MỚI

01:25
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogTin Giáo PhậnNhật Ký Tĩnh Tâm Linh Mục Năm 2013 Ngày 26. 11. 2013

Nhật Ký Tĩnh Tâm Linh Mục Năm 2013 Ngày 26. 11. 2013

Xem ảnh xin BẤM VÀO ĐÂY

  1. Buổi sáng
  2. Buổi chiều

Sáng ngày 26. 11. 2013, Cha Giám Quản cùng quý cha trong Giáo phận Vĩnh Long đã dâng thánh lễ cầu nguyện cho các Giám mục, linh mục, quý ân nhân của Giáo phận đã qua đời. Đặc biệt hôm nay Giáo phận cầu nguyện cho Đức cha Tôma kỷ niệm 100 ngày ngày mất của ngài.

Giảng trong Thánh lễ Cha Phêrô đã dựa theo Thông Điệp “Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót” (Dives in Misericordia) để chia sẻ với anh em linh mục.

CHÚA GIÊSU MẠC KHẢI  THIÊN CHÚA CHA GIÀU TÌNH THƯƠNG

–  Hãy nhìn nhận dấu lạ Chúa thực hiện

– và tấm lòng yêu thương của Ngài.

–  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng có quyền tha tội

–  và Ngài luôn tha thứ và kêu gọi người tội lỗi ăn năn.

Chúng ta bắt đầu với đoạn Phúc âm theo thánh Marcô từ câu 14-20, chương 1; đoạn nầy gồm có hai phần chính: trước hết tác giả tóm lược giai đoạn khởi đầu rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu, “liền sau khi Gioan bị nộp”, và sau đó là tường thuật về việc Chúa gọi bốn môn đệ Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Chúng ta hãy đọc lại đoạn phúc âm như sau:  Sau khi Ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đến miền Galilêa rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: Thời cứu rỗi đã đến lúc được nên trọn, và Nước Thiên Chúa đã đến gần bên. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. Chúa đang đi dọc theo biển hồ Galilêa thì thấy Ông Simon với người anh là Anrê đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. Người bảo họ: Các anh hãy theo tôi, tôi sẽlàm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người.

Ði xa hơn một chút, Người thấy ông Giacôbê, con Ông Dêbêđê, và người em là ông Gioan. Hai ông nầy đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Chúa (Mc 1,14-20).

Tuy đoạn Phúc âm có hai phần khác nhau rất dễ nhận ra khi ta đọc qua lần đầu tiên, nhưng suy niệm thêm, ta sẽ thấy có một yếu tố căn bản duy nhất liên kết hai phần khác nhau của đoạn phúc âm trên. Yếu tố căn bản đó là “Tin Mừng Nước Thiên Chúa” mà Chúa Giêsu đến rao giảng cho con người; Tin Mừng Nước Thiên Chúa đã đến, và thời cứu rỗi đã đến lúc được nên trọn. Ước mong đợi chờ của Dân Chúa thời Cựu Ước nay được thành sự thật nơi Chúa Giêsu Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa Cha. Ước mong của con người khao khát ơn cứu rỗi trong mọi thời đại sẽ được thoã mãn, nếu con người thực hiện điều Con Thiên Chúa nhập thể muốn con người thực hiện; đó là: sám hối, trở về lại với Thiên Chúa mà mình đã lìa xa vì những tội lỗi đã phạm; và không phải chỉ dừng lại ở sám hối mà thôi, nhưng còn bước thêm một bước nữa là tin vào Tin Mừng, tin vào Chúa Giêsu Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa Cha. Nhưng không phải chỉ có Tin mà thôi. Ðức Tin sẽ không được trọn đủ, nếu không được thể hiện bằng một cuộc sống Theo Chúa, một cuộc sống dám liều bỏ mọi sự để theo Chúa, một cuộc sống hoàn toàn chỉ vì Chúa và như Chúa mà thôi. Như thế,sám hối, tin nhận và sống theo bên cạnh Chúa, như những đồ đệ được Chúa mời gọi: Phêrô, Anrê, Giacôbê, và Gioan, đó là thái độ căn bản của mọi người Kitô trong mọi thời đại.

Cách nói mà tác giả phúc âm Marcô dùng để tóm gọn lời Rao Giảng của Chúa Giêsu: Nước Thiên Chúa đã đến, được hiểu theo hai hướng: từ phía Thiên Chúa, chương trình cứu rỗi đã được thực hiện nơi Chúa Giêsu Kitô. Nước Thiên Chúa đã đến, đã được thực hiện; thời cứu rỗi đã đến lúc được nên trọn nơi Chúa Giêsu Kitô. Ðó là ý nghĩa thứ nhất.

Hướng thứ hai, từ phía con người, thì còn cần thái độ đáp lại của con người. Thiên Chúa không thể cứu rỗi ai, nếu người đó không muốn. Con người cần sám hối, tin nhận, và sống theo làm môn đệ Chúa. Nước Thiên Chúa đã đến, và hiện diện gần bên mỗi người, chờ đợi mỗi người đáp trả, mở rộng tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đến công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho chúng ta. Chúng ta cần đón nhận Tin Mừng đó, trước hết bằng việc sám hối, rồi mới có thể Tin nhận, và sống theo Chúa trọn vẹn.

Hãy nhìn nhận dấu lạ Chúa thực hiện

Sau khi đã nhắc lại lời kêu gọi của Chúa Giêsu, tác giả Phúc Âm theo thánh Mc 1, 21-28, kể lại cho chúng ta một biến cố xảy ra trong Hội Ðường Do Thái tại thành Capharnaum vào ngày Sabát. Những người trong Hội Ðường lúc đó cảm nghiệm được quyền năng của Chúa Giêsu Kitô, Ðấng giảng dạy với một uy quyền đặc biệt; và qua phép lạ chửa người bị quỷ ám, Chúa đã chứng tỏ quyền năng thần thiêng của Ngài. Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitôđược từ từ mạc khải cho con người, bằng Lời Chúa giảng dạy và bằng những việc lạ Chúa thực hiện. Dân chúng cảm nghiệm được sự mới mẻ và kinh ngạc trước dấu lạ. Ðây mới là khởi đầu. Tác giả phúc âm Marcô sẽ còn ghi lại những Lời giảng dạy và những dấu lạkhác nữa của Chúa Giêsu, và chuẩn bị từ từ cho lời tuyên xưng Ðức Tin vào Chúa Giêsu Ðấng Thiên Sai, nơi chương 8, câu 29: “Thầy là Ðức Kitô”. Con đường Ðức Tin đi qua nhiều giai đoạn. Chúng ta đã lưu ý đến giai đoạn căn bản đầu tiên là: sám hối, trở về với Thiên Chúa. Hôm nay, chúng ta được mời gọi lưu ý đến một bước khác nữa là: biết kinh ngạc lắng nghe Lời Chúa và ghi nhận dấu lạ Chúa thực hiện,để mạc khải về Thực Thể Mầu Nhiệm của Ngài. Chúng ta hãy đọc lại đoạn phúc âm như sau:

Chúa Giêsu và các môn đệ đi vào thành Capharnaum. Ngay ngày Sabát, Chúa vào Hội Ðường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Ðấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư.

Lập tức trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập la lên rằng: Ông Giêsu Nazareth, chuyện chúng tôi can gì đến Ông mà Ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết Ông là ai rồi: Ông là Ðấng Thánh của Thiên Chúa!” Nhưng Chúa Giêsu quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất khỏi người nầy!” Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta. Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thấn ô uếvà chúng phải tuân lệnh!” Lập tức danh tiếng Người đồn ra mọi nơi, khắp cả vùng lân cận miền Galilê (Mc 1,21-28).

Biến cố Chúa Giêsu làm phép lạ chữa lành người bị thần ô uế ám, là dấu chỉ củng cố thêm uy quyền thần linh của Chúa Giêsu. Những vị Thượng Tế dân Do Thái thời Chúa Giêsu cũng sử dụng nghi thức trừ quỷ. Họ không ra lệnh trực tiếp cho thần dữ xuất ra khỏi người bỉ ám, nhưng nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa. Ðối với Chúa Giêsu thì khác, Ngài trực tiếp ra lệnh: Hãy im đi và ra khỏi người nầy. Và thần dữ vâng phục.

Thần Ô uế không nhằm nói đến sự ô uế thể lý, hay sự thiếu vệ sinh.  Đây là chính sự ô uế nội tâm, làm hư hại con người; đó là sự xấu, sự tội. Thần Ô Uế đây chính là Satan, kiềm hãm con người trong vòng nô lệ cho tội lỗi. Nó chiếm đoạt con người, bắt con người vâng theo mệnh lệnh của nó. Chúa Giêsu đến với quyền năng thần linh, rao giảng đạo lý của Thiên Chúa, rao giảng Nước Trời, giải thoát con người khỏi vòng nô lệ cho tội lỗi. Trước khi ra khỏi con người, thần ô uế “dằn dật” con người; nó trả thù, hành hạ con người. Giữa Chúa Giêsu và Thần Dữ Satan, không thể nào có sự “hợp tác” chung với nhau được. Con người bị thần dữ chiếm đoạt là con người đáng thương. Con người được Chúa Giêsu giải thoát, hay nói cách khác, người nào sẵn sàng cộng tác với ơn Chúa, thì đó là con người có phúc.

Ngay từ lúc khởi đầu sứ mạng cứu rỗi, Chúa Giêsu cho thấy có sự căng thẳng, chiến đấu, giữa Chúa và Thần Dữ. Và chiến thắng cuối cùng thuộc về Chúa. Chúng ta đừng sợ. Hãy mạnh mẽ đứng về phe của Chúa…. cho đến cùng.

Tiếp theo, từ câu 29 đến 39 chương 1, những việc làm của Chúa trong ngày được mô tả như sau:

Vừa ra khỏi Hội Ðường Capharnaum, Chúa Giêsu đi đến nhà hai ông Simon và Anrê. Có ông Giacôbê và ông Gioan cùng đi theo. Lúc đó bà mẹ vợ ông Simon đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà. Người lại gần, cầm lấy tay Bà và đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.

Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, tức khi không còn bị buộc phải giữ luật nghỉ ngày Sabbát nữa, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người. Cả thành xúm lại trước cửa. Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ,nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.

Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Chúa Giêsu đã dậy, đi ra một nơi thanh vắng và cầu nguyện ở đó. Ông Simon và các bạn kéo nhau đi tìm. Khi gặp Người, các ông thưa: Mọi người đang đi tìm thầy đấy. Chúa bảo các ông: Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì thầy ra đi là cốt để làm việc đó. Rồi Chúa Giêsu đi khắp miền Galilê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.

Chúa chữa lành bệnh tật và khử trừ ma quỷ, và tiếp tục sứ mạng rao giảng khắp nơi, không để cho sự nồng nhiệt của dân chúng ảnh hưởng. Và giữa những hoạt động như vậy, Chúa Giêsu còn có dành thời giờ riêng biệt để cầu nguyện, tiếp xúc với Cha, Ðấng đã sai ngài xuống trần gian. Ðể trung thành với sự dấn thân ban đầu, rao giảng Tin Mừng khắp nơi cho mọi người, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, và chỉ cho chúng ta một bí quyết: đó là giữ liên lạc với Cha, Ðấng đã sai ngài, qua việc cầu nguyện. Người đồ đệ của Chúa Giêsu không không thể nào sống cách khác, không thể nào bỏ qua những giây phút dành riêng cho việc cầu nguyện, cho việc tiếp xúc với Thiên Chúa, để lắng nghe Lời Chúa dạy, và sống thực hành trọn vẹn Lời dạy đó. Không có những giây phút cầu nguyện như Chúa nêu gương, người đồ đệ khó mà trung thành cho đến cùng trong sự dấn thân của mình.

Hãy nhìn  Tấm Lòng yêu thương của Chúa Giêsu

Ðọc tiếp phúc âm theo thánh Marcô, chương 1 câu 40-45:

Có người bị phong hủi đến gặp Chúa Giêsu; anh ta quỳ xuống van xin rằng: “Nếu ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Chúa Giêsu động lòng thương (phẫn nộ), giơ tay chạm vào anh và bảo: Tôi muốn, anh sạch đi! Lập tức chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch. Nhưng Chúa nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, và bảo anh: Coi chừng, đừng nói gì với ai cả. Nhưng hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đãđược lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Môisen truyền,để làm chứng cho người ta biết”. Nhưng vừa ra khỏi đó, anh đã bắt đầu rao truyền và tung tin ấy khắp nơi, đến nỗi Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.

Chúng ta có thể lưu ý thêm chi tiết nầy là phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho người bị phong hủi đến xin Chúa giúp,được kể lại trong hai phúc âm nhất lãm, Mt 8,2-4 và Luca 5,12-16. Nhưng có một khác biệt nầy, là tường thuật của Mc mà chúng ta suy niệm hôm nay có một chi tiết khác không có trong hai bài tường thuật Mt và Luca. Ðó là tác giả bài tường thuật Mc có ghi thêm về thái độ của Chúa Giêsu, trước khi chữa lành người bị phong hủi. Ðó là: Chúa Giêsu động lòng thương. Nhưng cũng có bản cổ ghi là Chúa Giêsu phẫn nộ. Các nhà chú giải của bản Kinh Thánh Giêrusalem, ấn bản mới nhất năm 1998 vừa qua, đã chọn chi tiết: Chúa Giêsu phẫn nộ. Chi tiết khó hiểu nầy xem ra gần với chủ ý của tác giả Phúc Âm Marcô, hơn là chi tiết nói rằng Chúa động lòng thương. Thật vậy, việc Chúa để cho người phong hủi đến với Chúa, và việc Chúa nghe lời anh xin mà chữa lành anh, là những chi tiết nói lên tình thương của Chúa Giêsu rồi, nên xem ra không cần phải nói nữa. Tác giả phúc âm Marcô hẳn có một chủ ý đặc biệt hơn, khi ghi lại chi tiết nói rằng Chúa Giêsu phẫn nộ. Tại sao phẫn nộ? Chắc chắn rằng Chúa không phẫn nộ với người bị phung hủi đến xin Chúa giúp. Nhưng phẫn nộ, vì thái độ của những người Do Thái thời Chúa sống theo luật cựu ước kỳ thị loại trừ những người bất hạnh bị bệnh phung hủi nầy. Thật vậy, Sách Lêvi, chương 13, câu 45tt, của Cựu Ước, lên án những người bị bệnh phung hủi, như là kẻ bị Chúa phạt và như thế họ bị loại ra khỏi cộng đoàn. Họ phải sống nơi riêng, cô lập. Không ai được chạm đến họ, và họ cũng không được gần gũi ai, để khỏi bị nhơ bẩn không những trên bình diện thể xác, mà còn trên bình diện tinh thần nữa. Chúa Giêsu phẫn nộ, vì con người sống theo lý luận tự nhiên của mình mà loại trừ xua đuổi những con người bất hạnh nầy. Và Chúa đã hành động vì yêu thương, để đưa con người phung hủi trở về lại với cộng đoàn, có lại phẩm giá đáng được tôn trọng như bao anh chị em khác. Chúa Giêsu làm phép lạ, chữa lành anh phung hủi và lập tức sai anh đi thực hiện điều theo luật định để được xác nhận trở về lại với cộng đoàn, và nhất là để trở nên dấu chỉ, làm chứng cho các tư tế biết: Nước Thiên Chúa đã đến nơi Chúa Giêsu Kitô, Ðấng đã chữa lành người phung hủi, như đã được loan báo trước trong KinhThánh mà họ biết rõ. Chúng ta hãy chiêm ngắm thái độ tràn đầy yêu thương của Chúa Giêsu và đừng làm cho Chúa phẩm nộ với chúng ta vì những lối hành xử kỷ thị loại trừ anh chị em, nhất là những kẻ bất hạnh, như trường hợp của anh bị bệnh phung hủi trong phúc âm được nhắc trên. Tình thương của người Kitô phải là tình thương của Chúa, để chữa lành những căn bệnh kỳ thị khinh dể phẩm giá của anh chị em trong xã hội chúng ta đang sống. Tình thương chân thật có sức chữa lành, quy tụ, phục hồi và nâng cao phẩm giá làm người.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa là Ðấng có quyền tha tội

Chúng ta đã quan sát thấy Chúa Giêsu mạc khải chính mình cho dân chúng, như là Ðấng vừa giảng dạy có uy quyền, vừa thực hiện những dấu lạ khử trừ ma quỷ, chữa lành bệnh tật, cho người bị phung hủi được lành sạch. Và dân chúng thì có thái độ vừa kinh ngạc vừa tôn vinh Thiên Chúa. Họ từ khắp nơi đến với Chúa Giêsu. Tác giả Phúc âm theo thánh Marcô đã kết thúc chương I với nhận định như vậy.

Chúng ta đọc tiếp chương 2, câu 1-12, kể lại biến cố Giêsu làm phép lạ cho người bất toại được đi đứng khoẻ mạnh, để chứng tỏ một điều hết sức quan trọng, là chính Ngài là Ðấng có quyền tha tội.

Như thế mạc khải về Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô được tiến thêm một bước quan trọng: Chúa Giêsu không phải chỉ là Ðấng đầy quyền năng trong lời nói và trong việc làm xua đuổi ma quỷ và chữa lành bệnh tật, nhưng Ngài còn là Ðấng có quyền tha tội như Thiên Chúa. Từ phía những kẻ đón nhận mạc khải của Chúa Giêsu, tác giả Phúc âm Marcô cũng bắt đầu lưu ý thêm chi tiết quan trọng sau đây: có những người có lòng tin vào Chúa và cũng có những người bắt đầu chống đối ngài. Cao điểm của sự chống đối nầy là âm mưu giết Chúa.

Nơi đoạn trích từ câu 1-12 chương 2, Phúc Âm Marcô, chúng ta ghi nhận được những chi tiết vừa nói trên. Lần đầu tiên, tác giả nhắc đến Ðức Tin của những người đến với Chúa, và cũng là lần đầu tiên tác giả nhắc đến thái độ bắt đầu chống đối Chúa Giêsu nơi những vị kinh sư, những luật sĩ. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại đoạn tin mừng như sau:

Vài ngày sau, Chúa Giêsu trở lại thành Capharnaum. Hay tin Người ở nhà; người ta tụ tập lại, đông đến nỗi không còn chỗ nữa, cả ngoài cửa cũng không còn. Người giảng Lời cho họ. Bấy giờ người ta đem đến cho Chúa Giêsu một kẻ bại liệt, có bốn người khiêng. Nhưng vì dân chúng quá đông, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi, làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống. Thấy họ có lòng tin như vậy, Chúa Giêsu bảo người bại liệt: Nầy con, con đãđược tha tội lỗi rồi. Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: “Sao Ông nầy lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ngoài một mình Thiên Chúa ra, ai có quyền tha tội?” Tâm trí Chúa Giêsu thấu biết ngay họ đang thầm nghĩ như thế. Người mới bảo họ: Sao trong bụng các ông lại nghĩ đến những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: “Con đã được tha tội rồi”, hai là bảo: Ðứng vậy vác chõng của con mà đi, điều nào dễ hơn? Vậy để các ông biết: ở dưới đất nầy, Con Người có quyền tha tội–, như Chúa Giêsu bảo người bại liệt: — Ta truyền cho con: hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà. Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng mà đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: “Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ.” (Mc 2, 1-12).

“Vậy để các ông biết, ở dưới đất nầy, Con Người có quyền tha tội, Chúa Giêsu bảo người bị bại liệt: Ta truyền cho con, hãy đứng dậy vác chỏng của con mà đi về nhà. Người bại liệt đứng dậy và lập tức vác chỏng đi ra trước mặt mọi người, khiến ai nầy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa.”

Như đã nói trên, mạc khải về Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô, bắt đầu mở ra cho chúng ta nhìn thấy một yếu tố mới: Chúa Giêsu Kitô là Ðấng có quyền tha tội, như một vì Thiên Chúa. Phép lạ cho người bị bại liệt được đi đứng khoẻ mạnh là một bằng chứng rõ ràng và mạnh mẽ. Sau nầy, sau khi đã hoàn tất công việc cứu chuộc qua cái chết và sống lại của Ngài, Chúa Giêsu trao ban quyền ấy cho các tông đồ: Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Chúng con tha tội ai thì người đó được tha, chúng con cầm tội ai thì tội người đó bị cầm buộc (Gioan 20,22-23). Các tông đồ không bỡ ngỡ khi nghe lại những lời trên của Chúa Phục Sinh, vì các ngài đã nghe những lời đó trước rồi, chẳng hạn như trong biến cố phép lạ chữa lành người bị bại liệt mà chúng ta suy niệm hôm nay: Nầy con, con đã được tha tội rồi. Những kẻ chống đối Chúa thì cho đấy là một sự phạm thượng, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới là Ðấng có quyền tha tội mà thôi. Và hẳn thật như vậy. Chúa Giêsu muốn vén mở cho con người biết Ngài là Thiên Chúa, là Ðấng có quyền tha tội. Nên ngài mới nói với người bị bại liệt: Hãy đứng dậy, và vác chỏng về nhà đi. Chúng ta có thái độ như thế nào trước mạc khải quan trọng nầy của Chúa Giêsu? Quyền tha tội đã được Chúa Giêsu Kitô ban cho các tông đồ và những ai được tham dự vào tác vụ tông đồ của các ngài trong dòng thời gian, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Quyền tha tội luôn luôn tác động trong Giáo Hội Chúa. Chúng ta có xác tín như vậy hay không?

Chúa luôn tha thứ và kêu gọi kẻ tội lỗi

Trong kinh tin kính được dùng trong thánh lễ, chúng ta tuyên xưng: Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế. Mục đích của mầu nhiệm nhập thể là để cứu rỗi chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi nô lệ cho tội lỗi, và giao hoà chúng ta lại với Thiên Chúa và anh chị em. Vì thế thật là an ủi cho chúng ta biết là chừng nào, khi được đọc thấy nơi đầu chương thứ hai của Phúc Âm theo thánh Marcô rằng Chúa Giêsu Kitô là Ðấng có quyền tha tội. Nhưng không phải chỉ có thế mà thôi. Tiếp tục bài phúc âm trên, đoạn phúc âm từ câu 13 đến 17 của chương 2, mạc khải thêm cho chúng ta biết về Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Không những Chúa Giêsu là Ðấng có quyền tha thứ tội lỗi, mà còn luôn luôn sẵn sàng sử dụng quyền đó với tình thương. Chúng ta có thể nhìn thấy điều nầy qua việc Chúa Giêsu kêu gọi người thu thuế, tức kẻ tội lỗi, là ông Lêvi, theo làm môn đệ Chúa, và chấp nhận đến dùng bửa với những kẻ tội lỗi. Chúng ta hãy đọc lại đoạn phúc âm nầy như sau:

Chúa Giêsu lại đi ra bờ biển hồ. Toàn thể dân chúng đến với Người, và Người dạy dỗ họ. Ði ngang qua trạm thu thuế, Chúa thấy ông Lêvi là con ông An-phê, đang ngồiỏ đó. Người bảo ông: Anh hãy theo tôi. Ông Lêvi đứng dậy đi theo Người. Người đến dùng bửa tại nhà ông. Nhiều người thu thuế và người tội lỗi cùng ăn với Chúa Giêsu và các môn đệ, vì họ đông đảo và đã đi theo Người. Những kinh sư thuộc nhóm Pharisêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người như sau: Sao, ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi. Nghe thấy thế, Chúa Giêsu nói với họ: Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.

“Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”.

Ðây là công bố tóm gọn mục tiêu chính yếu của cuộc đời nhập thể của Chúa Giêsu trên trần gian nầy. Càng đọc thêm sâu vào Phúc Âm theo thánh Marcô, chúng ta được hướng dẫn khám phá những đường nét nổi bật của mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Từ đầu chương 1 đến đây, chúng ta được chỉ cho biết dung mạo sau đây của Chúa Giêsu: Chúa rao giảng Lời cứu rỗi với uy tín và có đầy quyền năng của một vì Thiên Chúa để xua trừ ma quỷ và chữa lành các bệnh tật. Chưa hết. Chúa Giêsu còn chứng tỏ ngài có quyền tha tội. Rồi Ngài kêu gọi Ông Lêvi người thu thuế, tức kẻ tội lỗi công khai bị loại trừ khỏi cộng đoàn dân Chúa, hãy theo Ngài, và chấp nhận dùng bửa với những người tội lỗi và những kẻ thu thuế. Chúa hành động hoàn toàn khác lạ với những vị lãnh đạo tôn giáo của dân Israel thời đó, Chúa không loại bỏ ai ra khỏi tình thương cứu rỗi của Chúa. Ngược lại, Chúa đến với họ, kêu gọi họ theo làm đồ đệ của Ngài. Làm như vậy, không có nghĩa là Chúa Giêsu đồng ý nuông chiều theo những tội lội của con người. Không, Chúa Giêsu đến với kẻ tội lội và kêu gọi họ hãy ăn năn quay trở về với Thiên Chúa. “Thời giờ đã nên trọn. Hãy ăn năn hối cải và tin vào Tin Mừng”. Chúa đã công bố như vậy ngay từ khởi đầu tác vụ rao giảng của ngài tại miền bắc Galilêa. Chúa không loại trừ hay cô lập người tội lỗi, nhưng đến với họ, để họ cảm nghiệm được tình thương của Chúa và quay trở về. Có cảm nghiệm được tình thương nhân từ và hay tha thứ của Thiên Chúa đối với mình, ta mới có thể hiểu rõ hơn đoạn phúc âm hôm nay, và quý trọng điều Chúa thực hiện cho con người chúng ta, khi Chúa chấp nhận bước vào trần gian, và luôn sẵn sàng tha thứ tội lỗi cho chúng ta.. Thiên Chúa chấp nhận sự mỏng dòn yếu đuối của con người, và luôn sẵn sàng tha thứ. Chúng ta hãy noi gương sống của Chúa,để đừng bao giờ phán đoán và loại trừ anh chị em vì những tật xấu và những tội lỗi của họ. Là những con người mang lấy thân phận tội lỗi như nhau, chúng ta đừng công kích nhau, nhưng hãy giúp nhau khám phá ra tình thương của Thiên Chúa và khiêm tốn sám hối để lãnh nhận ơn cứu rỗi.

Lạy Chúa Giêsu, là người bạn của những kẻ tội lỗi, chúng con cảm tạ Chúa vì đã luôn luôn tha thứ và mời gọi chúng con trở về. Xin cho chúng con đừng bao giờ có thái độ khinh dể, loại trừ anh chị em, như những luật sĩ thuộc nhóm Pharisêu trong Phúc Âm, nhưng biết giúp nhau trở về với tình thương của Chúa. Xin đừng để cho chúng con sống trong tuyệt vọng vì những lầm lỗi, nhưng luôn luôn hy vọng vươn lên và biết cộng tác với ơn Chúa mà canh tân đời sống mình. Amen.

Theo lịch sinh hoạt trong những ngày tĩnh tâm, lúc 9 giờ 30 sáng nay, trong giờ học hỏi và cầu nguyện Cha Phaolô Lưu Văn Kiệu đã cùng với các linh mục giáo phận đọc Chương 4 quyển sách “Linh Mục Cho Ngàn Năm Thứ 3” của Đức Hồng Y Timothy M. Dolan với tựa đề: Đức Khiêm Nhường nội dung như sau

Chương 4: KHIÊM NHƯỜNG
(Đoạn trích Kinh Thánh – Philip 2:5-11)

Một trong những nghị hội về tĩnh tâm mà tôi có thể nhớ được là do học giả Kinh Thánh dòng Passionist nay đã qua đời là Cha Barnabas Ahern diễn giảng. Ngài mở đầu bằng cách nêu ra những câu hỏi, “Đức tính nào mà Chúa ưa thích nhất?”

Đức tin? — chắc chắn là quá cao vời–
Đức cậy? — cũng gần ở trên đỉnh–
Đức ái? — đã bao lần Thầy chúng ta đã nói về tình yêu–
Đức công bình? — trường hợp có thể xảy ra–

Nhưng tất cả những đức tính này đều mờ nhạt, được coi là thứ yếu so với đức tính mà Cha Ahern cho rằng được Chúa ưa thích nhất–đức khiêm tốn.

Khiêm tốn là nhân đức cột trụ của đời sống nội tâm, được Chúa Giêsu ưa thích, được các thánh và các vị thần học khổ hạnh cho rằng sine qua non (không thể thiếu) trong mọi tiến trình trên đường trọn lành. Trong câu nói đơn sơ của Bông Hoa Nhỏ, “Bước đầu của mọi sự thánh thiện là khiêm tốn thú nhận rằng không có Chúa chúng ta không thể làm được gì, nhưng với Người, trong Người, và nhờ Người, mọi sự đều có thể!”

Dĩ nhiên, Phúc Âm ca ngợi sự khiêm tốn như chúng ta thấy trong biết bao trang khi Chúa ưu đãi người hèn mọn:

  • người đau yếu hơn người mạnh khoẻ
  • người thiếu thốn hơn người có nhiều
  • người trinh khiết thấp kém hơn người có địa vị trong xã hội
  • người đánh cá ít học hơn là các luật sĩ sành điệu
  • người nghèo hơn người giầu
  • người cù lần hơn “dân chơi”
  • trẻ em hơn người lớn–

“Lạy Ngài, xin cho tôi được thấy!” người ăn xin mù lòa kêu van–
“Ước chi tôi được chạm đến vạt áo của Ngài!” người phụ nữ bệnh hoạn thì thầm–
“Thưa Ngài, tôi không xứng đáng, ” viên sĩ quan thú nhận–
“Chỉ cần các mẩu vụn trên bàn ăn, ” người phụ nữ Canaan nài xin–
“Lạy Ngài, xin nhớ đến tôi khi ngài vào nước trời, ” người trộm lành bày tỏ–

Tất cả những lời van xin khiêm tốn này đã làm mủi lòng Thánh Tâm, là trái tim mà chính Người đã diễn tả là dịu dàng và khiêm tốn.

Tại sao sự khiêm tốn lại có giá trị đối với Chúa Giêsu?

Có lẽ vì sứ mệnh của Người khi cứu chuộc chúng ta chính là để cứu chúng ta khỏi thái độ ngược với sự khiêm tốn–là sự kiêu ngạo–là tội lỗi đầu tiên mà nguyên tổ đã nghĩ rằng họ có thể sống không cần Chúa. Như Thánh Augustine nhận xét, “Chính vì sự kiêu ngạo đã đưa đến sự Sa Ngã–Nếu bạn hỏi tôi đường nào đến với Thiên Chúa, tôi sẽ bảo bạn đường thứ nhất là khiêm tốn, đường thứ hai là khiêm tốn, đường thứ ba là khiêm tốn–“

Có lẽ vì sự Nhập Thể của Người là hành động khiêm tốn tuyệt vời chưa từng có, khi Con Thiên Chúa, Ngôi Lời Vĩnh Cửu, Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đã mặc lấy xác phàm và trở thành một con người. Thánh Bernard viết, “Khiêm tốn là mẹ của sự cứu độ. “

Có lẽ đức khiêm tốn được Chúa Kitô ưa chuộng chính vì định nghĩa của nó. Thánh Tôma Aquina trong Tổng Luận Thần Học nói rằng, khiêm tốn có nghĩa hãy nhìn chúng ta như Thiên Chúa thấy chúng ta: hãy biết rằng mọi sự tốt lành chúng ta có là do Người ban cho như các món quà thuần tuý, và chúng ta tùy thuộc nơi Người mọi sự. Không phải là “tinh thần nghèo khó” được đứng đầu trong tám mối phúc hay sao? Và, vì Chúa Giêsu thực sự nhìn với con mắt của Thiên Chúa, nên Người đặc biệt yêu quý những ai hành động giống như vậy. Thánh Vinhsơn Phaolô đã diễn tả điều này thật tuyệt: “Lý do tại sao Thiên Chúa quá yêu chuộng sự khiêm tốn là vì Người yêu chuộng sự thật. Khiêm tốn thì không gì khác hơn là sự thật, trong khi kiêu ngạo không gì khác hơn là dối trá–Ngay khi Thiên Chúa nhìn thấy chúng ta thực sự chẳng có gì cả, Người đưa tay giúp đỡ chúng ta.”

Một trong những phát triển tinh thần ngày nay được mọi người đón nhận là chương trình mười hai bước của tổ chức Alcoholics Anonymous. Không ai có thể chừa được bệnh nghiện rượu cho đến khi họ thú nhận với sự thành thật và khiêm tốn là họ tuyệt đối cần đến sự giúp đỡ của Ơn Trên. Áp dụng điều này vào tất cả những tội lỗi, tăm tối, nghiện ngập, chiến đấu, đồi bại, xấu xa, và những yếu đuối, những khởi đầu để sống, để thăng tiến– nhưng để thi hành điều đó cần có sự khiêm tốn.

Trong sự hiểu biết của Kitô Giáo, phải có sự khiêm tốn trước Thiên Chúa và sau đó là khiêm tốn trước người khác–nghĩ đến tha nhân trước, để chiến đấu với tính ích kỷ, để tránh được vinh danh, được hoan hô, được chú ý, để vui mừng khi thấy người khác được hơn mình. Sự khiêm tốn trước Thiên Chúa và tha nhân là một trong những đức tính khó khăn nhất để trau dồi nhưng tối cần thiết cho các linh mục.

Xin phép để tôi kể ra những gì tôi cảm thấy đặc biệt nguy hiểm, và sau đó là những trợ giúp thực tiễn, để trau dồi đức khiêm tốn.

Trước hết, một vài cạm bẫy trên con đường khiêm tốn.

Thuyết Pelagius lan tràn trong đạo Công Giáo–đó là, nghĩ rằng chúng ta có thể thành đạt, hay xứng đáng để được cứu độ, nghĩ rằng sự cứu độ là tùy thuộc chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng sự thánh thiện, thiên đàng, không thể giành được nhưng chỉ được ban cho những ai khiêm tốn thú nhận rằng họ tuyệt đối cần đến Chúa và không thể nào chiếm được sự yêu quý của Chúa bằng chính công trạng của mình.

Dĩ nhiên thuyết Pelagius phát xuất từ sự kiêu ngạo, trái với sự khiêm tốn, đề cao khả năng con người. Đó là sự nguy hiểm trong đời sống chủng sinh và linh mục vì chúng ta được kêu gọi để thi hành nhiều thứ–Thánh Lễ hàng ngày, đọc kinh hàng ngày, chiêm niệm, xưng tội, đọc sách thiêng liêng, sám hối, luyện tập nhân đức, thi hành việc đạo đức–và đúng là các bổn phận này cần thiết cho lương thực tâm linh của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thi hành các điều ấy không để giành được hay đem lại sự thánh thiện–đó là thuyết Pelagius–nhưng để phơi bầy con người chúng ta một cách khiêm tốn cho sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Một hình thức tinh vi của thuyết Pelagius ngày nay được thấy trong Giáo Hội: tin tưởng rằng sự hăng hái, sự chính thống, sự cứu độ của Giáo Hội tùy thuộc nơi tôi. Trong một cuộc họp của các cha sở mà tôi tham dự ở Anh hồi 1995, rất nhiều linh mục bạn của tôi đều nhớ lại cuộc gặp gỡ hữu ích hàng năm với vị trưởng Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Đức Hồng Y Pio Laghi. Một trong các cha nhận xét rằng ngài lo ngại khi thấy một số chủng sinh và các linh mục trẻ cảm thấy rằng chính họ được Chúa ủy thác việc gìn giữ Giáo Hội khỏi tà thuyết đang lan tràn và duy tân thuyết (modernism).

Đức Hồng Y Laghi trả lời, “Đúng vậy, tôi luôn luôn lo sợ rằng các người trẻ cảm thấy họ là người cứu vớt Giáo Hội. Nhưng thực ra trong Giáo Hội cũng đã có những người như vậy!”

Điều đó không chỉ giới hạn nơi linh mục trẻ. Tôi có một cha sở già ở St. Louis là người thực sự tin rằng giáo xứ, giáo phận, nếu không muốn nói là toàn thể Giáo Hội, sẽ đổ nát nếu ngài không tiếp tục công việc như bây giờ. Vì lý do đó, ngài không bao giờ đi nghỉ hè, và nếu có, ngài trở về rất sớm, rồi điên cuồng hỏi cha phó, “Mọi sự êm đẹp chứ? Có gì xảy ra không?”–và ngài cảm thấy khó chịu khi giáo xứ, giáo phận, và Giáo Hội hoàn vũ vẫn tiếp tục tồn tại trong thời gian ngài đi vắng. Một năm kia, khi cha sở đi vắng, cha phó để bảng bán nhà ngay đằng trước nhà thờ, nhà xứ, và trường học, và khi trở về, cha sở như muốn điên!

Hãy nhớ điều này khi bạn đến một giáo xứ. Có những điều làm bạn không vui, những kiểu cách hay phương cách thi hành mà có lẽ không giống như bạn muốn–hãy khiêm tốn chấp nhận. Tôi không nói về các vấn đề đức tin hay luân lý, nhưng kiểu cách, thói quen, thủ tục. Hãy khiêm tốn, từ từ, kiên nhẫn, nhẹ nhàng đưa bạn vào đời sống giáo xứ. Hãy thú nhận là bạn có thể học hỏi thêm. Hãy tự nhắc nhở mình rằng giáo xứ này đã có từ lâu trước khi bạn đến, và nó vẫn tiếp tục sau khi bạn đi, và như thế, dù Đấng Cứu Thế sẽ làm việc một cách độc đáo qua bạn là một linh mục, bạn không phải là Đấng Cứu Thế.

Một linh mục mà tôi rất tôn trọng cho biết một trong những vấn đề có liên can đến các linh mục trẻ của giáo phận ngài là điều mà ngài gọi là “kiểu cách giữ đồ thờ” của họ. Ngài nói một số linh mục này đến giáo xứ và chỉ trong một vài Chúa Nhật họ đã làm cho các thừa tác viên, ca trưởng, ban phụng vụ, và giáo lý viên phải khóc vì họ tuyên bố một cách trắng trợn rằng tất cả mọi thứ trong giáo xứ đều sai lầm, và họ phải dạy bảo mọi người làm thế nào cho đúng. Thật là não trạng Pelagius, ngạo mạn! Một giám mục cho tôi biết về một linh mục cựu chủng sinh của trường này, “Anh ta rất chịu khó học, bản thân thánh thiện, hăng say, giảng giỏi. Tôi thán phục sự trung thành của anh ta đối với huấn quyền và Đức Thánh Cha. Tôi cần anh và tài năng của anh để giúp tôi trông coi giáo phận này theo đường hướng mà tôi thấy cần phải theo. Nhưng hãy nhìn kiểu cách của anh! Và đây là lần thứ ba anh được bài sai chứ đâu phải lần đầu! Anh xa cách với mọi người! Anh đến và làm mọi người chán ngán vì kiểu cách kiêu căng, ưa phán đoán, như cứu chúa! Anh đã gây thiệt hại cho sự trung thực và chính thống hơn là làm lợi!”

Phải khiêm tốn! Giáo Hội đã có một Chúa Cứu Thế và tôi không phải là Người!

Một cạm bẫy thứ hai trên con đường khiêm tốn là chủ nghĩa thực dụng. Đặc biệt là đối với người Hoa Kỳ chúng ta về vấn đề thực tiễn, muốn hoàn tất công việc; chúng ta là những người thiên về nhiệm vụ và nghĩ rằng mọi sự đều có thể hoàn tất qua hành động, nỗ lực và mồ hôi. Chiều hướng thực dụng quá đáng có thể làm chết nghẹt đức khiêm tốn. Phải, Thiên Chúa muốn chúng ta làm việc, nỗ lực, nhưng, “Nếu Chúa không dựng nên căn nhà, người thợ nề đâu có đổ mồ hôi. “

Chúng ta không được xác định bởi những gì chúng ta làm, số tiền chúng ta kiếm được hay làm ra được, hay những gì chúng ta thành đạt, nhưng bởi chính con người chúng ta, và chúng ta thường gần Chúa khi chúng ta yếu đuối, trống rỗng, và thấp kém nhất. Để thú nhận điều đó, cần có đức khiêm tốn–và có thể làm cho người thực dụng điên tiết.

Tôi yêu cầu các chủng sinh áp dụng điều đó vào ơn gọi của họ ngay bây giờ: bốn hay năm năm chờ đợi và chuẩn bị, bồn chồn, thiếu kiên nhẫn, hăng hái tiến bước, để sản xuất, để thành đạt. Chúa và Giáo Hội lại nói: Hãy từ từ! Hãy chuẩn bị! Hãy sẵn sàng! Những năm chuẩn bị là điều hiển nhiên nếu bạn muốn trở nên một tông đồ hữu hiệu. Phải, chúng ta thích máy “microwave”–cho thực phẩm vào, nhấn nút; chỉ vài phút là có ăn. Chúa, Giáo Hội lại thích cái nồi đất; nấu từ từ, thêm mắm muối, thật chín, và sau đó mới lấy ra ăn. Và thực phẩm từ cái nồi đất luôn luôn ngon hơn thức ăn từ máy “microwave” (vi sóng).

Còn thí dụ nào tốt hơn là gương của chính Thầy chúng ta? Ba mươi năm âm thầm chuẩn bị cho ba năm hoạt động. Không người thực dụng nào lại hoạch định như thế cả! Tháng Hai là tháng dành riêng để kính nhớ “Cuộc Đời Ẩn Giấu của Chúa Giêsu”– ba mươi năm âm thầm, cầu nguyện, đón chờ, lắng nghe, phát triển, vâng phục Đức Mẹ và Thánh Giuse–thật khiêm tốn là dường nào! Với chủng sinh nào bị chán nản với đời sống chậm chạp của chủng viện tôi đề nghị chiêm niệm về “Cuộc Đời Ẩn Giấu của Chúa Giêsu”.

Sự khiêm tốn kiên nhẫn–trái với chủ thuyết thực dụng năng nổ–thì được thấy hiển nhiên trong cuộc đời của các linh mục vui vẻ và bình an bất cứ đâu ngài đến. Vì sự quyến dũ của chủ thuyết thực dụng có thể làm cho một người bồn chồn trong chủng viện thì cũng làm họ bất an trong đời sống linh mục. Do đó, nhiều linh mục sắp sẵn sự nghiệp của mình; chưa chấm dứt ở giáo xứ này đã muốn nhảy sang giáo xứ khác. Họ hoạch định và in sẵn lý lịch và rồi những bài sai ngớ ngẩn cản mũi kỳ đà. Phải như đức giám mục nghe lời tôi và đưa tôi đến–có thực tiễn không? Đúng! Có khiêm tốn không? Không!

Hãy nhớ đến đức tính khiêm tốn trong lời hứa vâng phục mà chúng ta long trọng tuyên bố trong lễ phong chức phó tế và linh mục. Quỳ gối–một vị thế của sự yếu đuối–với đôi tay bạn trong tay đức giám mục, hứa vâng lời trong suốt cuộc đời: tham vọng của bạn, chương trình của bạn, ưu tiên của bạn được coi là thứ yếu so với Giáo Hội.

Bạn sẽ nghe các linh mục khôn ngoan nói rằng: “Đừng bao giờ xin công việc gì, cũng đừng bao giờ xin ra khỏi công việc đó–” Lời khuyên không đến nỗi tệ– nhưng thật khó cho những ai không nắm vững sự khiêm tốn.

Cái bẫy thứ ba trên con đường khiêm tốn: áp lực bất thường trên các quyền lợi cá nhân. Người Hoa Kỳ chúng ta thật sung sướng khi là công dân của một quốc gia mà nó phát xuất từ sự chú trọng đến các quyền lợi của con người–và thật đúng như vậy: chúng ta thuộc về một Giáo Hội vô địch về nhân quyền, được chăn dắt bởi một chủ chăn nổi tiếng thế giới là người bảo vệ nhân quyền–tạ ơn Chúa! Tôi không muốn nói về điều này, nhưng về sự phức tạp đưa đẩy chúng ta đến sự tin tưởng rằng chúng ta phải có được những gì xảy đến với chúng ta, chúng ta đáng được hưởng những lối đối xử và ưu tiên đặc biệt. Do đó, chúng ta chán nản khi không được giao cho các công việc mà chúng ta nghĩ là đáng được, hay không được nhận biết mà chúng ta cảm thấy phải như thế. Đức giám mục không quý trọng tôi, cha xứ không nhận biết những công việc tôi đã làm, dân chúng không biết rằng họ thật may mắn khi có tôi!

Chúng tôi có một linh mục tốt lành ở St. Louis, ngài nổi tiếng hăng hái và khiêm tốn. Ngài làm cha xứ một họ đạo nghèo, chật vật. Có một chỗ béo bở trong giáo phận mở ra và hầu hết các linh mục đều chờ Đức Hồng Y Carberry gọi điện thoại để đưa họ về chỗ béo bở ấy.

Vị linh mục khiêm tốn này nhận được điện thoại. Đức hồng y nói: “Tôi muốn cha làm cha sở của giáo xứ Thánh Clement. “

“Cám ơn đức hồng y, nhưng con sung sướng khi ở được ở đây, và còn có nhiều người giỏi hơn con. “

“Nhưng tôi muốn cha, ” đức hồng y trả lời. “Trước mặt tôi là hai mươi ba lá thư từ những người muốn về đó; cha nghĩ là không xứng đáng–bây giờ cha là cha sở ở đó. “

Những linh mục buồn thảm là những người cảm thấy họ không được nhìn đến. Họ khao khát được thăng tiến trong Giáo Hội và những vinh dự của hàng giáo sĩ. “Cơn sốt đỏ” là tên thường được gọi, và đó là vi trùng nguy hiểm trong đời sống giáo sĩ.

Những chú trọng quá đáng đến “quyền lợi của tôi, đặc quyền của tôi” thường dẫn đến sự nguy hiểm tâm linh và bệnh hoạn về cảm xúc, đó là cảm thấy tội nghiệp cho chính mình. Tính vị kỷ gặm nhấm vết thương lòng, nhớ lại những lần mà chúng ta cho là bị coi thường, bị lợi dụng, không được biết ơn–hãy coi chừng! Đó là khi chúng ta sắp sửa gieo mình xuống vực thẳm–của tình dục; nghiện ngập; giao tiếp một cách bất lợi với những người cùng chúng ta cay đắng soi mói và điều đó ảnh hưởng đến các giáo sĩ nghĩ rằng quyền lợi của họ đã bị vi phạm.

Đức khiêm tốn dạy chúng ta phải lánh xa những điều ấy, khi chúng ta thú nhận rằng thực sự chúng ta không đáng được gì cả, và như thế, rốt cục là, các vinh dự, sự chú trọng, và thanh danh thì nguy hiểm và tốt hơn chúng ta nên tránh. Theo lời của Thánh Phaolô, “Nếu tôi kiêu hãnh, tôi kiêu hãnh trong thập giá của Chúa Giêsu Kitô. “

Sự chú trọng quá đáng đến quyền lợi cá nhân là một nhấn mạnh quá đáng đến cái tôi, là sự trái ngược với đường hướng phải có. Mẹ Têrêsa, với tính tình đơn giản của ngài, nói rằng thứ tự thích hợp của quyền ưu tiên là J-O-Y:

J – Jesus (Chúa Giêsu)
O – Others (Tha nhân)
Y – You (chính bạn)

Trở ngại thứ bốn trên đường khiêm tốn là tính anh hùng rơm. Là đàn ông thì không cần sự giúp đỡ! Là đàn ông thì không thể thú nhận sự yếu đuối của mình! Là đàn ông thì có thể thi hành bất cứ gì ở trong đầu! Là đàn ông thì không khóc! Là đàn ông thì không có giới hạn!

Chỉ có người khiêm tốn mới có tất cả những điều vừa kể! Sự khiêm tốn giúp chúng ta ý thức về sự yếu đuối, sự mỏng dòn, những lỗi lầm của chúng ta, giúp nhận thức rằng chúng ta cần mọi sự giúp đỡ–từ Thiên Chúa, từ tha nhân. Như thế, chúng ta không sợ khi phải quỳ xuống và cầu nguyện, khi tâm sự với người bạn, khi mở lòng cho vị linh hướng, khi tìm sự hỗ trợ của người khác, ngay cả khi tìm kiếm sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn trong lãnh vực y khoa hay cố vấn.

Tôi vừa nghe một trường hợp đáng buồn của một linh mục nổi tiếng, ngài mất giáo xứ, mất địa vị trong giáo phận, và bây giờ mất cả chức linh mục chỉ vì ngài từ chối không thú nhận rằng ngài cần sự giúp đỡ của các người chuyên môn để đối phó với vấn đề tình dục và nghiện rượu, và ngài khước từ thái độ hòa nhã nhưng cương quyết của đức giám mục khi nói rằng ngài cần được sự giúp đỡ hoặc bị ngưng chức. Đây có thể là một anh hùng rơm–nhưng không phải là một người khiêm tốn.

Và đây là cạm bẫy sau cùng mà tôi muốn nhắc đến: một não trạng duy lý tự đắc khiến chúng ta nghĩ là mình phải hiểu biết mọi sự, cho rằng Thiên Chúa cần sự giải thích của chúng ta, và cho rằng bộ não của chúng ta có thể hiểu biết tất cả, do đó đời sống không còn gì phải lo sợ hay còn có những bí ẩn.

Hãy so sánh điều này với lời cầu xin khiêm tốn trong Thánh Vịnh 131:

Lòng con chẳng dám tự cao,
mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!
Đường cao vọng, chẳng đời nào bước,
việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu;
hồn con, con vẫn trước sau
giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình.
Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ,
trong con, hồn lặng lẽ an vui.

Bởi đó, Thánh Tôma Aquinô, nhà thần học vĩ đại, khi nhìn lại toàn bộ công trình của cuộc đời ngài và nói: “Tất cả chỉ là rơm rác so với mầu nhiệm chập chùng và sự vĩ đại cũng như lòng thương xót của Thiên Chúa. “

Có lẽ đã nói đủ về những nguy hiểm–còn những giúp đỡ cho sự khiêm tốn thì sao?

Điều đầu tiên, không ngạc nhiên gì, đó là cầu nguyện. Như Đức Giám Mục Sheen đã nói: “Chỉ người khiêm tốn mới cầu nguyện, vì sự cầu nguyện có nghĩa chúng ta cần người nào đó và điều gì đó.” Có câu tục ngữ về hai bài học quan trọng trong đời là, thứ nhất, có một Thiên Chúa; thứ hai, tôi không phải là Người!

Tôi thấy hữu ích khi vừa cầu nguyện và vừa suy tưởng về đôi mắt của Đức Kitô đang nhìn đến tôi, xuyên thấu con người của tôi: như khi Người “nhìn kỹ” đến chàng thanh niên giầu có, khi Người nhìn đến một phụ nữ ở giếng nước, khi Người nhìn đến Phêrô sau ba lần chối từ–con mắt của Đức Kitô xuyên thấu chúng ta. Không một tư tưởng, lời nói hay hành động nào có thể giấu được: Người biết chúng ta rõ hơn chúng ta biết chính mình. Chúng ta trở nên rỗng tuếch, nghèo nàn, lộ liễu, yếu ớt, tan nát trước cái nhìn đó–tuy vậy đó là đôi mắt đầy thương yêu, đón nhận. Sự suy tưởng đó giúp chúng ta khiêm tốn.

Trong lần đầu tiên đi coi xứ, một trong những lần cho kẻ liệt rước lễ là một phụ nữ rất thế giá ở St. Louis mà cha xứ cho biết bà đang bị ung thư. Khi tôi gọi để hẹn, bà rất cẩn thận cho biết tôi không thể đến trước 11g30 sáng thứ Sáu. Khi đến, tôi thấy bà trông rất mạnh khỏe. Mỗi sáng thứ Sáu đều giống nhau.

Một ngày kia, khi lái xe đến gần nhà bà, tôi quyết định bất ngờ ghé thăm. Người y tá ra mở cửa, và khi tôi bước vào, tôi thấy bà thở hổn hển vội vã đẩy chiếc xe lăn lánh mặt không cho tôi nhìn thấy–Bà không còn phấn son, không còn một chút tóc, vàng vọt bệnh hoạn, hiển nhiên là sắp chết–Tôi mới hiểu mỗi sáng Thứ Sáu bà phải mất hàng giờ để chuẩn bị, và giờ đây tôi ngạc nhiên khi trông thấy con người thật của bà–yếu đuối, xấu xa, trọc lóc, vàng vọt, già nua và sắp chết. Bà khóc lóc, “Ôi cha ơi, con không bao giờ muốn bất cứ ai thấy con như thế này. Con xấu hổ quá!”

Những gì tôi có thể làm là ôm lấy bà và trấn an bà là tôi vẫn đối xử với bà như trước, tôi yêu quý và chăm sóc linh hồn bà. Sau đó chúng tôi nói chuyện về cái chết, về sự đau khổ, và về Thiên Chúa.

Đó là thái độ khiêm tốn phải có của chúng ta khi cầu nguyện–Chúa nhìn thấy chúng ta mà không có gì giả mạo được, đầy khuyết điểm và đủ mọi thứ, yếu ớt, bệnh hoạn, bơ vơ và sợ hãi. Không có gì làm Người kinh ngạc. Đôi mắt Người xuyên thấu chúng ta.

Thánh Julian Norwich có viết: “Đối với Đức Kitô, Ngài thật mãn nguyện khi có một linh hồn đơn sơ đến với Ngài, linh hồn ấy trơ trụi, mộc mạc, và không khoe khoang. “

Đối với tôi, một trong những giây phút cảm động trong nghi thức đặt tay truyền chức là các ứng viên nằm phủ phục trên sàn. Đó là một tư thế thực sự khiêm tốn! Trước mặt Thiên Chúa, trước mặt Giáo Hội, họ bất lực, trống rỗng, vì chỉ như vậy ơn của Chúa mới có thể bén rễ. Thỉnh thoảng hãy dùng tư thế ấy để cầu nguyện cũng là một điều tốt.

Có lần tôi nghe Đức Tổng Giám Mục Emory Kabongo, cựu thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cho biết, có lần khoảng 3g sáng một có cú điện thoại của Thứ Trưởng Tòa Thánh gọi đến văn phòng để cho đức giáo hoàng biết về một tình hình khẩn trương trên thế giới.

Đức Tổng Kabongo điện thoại vào phòng ngủ của đức giáo hoàng–không ai trả lời. Lo lắng, ngài đích thân đến phòng ngủ, gõ cửa và đi vào–không thấy đức giáo hoàng. Ngài liếc mắt qua nhà nguyện–cũng không có ai. Ngài vào bếp, phòng ăn, thư viện riêng–cũng không có ai. Ngài lên khu vườn trên sân thượng–cũng không ai ở đó. Lần này, ngài thận trọng trở về tất cả những chỗ đã ghé qua, và trong nhà nguyện, ngài thấy Đức Gioan Phaolô II đang phủ phục trên sàn để cầu nguyện.

Một sự giúp đỡ thứ hai cho sự khiêm tốn đó là thường xuyên, thành khẩn xưng tội. Cựu giám mục của Springfield, Illinois, Đức Cha Giuse McNicholas, có lần nói trong buổi tĩnh tâm: “Nếu các bạn trung thành với việc xưng tội thành thật, khiêm tốn, tối thiểu mỗi tháng một lần, các bạn sẽ là linh mục tốt.” Lúc ấy, tôi nghĩ điều ấy quá đơn giản, nhưng giờ đây, càng ngày tôi càng thấy đó là sự thật. Việc xưng tội thường xuyên, tỉ mỉ, có giá trị thì tự nó là sự khiêm tốn khi chúng ta thành thật kể ra tội lỗi của mình; và chính khi đó là nguồn mạch của ơn sủng và nhân đức!

Sẵn sàng nghe chỉ trích. Người ta nói rằng Tổng Thống Lyndon Johnson luôn luôn chỉ định một thành viên trong bộ tham mưu để gặp ông ta hàng tuần chỉ để phê bình những sai trái của tổng thống. Tổng Thống Johnson còn cảnh cáo là nếu nhẹ lời phê bình, họ sẽ bị sa thải. Thật đáng hoan nghênh! Sẵn sàng nghe chỉ trích là một bước nhảy vọt đến sự khiêm tốn. Chúng ta đón nhận sự chỉ trích từ các cha giải tội, các vị linh hướng, giáo dân, các cộng tác viên, anh em linh mục, các bề trên.

Dấu hiệu của một người bạn tốt là người dám tin tưởng vào sức mạnh của tình bạn để có thể nói cho chúng ta nghe những gì chúng ta cần nghe, dù nhiều khi chúng ta không muốn.

Lời khuyên mà tôi muốn gửi đến các linh mục trẻ–đúng hơn, cho bất cứ linh mục nào–là thỉnh thoảng ngồi xuống với cha xứ để xin nghe lời phê bình. “Cha thấy con làm việc thế nào?” “Con làm có đúng không?” “Cha có nhận xét gì về bài giảng, thừa tác vụ, và kiểu cách của con không?” “Cha có nhận thấy lỗi lầm nào của con không?”

Không ai trong chúng ta muốn nghe phê bình hay điều xấu về chính mình, vì chúng ta tự đắc. Nhưng sẵn sàng nghe chỉ trích là một sự trợ giúp lớn lao cho đức khiêm tốn.

“Ai là người không có khuyết điểm?” Thánh Bernard đã hỏi như thế. “Người nào nghĩ mình không thiếu sót gì, đó là người thiếu sót mọi sự. “

Cảm giác bình an khi nghĩ mình là một linh mục trong suốt cuộc đời ở giáo xứ có thể không phải là điều quá đáng. Chủng viện là để chuẩn bị cho các ứng viên trở thành các linh mục hăng say, trung thành, đắc lực: thật đúng là một số sẽ dạy học, một số làm việc ở tòa giám mục, ngay cả một số khác làm việc với Tòa Thánh; cũng có người trở thành tuyên uý quân đội hay làm việc trong chủng viện–nhưng nếu bạn không đủ khiêm tốn để quyết tâm trở thành một linh mục giáo xứ suốt đời, bạn phải nghĩ lại ơn gọi làm linh mục của mình.

Hãy thành thật: Các linh mục được huấn luyện theo truyền thống La Mã đôi khi bị chỉ trích là tâm hồn họ để ở bên ngoài việc mục vụ giáo xứ, và một số giám mục cũng như cha giám đốc–cám ơn Chúa là không nhiều–nói với tôi rằng họ do dự gửi các linh mục sang đây chỉ vì họ cảm thấy sau này các linh mục ấy không vui khi phải làm việc trong một giáo xứ bình thường, sau năm năm quen với mùi hương đền Thánh Phêrô và quen đi mua sắm ở Gammerelli. Làm thế nào mà bạn có thể cầm chân họ ở nông trại sau khi họ được thấy Thánh Phêrô?” Thật không công bằng, tôi tin như thế, nhưng điều phê bình này đáng cho chúng ta suy nghĩ khi phải gạt bỏ khỏi tâm hồn bất cứ tham vọng nào mà nó cản trở chúng ta không muốn trở thành một mục tử chăn dắt các linh hồn.

Sẵn sàng thú nhận là rất có thể chúng ta không được mời gọi để trở thành linh mục–đó cũng là một hành động khiêm tốn cho một chủng sinh. Không bao giờ chúng ta bị trượt chân vào chức linh mục, làm linh mục chỉ vì đó là bước kế tiếp không thể tránh khỏi. Chén lễ của thầy ấy đã được đặt mua rồi. Sự khiêm tốn đích thực thúc giục chúng ta phải thú nhận là rất có thể chúng ta không được mời gọi đến chức linh mục. Chúng ta không thể chấp nhận lời mời gọi ấy một cách tự do, phải lẽ và trưởng thành ngoại trừ chúng ta có đủ khiêm tốn để thú nhận rằng rất có thể chúng ta không có ơn gọi ấy.

Bây giờ, điều này nghe có vẻ quá hiển nhiên–nhưng, tất cả những gì bạn cần là lắng nghe câu chuyện thú vị của những người vừa từ bỏ chức linh mục khi họ nói: “Tôi lỡ bước vào, tôi không bao giờ thực sự tự do nhận chức linh mục. Khi tôi đến Rôma thì nhiều điều bỗng dưng xảy đến, và kế đó là tôi thấy mình được mặc áo. ” Làm thế nào điều này có thể xảy ra được, tôi cũng không biết, nhưng nó thường xảy ra, và đừng để nó xảy ra cho bạn. Hãy khiêm tốn thú nhận là rất có thể bạn không được mời gọi làm linh mục.

Hãy biết mình! Có người khen Thánh Gioan Vianney là một cha giải tội nổi tiếng, ngài trả lời: “Nếu tôi là một cha giải tội nổi tiếng, đó chỉ vì tôi là một người tội lỗi đầy mình!” Chúng ta biết rõ về chính mình; chúng ta rất ý thức về yếu điểm của mình để đừng bao giờ đưa mình đến các dịp dễ sa ngã phạm tội.

Một linh mục tôi quen biết, quý mến và tôn trọng, là người ảnh hưởng rất nhiều đến ơn gọi của tôi, mời tôi đi nghỉ hè với ngài ở Las Vegas. Ngài thích chơi “golf”, coi văn nghệ (show), ngay cả đánh bài chút đỉnh. Khoảng hai tuần trước khi đi, tôi phải bỏ chương trình vì cha phụ tá phải vào nhà thương gấp. Khi tôi gọi ngài cho biết điều ấy, ngài rất thất vọng, và tôi nói: “Nhưng cha vẫn có thể đi một mình chứ sao đâu.” Tôi không bao giờ quên được câu trả lời của ngài: “Tôi không bao giờ tin vào chính mình khi ở Las Vegas.” Đây là một con người gương mẫu của đức khiêm tốn, ngài biết rõ chính mình nên không đưa mình vào các dịp dễ sa ngã phạm tội. Đó là sự khiêm tốn.

Bạn từng nghe về Matt Talbot, một giáo dân Ái Nhĩ Lan, nghiện rượu khi mười hai tuổi, và nhờ sự cầu nguyện, sám hối và biết mình nên đã trở nên điều độ và thánh thiện. Khi ngài từ sở về nhà hàng đêm, ngài đi sang bên kia đường chứ không đi ngang các quán rượu, vì ngài biết rõ chính mình và khiêm tốn thú nhận là chỉ cần ngửi thấy mùi rượu không thôi cũng có thể làm ngài sa ngã. Đó là loại biết mình mà nhờ đó có thể triển nở đức khiêm tốn.

Đức Hồng Y Newman nói: “Làm thế nào để chúng ta cảm thấy cần sự trợ giúp của Chúa, hoặc trông nhờ vào Người, hoặc mắc nợ với Người nếu chúng ta không biết chính mình?”

Khiêm tốn, một nhân đức được Chúa ưa thích, một viên đá nền móng của sự thăng tiến trong đời sống Thiên Chúa, một đức tính chủ yếu cho sự trung thành và hiệu lực của linh mục: có những cản trở sự khiêm tốn, có những trợ giúp cho sự khiêm tốn; nhưng không thể có sự thay thế cho đức khiêm tốn.

Chúng ta hãy đọc Kinh Khiêm Tốn của Đức Hồng Y Raphael Merry del Val:

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng,
Xin lắng nghe con.
Xin giải thoát con
            Khỏi ao ước được yêu thương,
            Khỏi ao ước được tán dương,
            Khỏi ao ước được vinh dự,
            Khỏi ao ước được chúc tụng,
            Khỏi ao ước được quý trọng hơn người khác,
            Khỏi ao ước được hỏi ý kiến,
            Khỏi ao ước được công nhận,
            Khỏi ao ước được nổi tiếng,
            Khỏi sợ hãi bị lăng nhục,
            Khỏi sợ hãi bị khinh miệt,
            Khỏi sợ hãi bị đau khổ vì khiển trách,
            Khỏi sợ hãi bị vu oan,
            Khỏi sợ hãi bị quên lãng,
            Khỏi sợ hãi bị sai lầm,
            Khỏi sợ hãi bị nhạo cười,
            Khỏi sợ hãi bị hồ nghi.

Xin ban cho con ơn sủng để ao ước rằng
Người khác được yêu thương hơn con,
Người khác được quý trọng hơn con,
Người khác lớn lên, con lại nhỏ đi theo quan điểm của thế gian.
Người khác được chọn và con bị loại bỏ,
Người khác được ca tụng và con bị lãng quên.
Người khác được ưa chuộng đủ mọi điều hơn con.
Người khác được thánh thiện hơn con,
miễn là con được thánh thiện đúng với bổn phận của con.

Lạy Đức Bà Khiêm Tốn
            Cầu cho chúng con.


– CHƯƠNG TRÌNH BUỔI CHIỀU

– Vào lúc 14 giờ, Cha Giám Quản chủ tọa buổi Hội Thảo Mục Vụ với phần trình bày của Cha Quản Hạt các Hạt: Vĩnh Long, Mai Phốp, Trà Vinh, Mặc Bắc, Vĩnh Kim, Ban Giáo Lý và Ban Văn Hóa. Trong phần trình bày của mình các Cha đã cho thấy sinh hoạt của các Hạt trong Giáo phận ổn định, đặc biệt việc học giáo lý cộng đồng được thực hiện trong hầu hết các Họ đạo. Ban Giáo lý cũng trình bày đường hướng sinh hoạt cho năm mục vụ mới cũng như Giáo thiệu quyển Giáo lý Hỏi Thưa của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Ban Văn Hóa cũng giới thiệu một thời gian gần đây sẽ cho ra mắt quyển Kỷ Yếu Giáo Phận kỷ niệm 75 năm thành lập Giáo Phận Vĩnh Long.

Buổi hội thảo diễn ra trong bầu khí vui tươi, hiệp thông và xây dựng.

– Theo chương trình hằng ngày đều có Chầu Thánh Thể và Đọc Kinh Sách lúc 17 giờ, giờ chầu hôm nay do Cha Giuse Đinh Quang Lục, Quản Hạt Vĩnh Long chủ sự.

– Sau giờ cơm chiều, lúc 19 giờ Quý cha trong giáo phận quy tụ trong nhà nguyện để lần chuỗi và đọc kinh tối. Sau đó Cha Phêrô hướng ý suy niệm cho ngày mai 27. 11. 2013

Phúc âm: Lc 4, 14-22

“Hôm nay ứng nghiệm đoạn sách các người vừa nghe”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Bấy giờ Chúa Giêsu trở về Galilêa trong quyền lực Thánh Thần, và danh tiếng Người lan tràn khắp cả miền chung quanh. Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người ca tụng. Người đến Nadarét, nơi Người sinh trưởng, và theo thói quen của Người, thì ngày nghỉ lễ, Người vào hội đường. Người đứng dậy để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở sách ra, Người gặp ngay đoạn chép rằng:

“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”.

Người gấp sách lại, trao cho thừa tác viên, và ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe”.

Mọi người đều làm chứng cho Người và thán phục Người về những lời từ miệng Người thốt ra, và họ nói: “Người này không phải là con ông Giuse sao?” . Đó là lời Chúa.

Trích Thông Điệp “DIVES IN MISERICORDIA”

Chương II: SỨ ĐIỆP CỨU THẾ CỦA ĐẤNG THIÊN SAI

Số 3. Khi Đức Kitô bắt đầu hoạt động và giảng dạy.

Tại Nazaret, trước những người đồng hương, Đức Kitô viện dẫn lời tiên tri Isaia:

“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.”

Theo Thánh Luca, các câu trên là tuyên ngôn cứu thế đầu tiên của Đức Kitô, nó sẽ được nối tiếp bằng những việc làm và lời nói mà Tin Mừng cho chúng ta biết. Bằng những việc làm và lời nói này, Đức Kitô làm cho Chúa Cha hiện diện giữa loài người. Điều rất ý nghĩa là loài người ở đây trước hết lại là những người nghèo khó, không công ăn việc làm, những người bị tước đoạt tự do, những người đui mù không thấy được vẻ đẹp của vũ trụ, những người đang sống với tâm hồn tan nát, những người đau khổ vì bất công xã hội, và sau cùng là những người tội lỗi. Chính vì đặc biệt đối với những người như thế mà Đấng Cứu thế trở nên một dấu chỉ rất rõ ràng cho sự kiện Thiên Chúa là tình thương, Người trở nên dấu chỉ của Chúa Cha. Trong dấu chỉ hữu hình này, con người ở thời đại chúng ta, cũng như con người thời đó, đều có thể thấy Chúa Cha. Điều đó có ý nghĩa là khi những sứ giả được Gioan Tẩy Giả phái đến gặp Chúa Giêsu để hỏi Người: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ?”. Đức Giêsu lại viện dẫn chứng từ mà Người đã dùng để bắt đầu công việc giảng dạy của mình ở Nazaret để trả lời họ: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”. Và sau đó Người kết luận : “Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi !”

Một cách đặc biệt bằng lối sống và những hành động của mình, Chúa Giêsu đã mạc khải tình thương hiện diện như thế trong thế giới chúng ta sống, tình thương tích cực, tình thương được gởi đến cho con người, tình thương đó bao gồm tất cả những gì làm thành nhân tính của con người. Tình thương này càng nổi bật hơn cả khi tiếp xúc với đau khổ, với bất công, với nghèo khó, khi tiếp xúc với tất cả “thân phận con người” trong lịch sử. Cách này hay cách khác, thân phận đó biểu lộ tính chất hữu hạn và mong manh của con người, cả về thể xác lẫn tinh thần. Do đó, theo ngôn ngữ Thánh Kinh, các cách thức và những lãnh vực nào tình thương được biểu lộ, được gọi là “lòng thương xót”.

Như thế Đức Kitô mạc khải Thiên Chúa là Cha, là “tình thương”, như Thánh Gioan đã nói trong thư thứ nhất của ngài ; Người mạc khải Thiên Chúa “giàu lòng thương xót”, như chúng ta đọc thấy trong Thánh Phaolô. Còn hơn một đề tài giảng dạy, chân lý này là một thực tại đã được Đức Kitô làm cho hiện diện nơi chúng ta. Biểu lộ Chúa Cha như tình thương và lòng thương xót đó là, trong ý thức của chính Đức kitô, diễn đạt chân lý nền tảng của sứ mệnh cứu thế của Người ; những lời lẽ đã được nói lên trước hết ở hội đường Nazaret, rồi trước mặt các môn đồ của Người và những sứ giả do Gioan Tẩy Giả phái đến, xác nhận cho chúng ta điều đó.

Dựa vào cách thức biểu lộ sự hiện diện của Thiên Chúa là Cha, là tình thương và lòng thương xót, Chúa Giêsu đã lấy lòng thương xót làm một trong những chủ đề giảng dạy chính yếu của mình. Như thường lệ, trước hết, Người giảng dạy “bằng những dụ ngôn”, bởi vì những dụ ngôn diễn đạt tốt hơn yếu tính của vấn đề. Chỉ cần nhắc lại dụ ngôn người con hoang đàng, hoặc thêm dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu, ngay cả dụ ngôn tương phản là dụ ngôn người tôi tớ ác nghiệt nữa.. Trong lời giảng dạy của Đức Kitô, nhiều đoạn nói lên tình thương – lòng thương xót dưới một khía cạnh luôn mới mẻ. Chúng ta chỉ cần nhìn vào Người chăn chiên tốt đi tìm con chiên lạc, hoặc người đàn bà quét nhà để tìm đồng bạc đánh mất là đủ. Tác giả sách Tin Mừng viết đặc biệt về những đề tài như thế trong lời giảng dạy của Đức Kitô là Thánh Luca, và Tin Mừng của ngài đã xứng đáng được gọi là “Tin Mừng về lòng thương xót”.

Tạ ơn Thiên Chúa đã gìn giữ và ban ơn cho chúng con được ngày hôm nay bình an trong tay Chúa.

Chia sẻ MXH:

CÁC NỘI DUNG KHÁC

CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031