Cùng với việc kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm, nhiều người lưu ý tới các dấu chỉ bề ngoài khác nói lên căn tính Công Giáo. Trong đó có việc qùy gối mà một số nơi tự quyết định bỏ, thậm chí có những nhà thờ được xây dựng mà không có ghế qùy. Trong cuốn “Tinh Thần Phụng Vụ”, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger có phần nói về thần học của việc qùy gối như sau:
Có những nhóm gây ảnh hưởng không nhỏ đang cố gắng nói với ta đừng qùy gối nữa. Họ bảo: “điều ấy không hợp với nền văn hóa của ta (nền văn hóa nào?). Một người đã trưởng thành mà làm điều đó thì không đúng chút nào cả, anh ta nên đối diện với Thiên Chúa trên đôi chân của mình”. Họ còn nói: “Cả đối với một người được cứu chuộc, nó cũng không thích đáng, anh ta đã được Chúa Kitô giải phóng nên không cần phải qùy gối nữa”.
Nếu nhìn vào lịch sử, ta sẽ thấy: người Hy Lạp và người La Mã đều bác bỏ việc qùy gối. Trong một quan điểm coi các vị thần như những người hay cãi vã và đầy bè phái, thì thái độ này hoàn toàn được biện minh. Vì rõ ràng các vị thần này không phải là Thiên Chúa, cho dù bạn lệ thuộc quyền lực thất thường của họ và nếu có thể cố gắng hưởng ơn huệ của họ. Bởi thế, các dân tộc kia cho rằng qùy gối là điều bất xứng đối với những con người tự do, bất xứng với nền văn hóa Hy Lạp, một điều mà chỉ có dân mọi rợ mới thực hành. Plutarch và Theophrastus coi việc qùy gối như một biểu thức mê tín.
Aristotle gọi nó là hình thức man rợ của tác phong (Xem Rhetoric 1361 a36). Thánh Augustinô đồng ý với ông về một phương diện: các thần giả chỉ là mặt nạ của ma quỉ, những tên chuyên buộc con người phải thờ lạy tiền bạc và chỉ đi tìm chính mình, do đó, thực tế đã biến con người thành “nô dịch” và mê tín. Ngài nói rằng đức khiêm nhường và tình yêu của Chúa Kitô, những đức tính tiến xa tới tận Thánh Giá, đã giải phóng ta khỏi các quyền lực ấy. Giờ đây, ta qùy gối trước đức khiêm nhường này. Việc qùy gối của Kitô hữu không phải là một hình thức hội nhập văn hóa vào các phong tục hiện hành. Ngược lại mới đúng, nó là biểu thức của nền văn hóa Kitô Giáo, một nền văn hóa nhằm biến đổi nền văn hóa hiện hành qua việc nhận biết và cảm nghiệm Thiên Chúa một cách mới mẻ và thâm hậu. Qùy gối không phát xuất từ bất cứ nền văn hóa nào, nó xuất phát từ Thánh Kinh và nhận thức của Thánh Kinh về Thiên Chúa. Trong Thánh Kinh, ta có thể thấy sự quan trọng chính yếu của việc qùy gối một cách rất cụ thể. Hạn từ proskynein mà thôi, đã xuất hiện 59 lần trong Tân Ước, trong đó, 24 lần xuất hiện trong Sách Khải Huyền, thường được coi là sách phụng vụ trên trời, và được trình bày cho Giáo Hội làm tiêu chuẩn cho phụng vụ của mình. Quan sát kỹ, ta sẽ biện phân được 3 hình thức thế thân (posture) có liên hệ với nhau. Trước nhất là phủ phục (prostration), nghĩa là nằm úp mặt xuống đất trước uy quyền tối cao của Thiên Chúa; thứ hai, đặc biệt trong Tân Ước, là qùy gối trước một ai đó; và thứ ba, là qùy. Về phương diện phụng vụ, ba hình thức này luôn được phân biệt rõ ràng. Nhưng chúng có thể được phối hợp hay hòa lẫn với nhau.
Phủ phục
Đối với việc phủ phục, để vắn tắt, tôi chỉ muốn nhắc đến một bản văn trong Cựu Ước và một bản văn khác trong Tân Ước. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã hiện ra với Giosuê trước khi chiếm Giêricô. Sự hiện ra này đã được soạn giả thánh cố ý trình bày song hành với việc Thiên Chúa tự mạc khải cho Môsê trong bụi cây bừng cháy. Giosuê thấy “tư lệnh đạo quân của Chúa” và, khi đã nhận ra Người là ai, đã phủ phục dưới đất. Ngay lúc đó, ông nghe thấy những lời từng được phán với Môsê: “Hãy cởi giầy khỏi chân ngươi; vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh” (Gs 5:15). Trong hình dạng lạ lùng của “tư lệnh đạo quân của Chúa”, chính Thiên Chúa dấu ẩn đã nói với Giosuê, và Giosuê đã phủ phục thờ lạy Người. Origen đã giải thích bản văn này một cách rất hay: “Còn vị tư lệnh các đạo quân Thiên Chúa nào khác ngoài Chúa Giêsu Kitô?” Theo quan điểm này, Giosuê quả đang thờ lạy Đấng sẽ đến, Đấng Kitô sắp đến.
Trong Tân Ước, từ đời các Giáo Phụ trở đi, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên Núi Cây Dầu được coi là rất quan trọng. Theo Thánh Mátthêu (22:39) và Thánh Máccô (14:35), Chúa Giêsu đẽ gieo mình xuống đất… Tuy nhiên, Thánh Luca, trong cả Tin Mừng lẫn Tông Đồ Công Vụ, mới là nhà thần học đặc biệt của lối cầu nguyện qùy gối. Ngài viết rằng Chúa Giêsu qùy cầu nguyện. Lời cầu nguyện này, lời cầu nguyện bước vào cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu này, là một điển hình cho ta cả về cử chỉ lẫn nội dung. Về cử chỉ, có thể nói Chúa Giêsu mặc lấy sự sa ngã của con người, để mình rơi xuống hàng sa ngã của con người, cầu nguyện cùng Chúa Cha từ lũng sâu thăm thẳm của hoang vắng và xao xuyến nhân bản. Người đặt ý chí mình trong ý chí Chúa Cha: “Đừng theo ý Con mà là theo ý Cha”. Người đặt ý chí nhân bản trong ý chí thần linh. Người mang lấy mọi do dự của ý chí nhân bản và chịu đựng nó. Việc đồng phục ý chí nhân bản vào ý chí thần linh này chính là trái tim của cứu chuộc. Vì sự sa ngã của con người hệ ở việc mâu thuẫn giữa các ý chí, ý chí nhân bản chống lại ý chí thần linh, nên tên cám dỗ mới dẫn được con người tới chỗ coi sự mâu thuẫn ấy là điều kiện tạo tự do cho họ: chỉ có ý chí tự lập riêng của họ, một ý chí không tùy thuộc bất cứ ý chí nào khác, mới là tự do. “Đừng theo ý Con, mà là theo ý Cha”, đây mới là lời lẽ của sự thật, vì ý chí Thiên Chúa không hề kình chống ý chí ta, nhưng là cơ sở và là điều kiện tạo ra các khả thể của nó. Chỉ khi nào ý chí ta chịu nghỉ yên trong ý chí Thiên Chúa nó mới trở nên ý chí thực sự và tự do thực sự.
Cơn đau đớn và cuộc chiến đấu tại Diệtsimani chính là cuộc chiến đấu cho sự thật cứu chuộc ấy, cho sự kết hợp điều bị phân chia này, cho sự nên một vốn là hiệp thông với Thiên Chúa này. Giờ đây, ta hiểu tại sao kiểu nói đầy yêu thương của Chúa Con gọi Chúa Cha bằng “Bố” đã xuất hiện ở nơi này (xem Mc 14:36). Thánh Phaolô thấy trong tiếng kêu này lời cầu nguyện mà Chúa Thánh Thần muốn đặt lên môi miệng ta (xem Rm 8:15; Gl 4:6) và do đó, cột chặt lối cầu nguyện đầy Thánh Thần vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Diệtsimani.
Trong phụng vụ của Giáo Hội ngày nay, phủ phục diễn ra trong 2 dịp: vào Thứ Sáu Tuần Thánh và lúc thụ phong. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày Chúa chịu đóng đinh, phủ phục là biểu thức thích đáng nói lên cảm thức ngỡ ngàng của ta trước sự kiện này: vì tội lỗi của mình, ta chịu trách nhiệm chung đối với cái chết của Chúa Kitô. Ta gieo mình xuống đất và tham dự vào sự ngỡ ngàng của Người, vào việc Người rơi xuống lũng sâu xao xuyến. Ta gieo mình xuống và do đó nhìn nhận ta đang ở đâu và đang là ai: là tạo vật sa ngã mà chỉ có Người mới vực đứng trên đôi chân được. Ta gieo mình xuống, như Chúa Giêsu, trước mầu nhiệm của quyền lực Thiên Chúa đang hiện diện nơi ta, vì biết rằng Thánh Giá là bụi cây bừng cháy thực sự, là địa điểm rực lên ngọn lửa yêu thương của Thiên Chúa, ngọn lửa cháy bùng mà không tiêu diệt.
Lúc thụ phong, phủ phục diễn ra do ý thức rằng mình tuyệt đối bất khả năng, tự mình bất khả năng, không thể đảm nhiệm được sứ mệnh tư tế của Chúa Giêsu Kitô, để có thể nói chữ “Ta” của Người. Khi những người thụ phong phủ phục dưới đất, toàn thể cộng đoàn hát Kinh Cầu Các Thánh. Tôi sẽ không bao giờ quên được việc phủ phục dưới đất lúc tôi thụ phong linh mục và thụ phong giám mục. Khi thụ phong giám mục, cảm nhận cao độ của tôi về sự thiếu sót, sự thiếu khả năng, trước sự lớn lao của trách vụ, càng mạnh mẽ hơn nhiều so với lúc thụ phong linh mục. Sự kiện cả Giáo Hội cầu nguyện đang kêu gọi mọi vị thánh và lời cầu nguyện ấy đang bao bọc tôi, ôm ấp tôi, quả là một an ủi tuyệt vời. Trong cái thiếu khả năng của mình, một sự thiếu khả năng được diễn tả bằng thế thân (posture) phủ phục, lời cầu nguyện ấy, sự hiện diện này của toàn bộ các thánh, của cả người sống lẫn người đã qua đời, quả là một sức mạnh diệu kỳ, nó là điều duy nhất, có thể nói như thế, thực sự nâng tôi dậy. Chỉ có sự hiện diện của các thánh bên tôi mới làm cho con đường trước mắt tôi thành khả thể.
Qùy gối trước người khác
Thứ hai, ta cần nói tới thế thân qùy gối trước một người khác. Thế thân này đã được mô tả 4 lần trong các Tin Mừng (xem Mc 1:40; 10:17; Mt 17:14; 27:29) bằng động từ gonypetein. Ta hãy đơn cử đoạn Mc 1:40. Một người cùi đến với Chúa Giêsu và xin Người cứu giúp. Anh ta qùy gối trước mặt Người và nói: “Nếu ngài muốn, ngài có thể chữa tôi lành sạch”. Thật khó có thể lượng định được ý nghĩa của cử chỉ này. Điều ta thấy ở đây chắc chắn không phải là hành vi thờ lạy đúng nghĩa, mà đúng hơn chỉ là khẩn cầu bằng một hình thức tôn kính thân xác, trong khi tỏ sự tin tưởng vào một quyền năng vượt trên quyền năng nhân bản.
Nhưng, tình thế có khác đối với hạn từ cổ điển chỉ việc qùy gối thờ lạy, tức động từ proskynein. Tôi xin đưa ra hai thí dụ để làm sáng tỏ nan đề của người dịch. Thứ nhất, là trình thuật cho hay sau khi hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu ở lại trên núi cầu nguyện cùng Chúa Cha, trong khi các môn đệ phải vật lộn vô vọng với sóng gió trên biển hồ. Chúa Giêsu đi trên nước đến với họ. Thánh Phêrô vội chạy tới với Người và được Người cứu khỏi bị chìm. Sau đó, Chúa Giêsu leo lên thuyền và sóng gío im bặt. Bản văn viết tiếp: “Và thủy thủ của thuyền đến, qùy gối dưới chân Người mà nói ‘Thầy quả là Con Thiên Chúa'” (Mt 14:33, theo bản dịch của Đức Ông Knox). Bản dịch khác lại dịch thế này: “(Các môn đệ) trong thuyền thờ lạy (Chúa Giêsu) mà nói…” (Bản Revised Standard Version, tắt là RSV). Cả hai bản dịch đều đúng. Mỗi bản nhấn mạnh tới một khía cạnh của điều đang diễn ra. Bản của Knox nhấn mạnh tới biểu thức thân xác, trong khi bản RSV nhấn mạnh tới điều xảy ra trong tâm hồn. Căn cứ vào cấu trúc của câu truyện, điều hoàn toàn rõ là cử chỉ dùng để nhìn nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, chính là một hành vi thờ lạy.
Ta cũng gặp cùng nan đề này trong Tin Mừng theo Thánh Gioan khi Tin Mừng này thuật lại việc chữa lành cho người đàn ông bị mù từ lúc mới sinh. Trình thuật được kết cấu theo lối “thần kịch” này chấm dứt bằng một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người được Người chữa lành. Đây là một điển hình cho cuộc đối thoại nhằm việc trở lại, vì cũng phải nhìn trọn bộ trình thuật này như một bản trình bày sâu sắc ý nghĩa hiện sinh và thần học của Phép Rửa.
Trong cuộc đối thoại, Chúa Giêsu hỏi người đàn ông rằng anh ta có tin Con Người không. Người đàn ông mù từ lúc mới sinh trả lời: “Thưa Thầy, xin Thầy cho tôi hay ai là Đấng ấy”. Lúc ấy, Chúa Giêsu mới nói: “Chính là Đấng đang nói với anh”. Người đàn ông bèn tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa, con tin” rồi “qùy gối thờ lạy Người” (Ga 9:35-38, phỏng theo bản của Knox). Các bản dịch trước đó dịch thế này: “Anh ta thờ lạy Người”. Thực thế, trọn cảnh này qui về hành vi đức tin và việc thờ lạy Chúa Giêsu tiếp theo đó. Giờ đây, con mắt tâm hồn, cũng như con mắt thân xác, đã mở ra. Người đàn ông thực sự bắt đầu nhìn thấy.
Đối với việc chú giải bản văn, điều quan trọng cần ghi nhận là: hạn từ proskynein xuất hiện 11 lần trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, trong đó, 9 lần xuất hiện trong câu truyện giữa Chúa Giêsu và người đàn bà Samaria bên giếng Giacóp (Ga 4:19-24). Cuộc chuyện trò này hoàn toàn hướng về chủ đề thờ phượng, và điều không thể tranh cãi là ở đây, cũng như ở nơi khác trong Tin Mừng Gioan, hạn từ này luôn có nghĩa là “thờ lạy”. Điều tình cờ là cuộc chuyện trò này cũng kết thúc với việc Chúa Giêsu tự mạc khải về Người như trong câu truyện người đàn ông bị mù tức lúc mới sinh: “Ta, người đang nói với chị, chính là Đấng ấy” (Ga 4:26).
Tôi nấn ná ở các bản văn này, vì chúng đem ra ánh sáng một điều rất quan trọng. Trong hai đoạn mà ta đã xem sét cẩn thận nhất, ý nghĩa tinh thần và ý nghĩa thân xác trong chữ proskynein thực sự không thể tách rời nhau được. Cử chỉ thân xác chính là người mang ý nghĩa tinh thần, tức là chính ý nghĩa của việc thờ phượng. Không có việc thờ phượng, cử chỉ thân xác sẽ vô nghĩa, trong khi, hành động tinh thần, từ bản chất, phải tự biểu lộ qua cử chỉ thân xác, do sự hợp nhất giữa tinh thần và thân xác (psychosomatic unity) con người. Hai khía cạnh đó kết hợp trong một hạn từ, vì chúng vốn thuộc về nhau một cách hết sức sâu sắc. Khi qùy gối chỉ còn là bề ngoài, một hành vi hoàn toàn thể chất, nó sẽ trở thành vô nghĩa. Đàng khác, khi ai đó ráng đem việc thờ phượng trở lại lãnh vực hoàn toàn thiêng liêng và từ khước không cho nó một hình thức thân xác, thì hành vi thờ phượng sẽ tan biến như mây khói, bởi điều gì hoàn toàn thiêng liêng đều không thích hợp với bản chất con người. Thờ phượng là một trong các hành vi căn bản nhất ảnh hưởng tới trọn con người. Chính vì thế, qùy gối trước nhan Thiên Chúa hằng sống là điều ta không thể bãi bỏ.
Nói như thế rồi, ta nên xét tới cử chỉ đặc trưng của việc qùy bằng một hay hai đầu gối. Trong ngôn ngữ Hípri của Cựu Ước, động từ barak, “qùy”, có cùng nguồn gốc với chữ berek, “đầu gối”. Người Hípri coi đầu gối biểu tượng cho sức mạnh, do đó, gập đầu gối là gập sức mạnh của ta trước Thiên Chúa hằng sống, là nhìn nhận rằng mọi sự ta là ta đều nhận được từ Người. Trong nhiều đoạn quan trọng của Cựu Ước, cử chỉ này xuất hiện như một biểu thức thờ phượng. Trong lễ thánh hiến Đền Thờ, Salômôn qùy “trước sự hiện diện của toàn thể cộng đồng Israel” (2 Sb 6:13). Sau thời Lưu Đày, trong cảnh tang thương của một Israel hồi hương vì vẫn chưa có Đền Thờ, Étra đã lặp lại cử chỉ này lúc cử hành hy lễ buổi chiều: “Tôi… qùy hai đầu gối và giang tay lên Chúa là Thiên Chúa tôi” (Er 9:5). Thánh Vịnh vĩ đại nói về Khổ Nạn, tức Thánh Vịnh 22 (“Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi, sao Chúa bỏ tôi?”) kết thúc bằng lời hứa hẹn: “Đúng, trước mặt Người mọi kẻ kiêu hãnh trên trần gian đều qùy gối; trước mặt Người mọi kẻ trở thành tro bụi đều sẽ phủ phục” (câu 29, phỏng theo RSV). Đoạn liên hệ trong Isaia 45:23 nên được xem sét trong ngữ cảnh Tân Ước. Tông Đồ Công Vụ kể cho ta hay Thánh Phêrô (9:40), Thánh Phaolô (20:36) và toàn hể cộng đồng Kitô Giáo (21:5) đều đã qùy cầu nguyện.
Đối vấn đề ta đang bàn, điều đặc biệt quan trọng là trình thuật tử đạo của Thánh Stêphanô. Người chứng thứ nhất bằng máu của Chúa Kitô, trong cơn đau khổ của mình, đã được mô tả như hình ảnh hoàn hảo của Chúa Kitô, từng chi tiết dù nhỏ nhoi. Cuộc Khổ Nạn của Người được lặp lại trong sự tử đạo của người chứng. Một trong các chi tiết đó là Stêphanô, trong lúc qùy gối, đã lặp lại lời cầu xin của Chúa Kitô: “Lạy Chúa, xin Chúa đừng chấp tội họ” (7:60). Ta nên nhớ rằng không như Mátthêu và Máccô, Luca nói tới việc Chúa Giêsu qùy tại Diệtsimani, điều này cho thấy ngài muốn người ta nhìn việc qùy của người tử đạo thứ nhất như là việc ông bước vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Qùy không phải chỉ là một cử chỉ của Kitô Giáo, mà còn là một cử chỉ có tính Kitô học.
Tên trên hết các tên
Với tôi, các đoạn quan trọng nhất đối với thần học qùy gối luôn là ca khúc vĩ đại về Chúa Kitô trong thư Philíphê 2:6-11. Trong ca khúc tiền Phaolô này, ta nghe và thấy lời cầu nguyện của Giáo Hội tông đồ và nhận ra trong đó lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô của Giáo Hội này. Tuy nhiên, ta cũng nghe thấy tiếng của Thánh Tông Đồ, người đã bước vào lời cầu nguyện này và trao nó lại cho ta, và, sau cùng, ta nhận ra trong đó cả sự thống nhất sâu sắc bên trong giữa Cựu Ước và Tân Ước và chiều kích vũ trụ của Đức Tin Kitô Giáo.
Ca khúc này trình bày Chúa Kitô như một loại hình ngược với Adong Thứ Nhất. Trong khi Adong này ngạo nghễ nắm chặt lấy việc giống như Thiên Chúa, thì Chúa Kitô không kể gì tới việc ngang hàng với Thiên Chúa, là việc vốn là của Người từ bản chất, “một điều cần nắm chặt”, trái lại đã hạ mình chịu chết, và chết trên Thánh Giá. Chính sự hạ mình này, một sự hạ mình vì tình yêu, mới là thực tại thần linh thực sự và đem lại cho Người “cái tên trên hết các tên, đến nỗi khi nghe tên Giêsu, mọi đầu gối đều phải qùy xuống, dù là ở thiên đàng hay ở trần gian hoặc ở dưới lòng đất” (Pl 2:5-10).
Ở đây, ca khúc của Giáo Hội tông đồ đã mang lấy lời lẽ hứa hẹn trong Isaia 45: 23: “Ta lấy chính tên Ta mà thề, lời chân thật này thốt ra khỏi miệng Ta, Ta quyết chẳng bao giờ rút lại: ‘Trước mặt Ta, mọi người sẽ qùy gối và mở miệng thề rằng'”. Trong sự dệt nối qua lại giữa Cựu Ước và Tân Ước, ta thấy rõ: dù bị đóng đinh, Chúa Giêsu đã mang cái “tên trên hết các tên” ấy, cái tên của Đấng Tối Cao, và Người, từ bản chất, vốn là Thiên Chúa. Nhờ Người, nhờ Đấng Chịu Đóng Đinh, lời hứa mạnh bạo của Cựu Ước nay đã nên trọn: mọi người đều gập đầu gối trước Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế, và cúi đầu trước Người như Thiên Chúa duy nhất chân thật trên hết mọi thần minh. Thánh Giá trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa cho toàn thế giới, và tất cả những gì ta đã nghe trước đây về Chúa Kitô lịch sử và có tính vũ trụ thì nay, trong đoạn này, một lần nữa lại trở lại với tâm trí ta.
Phụng Vụ Kitô Giáo là một phụng vụ có tính vũ trụ chính là vì nó gập đầu gối trước Chúa chịu đóng đinh và được hiển dương. Đây chính là tâm điểm của nền văn hóa chân chính, nền văn hóa của sự thật. Cử chỉ khiêm cung qua đó ta phủ phục dưới chân Chúa lồng ta vào con đường đích thực dẫn ta tới sự sống của vũ trụ.
Còn nhiều điều ta nên nói thêm. Như, câu truyện cảm động do Eusebius thuật trong cuốn lịch sử Giáo Hội của ngài, được ngài coi như một truyền thống có từ thời Hegesippus thế kỷ thứ hai. Câu truyện này kể rằng Thánh Giacôbê, “em của Chúa”, vị giám mục đầu tiên của Giêrusalem và là “đầu” của Giáo Hội Do Thái theo Kitô Giáo, xem ra có chai ở đầu gối, vì ngài luôn qùy thờ lạy Thiên Chúa và xin ơn tha thứ cho tín hữu của mình (2,23,6). Lại còn câu truyện phát sinh từ lời lẽ các Giáo Phụ Sa Mạc, theo đó, Thiên Chúa buộc ma quỉ phải hiện ra với một người tên Abba Apollo. Quỉ trông đen đúa và xấu xí, với tay chân khẳng khiu đến phát sợ, nhưng điều đáng để ý nhất, hắn không có đầu gối. Việc thiếu khả năng qùy này được coi là chính yếu tính của quỉ.
Nhưng tôi không muốn đi vào chi tiết thêm. Tôi chỉ muốn thêm một nhận xét nữa. Lối diễn tả được Thánh Luca sử dụng để nói về việc qùy gối của các Kitô hữu (theis ta gonata) không hề có trong ngôn ngữ cổ điển của Hy Lạp. Ở đây, ta đang nói đến một hạn từ chuyên biệt có tính Kitô Giáo. Với nhận xét này, các suy tư của ta xoay đủ một vòng từ lúc bắt đầu. Rất có thể qùy gối là một việc xa lạ đối với nền văn hóa hiện đại, vì nền văn hóa này đã quay lưng khỏi đức tin và không còn biết Đấng mà trước mặt Người qùy gối là điều đúng, mà thực ra còn là một cử chỉ cần thiết từ trong nội tại nữa. Nhưng người học biết tin cũng phải học biết qùy, và một đức tin hay một phụng vụ không còn quen thuộc với qùy gối nữa là một đức tin bệnh hoạn ngay trong cốt lõi. Nơi nào đánh mất việc ấy, phải tìm lại cho được, để, trong lời cầu nguyện của ta, ta vẫn còn là người hiệp thông với các tông đồ và các tử đạo, hiệp thông với vũ trụ, và nhất là kết hợp với chính Chúa Giêsu Kitô.
Vu Van An (nguon vietcatholic.org)






