vật, thì đến lượt mình chúng ta cũng phải hướng tình yêu của chúng ta đến tha nhân và những thụ tạo khác. Còn không thì tình yêu của chúng ta vẫn sẽ là tình yêu vị kỷ.
Martin Buber đã mô tả tình yêu Thiên Chúa bằng một thuộc tính quan trọng mà ông gọi là “lôi ra, kéo ra.” Ông nói: “Kéo ra lôi ra ngay từ đầu là bản chất của Thiên Chúa. Kéo ra khỏi những vướng mắc, ra khỏi dửng dưng, ra khỏi cô đơn và cô lập.” Vì yêu mà Thiên Chúa đã cho con người hiện hữu. Hiện hữu của con người là hiện hữu trong tình yêu. Như những viên kim cương được lôi ra khỏi những lớp trầm tích xưa cổ, con người cũng được Thiên Chúa kéo ra khỏi hư vô mà đưa vào hiện hữu. Cho nên, bản chất của tình yêu con người cũng là “lôi ra kéo ra.” Nếu chúng ta không ra khỏi lòng mẹ sau 9 tháng 10 ngày thì chúng ta không thể tiếp tục sự sống được. Nếu chúng ta không rời khỏi sự che chở của gia đình để đi vào cuộc đời thì làm sao chúng ta trưởng thành. Nếu chúng ta không ra khỏi cái tôi hạn hẹp của mình thì làm sao chúng ta có thể tiếp cận được tha nhân là món quà mà Thiên Chúa gửi đến. Hiện hữu nhân sinh, tự bản chất, là một cuộc xuất hành liên lỉ. Nếu không ra khỏi bản thân mình thì làm sao chúng ta có thể khám phá hay nói đúng hơn là đắm mình trong huyền nhiệm tình yêu được. Chúng ta chỉ thấy tình yêu giới hạn của mình mà mờ tối trước sự vĩ đại của tha nhân. Chính vì thế, ĐGH Bênêđictô XVI từng nhấn mạnh: “Bản chất của tình yêu là vượt qua, quy luật nền tảng đó chúng ta đã biết. Hẳn nhiên, hành động của kẻ yêu tôi cũng là hành động vượt qua. Nói phải kéo tôi ra khỏi bản năng thoải mái muốn ở lại trong chính tôi.”
Dù chúng ta là người hướng nội hay hướng ngoại thì chúng ta cũng cần yêu dù cho cách thế yêu của chúng ta có khác biệt thế nào chăng nữa. “Không ai là một hòn đảo” là khẳng định chắc chắn cho xã hội tính của nhân loại. Còn nỗi sợ hãi nào khủng khiếp hơn nỗi sợ hãi của người bị loại trừ khỏi cộng đồng nhân loại, phải sống trong sự cô đơn khủng khiếp đó. Cho nên, tình yêu không thể được tỏ lộ trọn vẹn nếu mất đi chiều kích “ly tâm,” tức là hướng ra ngoài. Giống như Thiên Chúa đã hướng tình yêu của mình ra ngoài cho tạo vật được thông chia thì con người cũng cần điều đó. Làm sao yêu trọn vẹn nếu không có một đối tượng để yêu. Làm sao biết mình được yêu nếu không có ai yêu mình. Yêu và được yêu luôn song hành cùng nhau. Nếu thiếu đi một chiều kích thì tình yêu sẽ què quặc và không còn gọi là tình yêu nữa. Như vậy, chúng ta cần nhấn mạnh một lần nữa về chiều kích “xuất hành” của tình yêu là đi ra khỏi cái tôi của mình để đến với chân trời của tha nhân, nơi mà tình yêu được tỏ lộ cách trọn vẹn.
Mặc dù tình yêu nằm trong bản chất của con người, thế nhưng điều này không có nghĩa yêu là dễ dàng. Trên con đường của tình yêu “kéo ra lôi ra” đó, chúng ta vẫn gặp nhiều cám dỗ và thử thách. Chúng ta dễ bị lôi kéo để quay về với chính mình, trong vùng an toàn của mình. Khi tình yêu của chúng ta bị lợi dụng hay bị chà đạp, chúng ta sợ hãi để cởi mở cho người khác thêm nữa. Chúng ta thấy rằng sẽ an toàn hơn khi đóng kín bản thân mình lại. Bên cạnh đó, chúng ta còn dễ bị cám dỗ của sự nhanh chóng, tức là mong muốn làm gì cũng cho nhanh cho qua. Quen biết người này người kia được đôi ba bữa rồi kết thúc. Lâu dần chúng ta thấy mình chẳng còn thích thú điều gì nữa, mình chẳng còn thích ai hay cũng chẳng ai thích mình nữa. Chúng ta rơi vào sự trống rỗng, mâu thuẫn với chính mình, với chính căn tính tình yêu của mình. Một cám dỗ khác chính là việc xem tình yêu chỉ là thứ yếu. Ai cũng muốn mình có thể yêu và được yêu. Nhưng nhiều người lại chọn lựa con đường khác. Đó là con đường của công danh sự nghiệp, của tiền tài danh vọng. Họ đặt hết tâm sức của mình vào đó. Thay vì chọn từ bỏ cho tình yêu thì họ lại chọn nhận về cho chính mình. Nghịch lý thay nhiều người khi đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp rồi lại tự vấn về ý nghĩa cuộc đời của mình. Tiền bạc họ không thiếu nhưng lại chẳng có ai để yêu thương. Do đó, vượt qua những đòi hỏi của cái tôi hạn hẹp là một trong những điều vĩ đại mà con người được mời gọi để dấn thân. Vượt qua nó để đến với chân trời của hiểu biết thực sự. Đó là sự hiểu biết về mầu nhiệm tình yêu.
Chính vì lẽ đó, ai trong chúng ta cũng cần học biết nghệ thuật yêu. Chúng ta dễ có khuynh hướng quy về chính mình với mong muốn được yêu mà thôi. Chúng ta chỉ muốn người khác quan tâm tới mình. Chúng ta muốn thu vén và làm giàu cho bản thân mà thôi. Thế nhưng, để được yêu thì trước hết chúng ta phải yêu. Yêu đòi buộc bản thân bước ra khỏi chính mình để suy nghĩ và lo lắng cho người khác. Đôi lúc, hành động của chúng ta không được người khác đoái hoài nhưng không phải vì vậy mà chúng ta từ bỏ. Tình yêu đòi buộc nơi mỗi người sự kiên nhẫn và bao dung. Càng khó hơn nữa khi chúng ta cần phải yêu người không yêu mình. Đó là nghịch lý mà theo lẽ thường chúng ta không thể nào chấp nhận được. Nhưng trong nghịch lý đó đã tồn tại một chân lý phổ quát của tình yêu. Lực tình yêu thì bao trùm cả nhân loại, không ai bị loại trừ cả. Nơi hình ảnh Con Thiên Chúa, chúng ta học được cách yêu trọn vẹn. Người đã hiến trọn vẹn thân mình làm giá chuộc con người. Cho dù bị từ khước, Người vẫn yêu và yêu đến tận cùng. Qua hành vi tự hiến đó, Thiên Chúa không còn là một vị Thiên Chúa trên cao nữa mà Người đã đi vào lịch sử nhân loại, trở nên giống con người và cùng chịu đau khổ với con người. Học nơi Người, chúng ta cũng biết tự hủy vì yêu.
Nói tóm lại, con người được sinh ra để yêu và được yêu. Món quà tình yêu đã được trao tặng nhưng không để con người lấy đó làm thước đo cho cuộc đời mình. Lực tình yêu thấm nhập vào từng ngóc ngách của hiện hữu. Chúng ta không thể làm gì mà không có tình yêu. Hay nói mạnh hơn là chúng ta không thể thoát khỏi tình yêu. Hãy để lực tình yêu kéo chúng ta ra khỏi cái bản ngã chập hẹp nơi mình mà vươn tới tha nhân. Chúng ta chỉ có thể gặp được tha nhân khi cùng nhau hướng ra ngoài. Chính sức hút của tình yêu sẽ kéo mọi người lại với nhau. Một khi đã chạm được vào nhau, chúng ta mới thực sự là họa ảnh của Thiên Chúa khi Ngài đã đến và đã chạm vào tận cùng hiện hữu của chúng ta. Chính cái chạm đó có sức mạnh biến đổi để tôi không còn sống cho riêng mình nữa. Tôi dám hy sinh cả chính mình cho những người mà tôi gặp gỡ và phục vụ. Chiều kích hy sinh chính là đỉnh cao của tình yêu tự hiến mà Chúa Giêsu đã nêu gương cho mỗi người chúng ta. Ước mong mỗi người ý thức mình là tình yêu và biết làm tỏ lộ sự hiện diện sống động của tình yêu nơi mỗi khoảnh khắc của cuộc hiện hữu nhân sinh.
Tác giả: Philipphê Trương Hoàng Trung Nguyên – Họ đạo Vĩnh Kim
(Bài suy tư được CTV gởi về BBT Web GPVL)






