
Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt, 1960
Điều ấy đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Tôi chỉ xin ghi lại vài nét mà tôi nghĩ là quan trọng hơn cả khi Giáo hội hiện tại Việt Nam vẫn chưa thể góp phần gì nhiều vào lãnh vực quan trọng này. Nếu chúng ta nghĩ giáo dục như một trong những lãnh vực hoạt động, thì đúng là thế. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ và nhìn rõ Giáo hội trong tư cách là “chuyên viên về con người”, theo ngôn ngữ của đức Gioan Phaolô II, cũng như giáo dục như sứ vụ, thì quả thực Giáo hội tại Việt Nam không thể không suy nghĩ hầu tìm ra được lối đường thực thi sứ vụ cao trọng này. Đánh mất ưu tư và lo lắng này, Giáo hội tại Việt Nam có nguy cơ coi nhẹ căn tính của mình. Dù yếu đuối và có nhiều vấp ngã, Giáo hội tại Việt Nam vẫn phải dẫn con người đến gặp gỡ Đức Giêsu với một lương tâm ngay chính và tốt lành. Giáo hội tại Việt Nam vẫn luôn ra sức sống và trình bày Đức Giêsu là vị Thầy khôn ngoan duy nhất giữa những vị hiền triết Á đông và Việt Nam. Giáo hội ấy cũng minh chứng rằng Thánh Thần là nhà Giáo dục duy nhất có khả năng biến đổi những con người bị phân mảnh thành những con người được thống nhất của Đức Kitô.
Để làm điều này, trước tiên tôi ghi lại vài điểm trong bức tranh tổng quát của Giáo hội tại Việt Nam trong lãnh vực giáo dục. Đoạn tôi sẽ trình bày một vài thách đố trong hiện trạng về điều này. Sau cùng tôi nói đến những cơ hội mở ra cho ý thức của Giáo hội tại Việt Nam về giáo dục.
I- Vài nét chấm phá trong bức tranh tổng quát của Giáo hội tại Việt Nam về giáo dục
1/ Truyền thống Việt Nam luôn quan tâm đến giáo dục, không phải theo nghĩa tri thức cho bằng việc hình thành nên những con người tốt.[2] Kẻ có học là kẻ hy sinh bản thân mình vì gia đình và tổ quốc. Họ phải tử tế, can đảm, chuyên cần và vị tha. Người quân tử của Nguyễn Công Trứ rèn luyện nhân cách của mình và kiên nhẫn chờ thời. Cái đức của kẻ sĩ vẫn lớn hơn cái bồ tri thức. Tuy nhiên, sở đắc được kiến thức cũng thật quan trọng đến nỗi nó hầu như đồng nghĩa với giáo dục. Kẻ được học hành là người có giáo dục. Cha mẹ và thậm chí người vợ cũng sẵn lòng gánh vác mọi khổ cực để cho con cái hay người chồng của mình học hành và đỗ đạt. Đối với người bình dân và giới lao động, học cao là con đường đi tới một tương lai tươi sáng. Theo ánh sáng này, các thầy cô luôn được kính trọng như người xua tan bóng đêm ngu dốt khỏi tâm trí con em mình. Thầy cô được sánh ví vào những vị ân nhân lớn nhất như bậc cha mẹ.
Được thừa hưởng một truyền thống tốt đẹp như thế, Giáo hội tại Việt Nam đã góp phần đáng kể của mình. Đóng góp không thể quên được của Giáo hội tại Việt cho sự nghiệp phát triển giáo dục trên quê hương nay là góp phần phổ biến chữ quốc ngữ. Dĩ nhiên, chữ quốc ngữ không phải là công trình của riêng Giáo hội tại Việt Nam. Đó là công trình của toàn dân Việt. Dẫu vậy, phủ nhận sự đóng góp tích cực của Giáo hội trong việc này giống như đã bóp méo lịch sử vậy. Ai dám coi nhẹ những công trình của Alexander de Rhodes (Đắc Lộ) và những vị thừa sai cho buổi sơ khai của nền văn học chữ quốc ngữ tại Việt Nam.
2/ Dần dần, chữ quốc ngữ kiện cường sự hiệp nhất dân tộc chống lại sự đô hộ của Trung Hoa. Nó cũng hữu ích để dân Việt chiến đấu dành độc lập, thoát khỏi thời thực dân Pháp. Nhờ chữ quốc ngữ, căn tính dân tộc được phát huy đến độ “chữ quốc ngữ còn, nước Việt còn”. Nhờ chữ quốc ngữ, chính sách “xoá mù chữ” được lan rộng đến quần chúng, dù không hoàn toàn thành công. Một số nhà tri thức Công giáo như Petrus Ký, Nguyễn Tường Tộ, v.v. góp phần của mình vào việc canh tân quốc gia về giáo dục. Họ đứng tổ chức các tờ báo, dịch và phổ biến những tác phẩm văn học ngoại quốc như ngụ ngôn La Fontaine. Qua đó những giá trị như công bằng, tự do, v.v được trồng vào dân chúng. Chính họ cũng khuyến khích và giúp cho một số ít người đi du học.
3/ Những người trí thức Công giáo giống như chiếc cầu nối kết Giáo hội và xã hội. Ta bắt gặp những thi nhân, giáo sư, giáo viên, và cả đến những nhà chính trị nữa. Họ thật sự góp phần làm cho quê hương nên hưng thịnh. Nhưng trên hết, họ có công đưa những giá trị tin mừng vào trong văn hoá Việt Nam, một cách rất tự nhiên qua những sáng tác nghệ thuật. Chẳng hạn, thi sĩ Hàn Mạc Tử đã góp phần làm cho những vần thơ tôn giáo đi vào lòng người Việt Nam một cách tự nhiên. Bằng nhiều cách khác nhau, các trí thức Công giáo làm cho danh Thiên Chúa không còn xa lạ với người Việt nữa. Những bài vè đậm tính chất tôn giáo cũng được lan truyền giữa dân gian khi được dùng để ngâm nga hay để ru trẻ con ngủ. Bằng những cách thế đơn sơ ấy, dân chúng quen thuộc hơn với những lý tưởng bình an, công bằng và tình huynh đệ.
4/ Khi Giáo hội tại Việt Nam được kiên vững, từng bước Giáo hội đã đi vào trong hệ thống giáo dục. Chính Giáo hội ấy đã từng tổ chức những trường tư thục nổi tiếng vì kỷ luật học tập cũng như có những giáo viên có tài đức. Tại miền quê, các trường học đã từng gắn liền với một giáo xứ và qua đó đã giúp cho nhiều con em tại các vùng quê được xoá cảnh dốt nát, mù chữ. Các trường học Công giáo này tiếp đón các thanh thiếu niên, bất kể lương giáo. Chắc chắn, tại những trường đó, việc dạy giáo lý là bó buộc, nhưng ngoài ra cũng dạy đạo đức công dân cũng như những nét chính của các tôn giáo khác nữa. Đang khi đó ở các thành phố, các trường Công giáo cũng khẳng định được chỗ đứng của mình giữa hệ thống trường công lập, nhờ vào những kết quả học tập trong các kỳ thi quốc gia. Nhờ việc trao đổi văn hoá, khuôn mặt của Việt Nam được biến đổi dần dần. Một số người tốt nghiệp từ những trường Công giáo cũng bước vào lãnh vực chính trị vì tương lai của Việt Nam. Một số trong họ đã trở thành những người lãnh đạo nổi tiếng.
5/ Giáo dục tại Việt Nam cũng được hưởng lợi từ các dòng tu chuyên về giáo dục như các sư huynh La Salle, dòng Tên, dòng Don Bosco, dòng Đa Minh, v.v. Các nữ tu cũng góp phần không nhỏ vào lãnh vực giáo dục trường học. Các dòng tu nam nữ điều khiển các trường cao đẳng cũng như các trường tư thục vốn đào tạo những người tài đức cho quê hương trong những lãnh vực khác nhau,[3] ngay cả góp phần vào việc huấn luyện nghề nghiệp cho các thanh thiếu niên. Một số cũng dấn thân vào cả những trường cải huấn, các viện mồ côi. Quả thực, qua các ký túc xá, các trường nội trú, cao đẳng và đại học, nhiều giá trị tin mừng được cấy vào trong quê hương mà đa phần dân chúng là ngoài Kitô giáo.
Tóm tắt thời kỳ này, trích lại lời nhận định của các Giám mục Việt Nam quả là tốt đẹp: “Viện Đại học Đà Lạt là mối bận tâm của Hội Đồng Giám Mục từ lâu. Các Giám mục đang lo tìm phương thế duy trì và củng cố viện đó để biến thành một tay trợ tá đắc lực cho nền giáo dục Cao Đẳng Quốc gia… Các Giám mục cũng mong cho các tư thục Công giáo thuộc các cấp bậc, được thống nhất về đường lối và phương pháp, để cung cấp cho con em một nền giáo dục hoàn hảo hơn.”[4] Nơi khác, các Giám mục Việt Nam ra chỉ thị rằng những tổ chức khuyến học cần phải được thiết lập tại các giáo xứ và giáo phận hầu những học sinh nghèo có được cơ hội học hành và được giáo dục tử tế.
6/ Biến cố 1975 chấm dứt các trường Công giáo. Tất cả đều bị quốc hữu hoá. Từ đó, chính sách độc quyền giáo dục ngự trị. Mọi tôn giáo và tư nhân đều bị loại khỏi lãnh vực giáo dục, không có quyền hay tiếng nói gì trong giáo dục cả. Dường như có một sự nghị kỵ, nếu không nói là căm thù hay tẩy chay Giáo hội khỏi giáo dục. Chính sách thanh lọc “Thiên Chúa giáo” đã khiến cho nhiều người trẻ không thể chen chân vào đại học. Châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” đã biến mất. Chủ nghĩa vô thần được công khai giảng dạy. Đang khi đó đức tin và thực hành tôn giáo trở thành chuyện riêng tư cá nhân mà thôi. Phải thực hành nó trong nơi kín ẩn mà thôi! Kiểu sống được khuôn rập theo lý tưởng Hồ Chủ Tịch hay Karl Marx hay Vladimir Lenin mà thôi. Đời sống chỉ đóng khung trong những thực tại trần tục mà thôi. Tất cả những phương tiện truyền thông đại chúng được dùng như một thứ tẩy não khỏi những gì là siêu việt. Một thứ vô thần ‘hiếu chiến’ và độc tôn được thực hành. Hít thở trong bầu khí đó, mọi người, nhất là thanh thiếu niên, một cách vô thức và tiệm tiến đều bị nhiễm độc.
7/ Cùng với tính chuyên chế chính trị, một thế giới biến chuyển mau lẹ biến lạc thú và “xả hơi thoải mái” thành một ngẫu tượng. Lối sống Âu Mỹ nhào nắn lối nghĩ suy của giới trẻ. Chúng chạy theo “tiêu chuẩn mỹ quốc”, “tiêu chuẩn hàng hiệu”. Sự đua đòi hiện ra dưới muôn vẻ. Chủ thuyết lơi lỏng và tương đối trong luân lý tàn phá cảm thức nết na và hy sinh truyền thống của dân tộc. Làn sóng di dân từ miền Trung và Bắc tạo nên cơ man những rối loạn về giáo dục. Trình độ giáo dục và học vấn xuống dốc cách báo động. Kỳ thi tốt nghiệp được thả lỏng cho quay cóp và gian lận. Số trẻ em thất học gia tăng và nhiều trẻ em đã bị bóc lột lao công. Bạo lực học đường và giữa thanh thiếu niên nam nữ đang gia tăng đến mức lo âu. Bức tranh này không mấy sáng sủa mà nhiều người còn thấy rõ hơn tôi. Tuy nhiên, khi nêu lên những thực trạng này, tôi không muốn mang mắt kính bi quan. Đức tin đòi buộc chúng ta phải đọc ra “dấu chỉ thời đại” hay tiếng nói của Thiên Chúa giữa những hiện trạng nhân sinh cá nhân và xã hội. Đức tin không phải là viên thuốc ru ngủ, nhưng đòi ta phải là người thực tế được soi sáng bởi tình yêu của Thiên Chúa. Đó là cách hành xử của những vị khổng lồ của đức tin như Ápraham, Môsê, Phanxicô Assisi, Đa Minh, I-nhã hay Gioan Bosco. Nói chung, tình trạng giáo dục trên đất Việt hiện nay không mấy sáng sủa, nếu không muốn nói về “tình trạng cấp cứu” giáo dục.
8/ Giáo hội Việt Nam sống thời mùa đông của giáo dục. Giáo hội thấy mình trói tay trói chân, khi nhìn thấy nhiều thanh thiếu niên đi vào ngõ cụt của các nết xấu xã hội. Cuối cùng, một tia sáng cũng lóe lên cuối đường hầm. Phong trào Perestroika cũng đến Việt Nam. Qua đó, Thần Khí thổi làn hơi mới vào trong Việt Nam. Lợi dụng cơ hội này, nhiều dòng tu bắt đầu quan tâm đến nhà trẻ như một hình thức thực thi sứ vụ của mình. Có kẻ cho rằng đó là cách kiếm sống. Tôi không nghĩ như thế. Cả một tập thể dòng tu, với cảm thức đức tin sống động, không thể chết chìm trong lối nghĩ thế tục của lợi nhuận. Các tu sĩ đã có thể lấy được những văn bằng sư phạm chính thức. Chẳng mấy chốc, các nhà trẻ đó đã có tác động lớn ngay cả trên những cán bộ đảng viên. Các tu sĩ đó chỉ tập trung dạy cho các em nhỏ những giá trị nhân bản cũng như những lối sống đạo đức của dân Việt. Cùng lúc đó, một số tu sĩ và giáo dân được thúc đẩy do tầm nhìn đức tin tìm cách tiếp cận với những thanh thiếu niên bị bỏ rơi. Những trường phổ cập, lớp tình thương đã nở rộ và mang lại nhiều điều tốt cho một số thanh thiếu niên. Có thể con số vẫn ít ỏi, nhưng dù sao cũng là những kinh nghiệm quý báu để Giáo hội tìm được hướng đi mục vụ của mình. Những trường huấn nghệ, những lưu xá sinh viên, những hình thức nội trú cũng được tìm tòi để tạo nên những điều tốt lành. Trong việc này, Giáo hội tại Việt Nam cũng tìm thấy lối đường liên kết những con người thiện chí, bất kể tôn giáo, để lo giáo dục những thế hệ mới.
9/ Tóm lại, thời gian trôi qua, những cơn bão tố của chủ nghĩa vô thần, tiêu thụ và tương đối tàn phá quê hương mạnh mẽ hơn; những phương tiện công nghệ cao, được sử dụng một cách bừa bãi và không được hướng dẫn, cũng như bị chủ nghĩa lợi nhuận chi phối, tiếp tục đưa tới những tình cảnh ‘như thể không lối thoát’ cho nhiều thanh thiếu niên, và như một kết quả, trình độ giáo dục xuống dốc. Dẫu thế, qua điều này, Giáo hội tại Việt Nam biết mình hơn. Giáo hội nhận biết vai trò của mình là nuôi dưỡng và cổ xúy những yếu tố làm nên một xã hội tốt đẹp. Giáo hội ấy bắt đầu lên tiếng trong đối thoại để xã hội chấp nhận đóng góp của Giáo hội vào sự hưng thịnh của quê hương qua con đường giáo dục.






