MỚI

10:30
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogTin Giáo Hội Hoàn VũPhản ứng đối với “Hãy bãi bỏ chức linh mục” của James Carroll – tt

Phản ứng đối với “Hãy bãi bỏ chức linh mục” của James Carroll – tt



III. Hợp tác hòa nhập

Susan Bigelow Raynolds, phụ tá giáo sư môn Công Giáo Học tại Trường Thần Học thuộc Đại Học Emory University Candler, là một người trước đây từng quản trị một giáo xứ không có linh mục, sống trong một nhà xứ, lo mọi việc của giáo xứ. Điều đáng nói là giáo xứ này thành công trong việc không bị hủy bỏ hay sát nhập nhân dịp tổng giáo phận Boston tổ chức lại các giáo xứ. Nhưng bà không cho rằng luận điểm của Carroll có giá trị. Dĩ nhiên chủ nghĩa giáo sĩ trị là điều xấu xa, gây tại họa, nhưng kinh nghiệm của bà cho hay điều chủ yếu là sự hiệp thông. Tinh thần này phải thẩm thấu vào các cơ cấu Giáo Hội. Giáo Xứ của bà thành công chính là ở chỗ hiệp thông mọi người kể cả với các giáo sĩ. 

Lý do giản dị là giải quyết nạn kỳ thị chủng tộc không phải là hủy bỏ các dị biệt mà là thay đổi luật lệ và thực hành và cả các chuyện kể đề cao tính thượng tôn da trắng. Cũng thế, giải pháp cho chủ nghĩa giáo sĩ trị không là và không nên là bãi bỏ hàng linh mục. Đúng hơn phải là công trình gian khổ hơn nhằm biến đổi các cơ cấu Giáo Hội từng phát sinh và nâng đỡ cái hiểu bệnh hoạn về tính thượng tôn của giáo sĩ. 

Thành thử bà buồn cười khi Carroll cho rằng nạn giáo sĩ trị sẽ chấm dứt khi giáo dân chỉ cần quyết định trở thành “người Công Giáo theo các điều kiện của chúng tôi”. Nhưng được mấy người!

Ở giáo xứ mà bà từng quản trị, nền văn hóa hợp tác hoà nhập dần dần đâm rễ khi giáo dân và giáo sĩ hợp tác để thúc đẩy sức mạnh định chế của Giáo Hội phục vụ những thành viên bị hắt hủi hơn cả trong cộng đồng địa phương. Nghĩa là phải trao cho người giáo dân tiếng nói mạnh mẽ hơn ở mọi bình diện của việc cai quản Giáo Hội. 

IV. Bãi bỏ chức linh mục không cứu được Giáo Hội Công Giáo

Linh mục Thomas Reese, Dòng Tên, cho rằng giống nhiều người trước ông, Carroll coi các Kitô hữu tiên khởi như thành viên của một cộng đồng tinh ròng, đầy yêu thương, không có phẩm trật, sau đó bị hủ hóa bởi việc nó liên minh với Hoàng Đế Constantinô và vì thế chủ nghĩa giáo sĩ trị đã phát sinh. 

Dù có một chút sự thật trong lý thuyết đó, nhưng chủ nghĩa giáo sĩ trị có những gốc rễ sâu xa và sớm sủa hơn trong chính thân phận làm người. Cha Rees trưng dẫn tình tiết trong Mátthêu 20: trong đó, mẹ của Giacôbê và Gioan xin Chúa Giêsu cho hai con bà, người “ngự” bên hữu, người “ngự” bên tả Chúa Giêsu trong nước của Người. Mà không riêng bà đâu, khi các tông đồ khác nghe thấy thế, họ rất bất bình với hai anh em. Tại sao lại bất bình nếu không phải vì ghen tương?

Còn chuyện các tông đồ tranh cãi với nhau xem ai là người lớn nhất trong số họ (Mc 9) nữa. Giáo sĩ trị vốn đã ngự trị giữa các tông đồ trước Constantinô nhiều. Ngay cả biến cố Ngũ Tuần cũng vẫn chưa chữa được nạn này. Thực vậy, theo Công Vụ 6, các phó tế được lập ra vì 12 tông đồ nghĩ họ ở trên việc phục vụ bàn ăn: “Không đúng để chúng tôi lãng quên lời Chúa mà phục vụ tại bàn ăn”.

Giáo sĩ trị chỉ là 1 biểu hiện trong Giáo Hội các cơn cám dỗ của con người hiện diện trong mọi tổ chức: tham vọng, kiêu hãnh, cao ngạo và lạm quyền. Chúng ta chỉ ngỡ ngàng khi thấy nó ở trong Giáo Hội. 

Thành thử bãi bỏ chức linh mục sẽ không cứu được Giáo Hội. Cha Reese cũng đưa ra hai nhận xét: những người tin rằng các thủ tục dân chủ sẽ bẻ gẫy được cái vòng luẩn quẩn là chưa tham dự các buổi hội họp đầy tranh cãi ở các giáo xứ và họ cũng không giải thích được tại sao chế độ dân chủ, hiện đang hết sức tồi tệ ở Hoa Kỳ, lại có thể thành công một cách ma thuật trong Giáo Hội. 

V. Tự qui chiếu vào chính mình

Michael Sean Winters của tờ National Catholic Reporter, một tờ báo cấp tiến, coi lập luận của Carroll là thiếu khả năng, sai lầm về lịch sử, tự qui chiếu vào chính mình (self-referential). 

Winters cho rằng nền thần học của Carroll hoàn toàn có tính cơ hội chủ nghĩa. Thực vậy, như trên đã nói: việc hãm mình ép xác, khuyến khích người chưa lập gia đình giữ khiết tịnh đâu phải mới có từ lúc Thánh Augustinô đưa ra quan điểm của ngài trong việc hạ giá điều ông gọi là “sexual restlessness” (khắc khoải náo nức tính dục) đi ngược lại lối sống cởi mở tiền Constantinô. Những việc ấy vốn đã được Tin Mừng lên khuôn.

Theo Winters, Carroll sai lầm trong nhận định lịch sử khi cho rằng việc Giáo Hội thích ứng với nền văn hóa Rôma là kết quả của áp đặt đế quốc và lòng thèm muốn quyền lực của hàng giáo sĩ. Thực ra, Kitô hữu thời ấy cũng như mọi thời, lúc nào cũng tìm cách làm cho việc Thiên Chúa tự mặc khải Người nơi Chúa Giêsu Kitô trở thành có ý nghĩa. Muốn thế, họ phải lợi dụng các phạm trù, ý niệm và kinh nghiệm họ biết được. Nếu các dinh thự Rôma nói lên cảm thức thán phục và cái đẹp thì tại sao lại không mô phỏng chúng để tạo ra các vương cung thánh đường? Điều nghịch thường là chính Carroll mừng vui vì “Giáo Hội, định chế từng bảo trợ các công trình dân quyền của tôi và thúc giục tôi dấn thân vào phong trào chống đối chiến tranh, đã biến tôi thành người cấp tiến”. Ông đã thích ứng với các phạm trù hiện đại, tại sao Kitô hữu thế kỷ thứ 4 lại không được phép thích ứng với các phạm trù thời họ?

Hình như cái tôi của Carroll quá lớn. Khiến ông có những dòng như “Tôi là tuyên úy Công Giáo tại Đại Học Boston, làm việc với những người cưỡng và chống đối lệnh động viên, và chẳng bao lâu, tôi thấy mình mâu thuẫn với hàng giáo phẩm Công Giáo bảo thủ. Chỉ từ từ tôi mới nhận ra có một thiếu sót đầy thảm họa sâu xa bên trong định chế tôi đã hiến thân cho, và điều đó có liên hệ đến chính chức linh mục. Chức linh mục của tôi”. Winters đặt câu hỏi: chức linh mục của ai? Chức linh mục của Kitô hữu, nghĩa là của hàng giáo sĩ và của những người đã chịu phép rửa, đều là việc tham dự vào chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô. Thành thử có thể nói: chủ nghĩa giáo sĩ trị có thể là gốc rễ gây ra cuộc khủng hoảng lạm dụng, nhưng ý niệm coi nó như một vết nhơ không thể tẩy xóa là một ý niệm ông không đưa ra được một luận điểm nào mà không có đại danh từ số ít “Tôi”!

Theo Winters, việc Carroll tấn công Đức Phanxicô quả là một điều ngu dốt, khi cho rằng hội nghị thượng đỉnh vừa rồi về việc bảo vệ trẻ vị thành niên giống như “đặt các lãnh chúa Mafia đứng đầu ủy ban điều tra tội ác”. Thực sự hội nghị ấy có hiệu quả, hết sức nhanh chóng đem lại nhiều chính sách và thủ tục mới buộc các giám mục thế giới phải giải trình. Các vị như Hồng Y Sean O’Malley, Blase Cupich, Tổng Giám Mục Charles Scicluna có phải là những tên tội phạm hay không? 

Tóm lại trong Giáo Hội Công Giáo hiện thời không ai bằng Carroll. Theo Winters, ông ta muốn mọi người nên như ông, bước vào “lưu đầy nội bộ” (đúng hơn phải nói: nội thù). Ông ta muốn Giáo Hội giảng dạy không phải Chúa Giêsu Kitô, nhất là Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh mà là James Carroll và là James Carroll bất mãn! Winters gọi đây là một thứ đập phá hình tượng kiểu con nít (puerile iconoclasm), một thứ duy ngã luận (solipsism): chức linh mục không hay đối với ông, vậy thì chức linh mục là vấn đề và cần được bãi bỏ!

VI. Chức linh mục không là một phát triển dần từ bên ngoài

Từng là linh mục ít nhất 5 năm, Carroll dường như không hiểu bản chất đích thực của chức linh mục. Linh mục Francis X. Clooney, Dòng Tên, hiện là Giáo Sư thực thụ tại Phân khoa Thần Học của Đại Học Harvard và là Phó Chủ Tịch Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ ( https://www.americamagazine.org/faith/2019/06/19/dont-abolish-priesthood-redeem-it), cho rằng “Chức linh mục quả có một lịch sử, và nó thay đổi với thời gian; chắc chắn nó cũng sẽ tiếp tục thay đổi trong tương lai. Nhưng nó không phải là một sự phát triển dần dần từ bên ngoài (extrinsic accretion) nghịch với Kitô giáo “đích thực”. Các giáo sĩ thời Trung Cổ không tìm ra các bí tích chỉ để gia tăng quyền lực của họ hay bóp nghẹt thể thánh thiêng ở một số nơi, thời, sự vật”. Chức linh mục không phải là một sai lầm áp đặt lên một cộng đồng tinh ròng và nguyên thủy tưởng tượng. Đúng hơn, nó là một phần trong việc cộng đồng này học hỏi để trở thành cộng đồng thánh thiện của Thiên Chúa, Nhiệm Thể Chúa Kitô, trong nhiều thế kỷ”.

Cha Clooney giải thích thêm “Lời đoan hứa về hiện diện thực sự lâu dài và được lặp đi lặp lại của Chúa Kitô trong việc bẻ bánh đã thúc đẩy Giáo Hội tìm phương cách hướng tới chức linh mục”. Cha cho rằng “việc Giáo Hội khám phá ra chức năng linh mục, theo nghĩa thực sự của nó, là một tái khẳng định nguồn gốc của chúng ta trong một Do Thái Giáo không ai lầm lẫn được nhờ có hàng tư tế. Việc cả chúng ta cũng có các tư tế đánh dấu cơ sở chung với các tôn giáo vĩ đại khác như Ấn Giáo, hết sức phong phú về đền thờ, nghi lễ và cả việc làm của các tư tế nữa”.

Cha Clooney phê phán việc Carroll dùng nhãn hiệu “cựu linh mục” để đòi bãi bỏ chức linh mục xem ra để chứng minh rằng mình hiểu việc mình làm. Nhưng theo Cha, việc ấy càng chứng tỏ những người như Carroll không nhìn thấy thực tại. Theo lời cha, họ “làm ngơ đức tin liên tục của người Công Giáo, một đức tin được thuật lại trong vô vàn câu truyện của những người cũng giận dữ và bị chướng tai gai mắt nhưng vẫn nhìn ra giá trị của Giáo Hội Công Giáo, tìm thấy trong sinh hoạt bí tích của Giáo Hội một điều gì đó sâu sắc hơn và lâu bền hơn các cao ngạo của hàng giáo phẩm và sự tồi bại của một số giáo sĩ. Như tôi thấy trong giáo xứ của tôi vào ngày cuối tuần và tại khuôn viên Havard, người ta vẫn tới nhà thờ, không phải chỉ vì thói quen, cũng chẳng phải vì cảm quan bổn phận đã lỗi thời, hay vì vô cảm đối với cuộc khủng hoảng. Họ tới vì họ vẫn tìm thấy giá trị của các bí tích, vẫn thấy Thiên Chúa hiện diện trong việc thờ phượng này, vẫn tôn kính sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô trong Phép Thánh Thể và vâng, họ vẫn còn có thể thấy linh mục của họ rất khác với phường lạm dụng và những người giúp chúng phạm tội. Người ta tới vì họ vẫn tìm được Thiên Chúa trong thánh lễ và vẫn có thể cầu nguyện bên cạnh một vị linh mục khiêm tốn đủ để hướng dẫn cộng đoàn cầu nguyện và thờ phượng. Và vâng, còn rất nhiều linh mục vẫn đang làm công việc của các ngài, cử hành các bí tích, giảng giải Tin Mừng liên tục, giữ các lời khấn của các ngài”.

Carroll tự hào nhìn ra sự thực. Nhưng theo Cha Carroll, ngài cũng như ông ta “sống trong cùng một thế giới thực… mà vẫn còn là một linh mục (suốt 40 năm qua). Tôi thấy cùng những sự việc như họ, nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện với cộng đồng vào Chúa Nhật và đôi khi trong tuần…”. Về các phẩm tính nhân bản, Cha không khác gì Carroll: “tôi cũng viết các sách học thuật. Tôi cũng ngồi ở ghế giáo sư…tôi vẫn là một tín hữu đích thực”. 

Tóm lại, đọc Carroll người ta thấy một cao ngạo ngất trời đến coi trời bằng vung. Thực vậy, đối với ông ta, mọi đầu óc từng tạo ra gia tài Công Giáo đồ sộ trong hơn 20 thế kỷ qua đều là đồ bỏ. Kể cả Đức Bênêđíctô XVI uyên bác và Đức Phanxicô mục vụ cũng bị ông chê không tiếc lời.Với ông, một nạn nhân không đối chất trong phúc trình của Đại Bồi Thẩm Đoàn Pensylvania có giá trị tuyệt đối, hơn hẳn tất cả phẩm trật Công Giáo cộng lại. Một người như thế mà dám vẽ ra cả một sơ đồ tổ chức cho một khối người hơn 1 tỷ hiện nay trên thế giới.

Carroll rất hãnh diện về khối người này. Ông nghĩ ông có thể thuyết phục khối người ấy, vốn đại đa số không phải là giáo sĩ, đi theo quan điểm của ông. Nhưng ông có biết chỉ một việc cử hành thánh lễ bằng ngôn ngữ bình dân, một việc xem ra hết sức hợp lý, mà đã có cả một khối người đông đảo phản đối, đến tách rời khỏi Giáo Hội. Phương chi là việc bãi bỏ luật độc thân linh mục và nhất là bãi bỏ chức linh mục, và do đó, bãi bỏ thánh lễ, để chỉ còn nghi thức bẻ bánh. Không gì hoang tưởng bằng. Vũ Văn An


Chia sẻ MXH:

CÁC NỘI DUNG KHÁC

CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031