Tây Du Ký – Nguyên tác: Ngô Thừa Ân. Ở hồi thứ 12, truyện kể rằng:
“…Quan Âm ở miễu Thổ Ðịa bấy lâu, mà tìm kẻ thỉnh kinh chưa đặng. Nay nghe vua chọn Huyền Trang làm thầy cả mà chứng đám chay, lấy làm mừng rỡ, thầy trò giả thầy chùa ghẻ lác, đem gậy, áo đi bán tại Trường An … tới cửa Ðông Huê, gặp Tể Tướng Tiêu Võ trên đường đi chầu về.
…Tiêu Võ gặp hai thầy trò Quan Âm liền xuống ngựa bái mà nói rằng:
– Tôi thất lễ xin thầy miễn chấp, Bệ Hạ tôi lòng lành trọng Phật đương lập đàng Thủy Lục nhóm hơn ngàn sãi, mà thầy cả là Trần Huyền Trang đáng mặc Cà sa nầy, … xin thầy theo tôi đến gặp Bệ Hạ coi thể nào?“
…Về đến triều, Tiêu Võ và hai thầy trò Quan Âm vào yết kiến Vua Thái Tôn. Quan Âm rao bán Cà sa với giá năm ngàn lượng bạc.
Vua hỏi:
– Cà sa có chi báu, mà giá mắc như vậy?
Quan Âm nói:
– Áo Cà sa nầy của tiên nữ dệt, lại thêu bông sen, và đính những hột châu; bốn góc bốn hột châu chiếu ban đêm sáng như ban ngày, chính giữa có châu như ý, và châu ngăn gió, viền bằng vàng, nút bằng ngọc, mặc vào khỏi đọa luân hồi, lại thêm sáng láng, bụi chẳng đóng vào, lửa không đốt cháy được, của Phật chế ra, muôn đời truyền... nhưng nếu như gặp người có đức hạnh thì tôi cho không chẳng lấy tiền…”
Trong tâm thức, chiếc áo Cà sa được biểu hiệu cho áo giáp đạo đức hộ thân để giúp Hòa thượng Trần Huyền Trang tự giữ giới; chiếc áo này cũng không khác gì một bức rào ngăn chận những hành vi mê lầm và phạm giới cho người xuất gia, và sau hết trở thành một bức tường thành kiên cố mang lại sự an lạc cho người mặc nó thêm tinh tấn, sức mạnh, và trí tuệ.
Trần Huyền Trang xuất gia đầu Phật cần phải mặc lấy Cà sa để được an toàn bản thân trên đường đi thỉnh kinh thể nào. Thì thiết nghĩ cũng vậy, để trở nên một tín hữu Kitô thực thụ kiên vững trong đức Tin, phó thác trong đức Cậy, nhiệt thành trong đức Mến; thiết tưởng người tín hữu càng cấp thiết phải được “mặc lấy Ðức Kitô“; để mỗi người đủ sức, đủ tầm cầm lấy vũ khí của sự sáng mà chiến đấu với Thần Tối Tăm: ma quỷ, thế gian và xác thịt. Thánh Phaolô quả quyết rằng: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được Rửa tội để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô“ (Gl. 3,27) và Ngài cũng mời gọi: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm. 13,14).
Ðược “mặc lấy Ðức Kitô” không chỉ có nghĩa là khoác một chiếc áo để che thân xác, che chở những khốn khó, những nỗi bất hạnh của người Kitô hữu không thôi. Mà nó còn có ý nghĩa được hoàn toàn biến đổi tận căn, để chúng ta cũng có thể nói được như Thánh Phaolô: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thập giá. Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl. 2,19-20). Nghĩa là phải được trưởng thành trong đức Tin, phải cố gắng sống thật sự thánh thiện, tinh tuyền để trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Kitô mới được, vì lẽ Cha của mọi tín hữu Kitô, là Cha Trên Trời là Đấng Thánh Thiện, hoàn hảo (x. Mt. 5,48).
Như thế, mỗi người tín hữu được đòi hỏi phải là những Kitô sống động trong thế gian. Đòi hỏi này không chỉ được dành riêng cho hàng giáo sĩ và bậc thánh hiến, mà còn là một đòi hỏi cho tất cả mọi người giáo dân. Vì lẽ Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa hoá thân nhập thể, vẫn còn tiếp tục tỏ lộ chính mình Người trong thân xác mỗi người chúng ta, trong cuộc sống thường nhật. Thật vậy, sự cứu độ đích thực vẫn đang tiếp diễn trong thế giới hôm nay khi mỗi một Kitô hữu thực sự trở nên giống Ðức Kitô.
Khi chúng ta nghĩ về Chúa Giêsu chỉ là một con người đặc biệt, dù đã sống cách đây hàng ngàn năm nhưng đời sống và lời nói của Ngài vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến chúng ta, thì chúng ta đã quên đi điều quan trọng khác cần thiết hơn; đó là Chúa Giêsu muốn chúng ta trở nên giống (exactly) Ngài, hơn là chịu ảnh hưởng (effected) bởi ngài.
Chính Chúa Giêsu đã từng nói trong nhiều hoàn cảnh khác nhau: Chính Ngài là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa, đến thế gian để “tiết lộ” cho chúng ta biết chúng ta cũng là những người con dấu yêu của Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương với một tình yêu vô điều kiện. Thánh Gioan viết, “Anh em hãy xem Chúa Cha đã yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1Ga. 3,1).
Con Chúa thì đòi hỏi phải giống Chúa từ suy nghĩ, lời nói, cho tới cách ăn nết ở vậy. Con Chúa phải biết hoàn toàn tựa nương, phó thác vào Chúa, thậm chí ngay cả trong hoàn cảnh “dầu sôi, lửa bỏng” hay “thập tử nhất sinh” cũng thế: chỉ một lòng tin yêu, cậy trông! Ðây là một thách đố lớn lao cho đời sống tâm linh: Người tín hữu Chúa dễ thường ngủ quên trong ân sủng “con của Chúa”, để rồi tự cho là mình giống Chúa Giêsu, và tự hào cho rằng chúng tôi là những Kitô sống động ngày nay. Từ đó, dễ dàng đánh mất “ơn gọi” mà Chúa “riêng ban” cho mỗi người, tùy theo cách thế của họ.
Đáng tiếc thay, không ít Kitô hữu khi hoà mình vào trần thế, đã để cho thế trần làm biến chất “Kitô hữu” của mình đi không ít thì nhiều; họ sợ hãi đủ điều, sợ nghèo khó, sợ dấn thân, sợ nguy hiểm, sợ mất địa vị, sợ vô danh, …
Theo trào lưu tục hoá hiện nay, cuộc sống người Kitô hữu bị phân mảnh làm đôi: “việc đạo” được xem là việc “tư riêng” thường bị đóng khung quanh quẩn trong khuôn viên nhà thờ. Ngoài những sinh hoạt hội đoàn ở nhà thờ ra, cuộc sống đời thường và các sinh hoạt xã hội khác không hề mang nội dung, dấu hiệu gì khác để diễn tả niềm tin Kitô của mình cho người khác nhận biết. Bất quá nếu có, cũng thường bị “khử tính thần thiêng” đi phần nào, để còn lại chỉ là mang hình thức văn hoá lễ hội, tiệc mừng thuần túy… “tiệc” mà thôi. Không ít các Kitô hữu Con Chúa lại “vô tư” chấp nhận kiểu sống đạo này; chẳng khác nào đặt ngọn-đèn-đức-Tin của mình dưới đáy-thùng-cuộc-đời, làm cho ánh sáng “Kitô hữu” không thể lan tỏa chiếu sáng tính năng – là đèn thân thể của mình được.
Hoặc người Kitô hữu chúng ta cũng dễ dàng quên rằng mình cũng là những người tội lỗi. Nhiều khi chúng ta thích nhập vai người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng: ghen tương, tị hiềm với người anh em mình. Giống như người con cả tốt lành, luôn ở bên cha nó và làm theo ý muốn của cha; giờ đây lại nổi giận trước sự tha thứ quảng đại của cha, và buồn sầu vì cha mình tổ chức lễ mừng cho thằng em sau bao năm đi hoang trở về (x. Lc. 15,11-32).
Những lúc mình tự hào là người con ngoan hiền của Chúa, thì hãy nhớ rằng: đây không phải là công nghiệp của tôi, nhưng chính là nhờ giá-máu-cứu-chuộc-nhưng-không của Ngôi Hai Thiên Chúa. Khi nhớ như thế, chúng ta ý thức về mình hơn, biết khiêm nhường hơn, không ảo tưởng rằng mình là những người tốt lành nhất. Khi nhớ được như thế, ta ý thức rõ tội lỗi của người khác cũng liên quan tới chúng ta nữa, để từ đó chính chúng ta cũng phải biết thương xót và nhân từ hơn đối với những người khác vậy.
Hãy thắp sáng niềm tin là Con của Thiên Chúa bằng cách “mặc lấy chính Con Thiên Chúa”; để đem Tin Mừng vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, để việc xây dựng xã hội trần thế ngày càng tốt đẹp theo tinh thần Phúc Âm, để mỗi bước đi vào thế giới hôm nay như một ngọn nến cháy sáng trong đêm tối dày đặc; có thể tự nó không thể xua tan bóng đêm, nhưng nó giúp chúng ta tự tin đi giữa, và đi trong đêm tối . Để khi nhìn lại những bước nhỏ bé của tâm thức ấy, mỗi người Kitô hữu sẽ chợt thấy rằng chúng ta vừa trải qua một hành trình dài và tốt đẹp, luôn có Chúa “được mặc” trên người của mình và luôn đồng hành với mình vậy!
Cát Biển






