MỚI

09:20
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogCần BiếtTheo đạo đức học có được phép phá thai không? (tt và hết)

Theo đạo đức học có được phép phá thai không? (tt và hết)

Những người bảo vệ sự sống đáp lại rằng: khi tiến hành phá thai trong trường hợp người phụ nữ bị hiếp dâm là ta đã trừng phạt lầm đối tượng. Thủ phạm đáng bị trừng phạt chính là kẻ hiếp dâm và chỉ một mình anh ta mà thôi. Người phụ nữ hoàn toàn vô tội và bào thai cô ta đang mang trong lòng cũng hoàn toàn vô tội. Trừng phạt bất cứ ai trong hai người này thì đều thật là phi luân. Luận chứng khác để ý nhiều hơn đến khía cạnh lợi ích. Giả sử bà mẹ đó là một góa phụ một nách nuôi ba đứa con. Nếu bà chấp nhận mang thai, bà phải gửi ba đứa trẻ vào trại mồ côi. Do đó, bà quyết định phá thai. Những người bảo vệ sự sống khước từ lập luận đó và nhấn mạnh rằng mọi sự sống đều quý giá và không thể đánh đổi ngang bằng với các giá trị đó được, cho dù việc phá thai có vì một ý hướng đúng thế nào cũng đành mặc.

 Phá thai là một quyết định khó khăn đối với một người phụ nữ. Nó gây hậu quả về mặt tinh thần và người nữ phải gánh khả năng không thể sinh con được nữa. Ngày nay, cho dẫu việc phá thai đã bớt nguy hiểm hơn trước đây, thì vẫn có biết bao người phụ nữ phá thai đã phải gánh chịu những nỗi đau kinh khủng và lâu dài trong thân xác và nhất là trong tâm hồn. Phá thai gây ra các biến chứng y học rất trầm trọng. Mặt khác, những nguy hiểm thật sự của việc phá thai rất ít khi được phía các y sĩ thực hiện phá thai tiên báo và giải thích cặn kẽ cho người phụ nữ có ý định phá thai. Cũng phải nhận định rằng: các thống kê về những biến chứng và nguy hiểm của sự phá thai thường được báo cáo không đúng sự thật. Người ta chỉ muốn chạy theo thành tích chỉ tiêu chứ không màng đến thân phận và sinh mạng của thai phụ và thai nhi.

Phải nói rằng phá thai gây ra nỗi đau đớn tột cùng cho bản thân người phụ nữ và cả đối với gia đình của họ. Riêng đối với chính thai nhi bị giết bỏ, các tài liệu sống động quay trực tiếp việc phá thai cho thấy, bản thân cháu bé đáng thương đã phải trải qua những nỗi kinh hoàng và đau đớn trước khi chết. Về phía các nhân viên phá thai, rất nhiều người thú nhận về một nỗi ám ảnh ghê rợn kéo dài trong suốt đời họ, thậm chí gây ra căn bệnh tâm thần điên loạn. Những nghiên cứu đã cho thấy rằng việc phá thai có những ảnh hưởng tai hại ghê gớm về mặt tâm sinh lý nơi người phụ nữ. Ý thức của họ cứ mách bảo rằng họ đã phạm một tội ác không thể tha thứ. Khi tìm đến các cơ sở phá thai hợp pháp, người phụ nữ đã không được cảnh báo trước nguy cơ này. Họ cũng không hề được chuẩn bị trước những hậu quả khôn lường về tâm sinh lý của việc phá thai. Cấm thôi sẽ không giải quyết gì nếu không có cơ chế hợp lý để hỗ trợ. Một khi đã bảo đứa trẻ chưa chào đời chính là con người, thì không phải bàn luận gì thêm nữa, chỉ chừng đó thôi cũng đủ khẳng định chúng phải có quyền được sống như bất kỳ ai, và do vậy, mẹ của chúng không có quyền phá thai, nghĩa là không có quyền giết con của mình. Quyền được sống cũng không phụ thuộc vào tuổi tác, cân nặng hoặc kích thước của đứa trẻ. Bào thai không hề ít quyền được sống hơn bất kỳ một người lớn tuổi nào, kể cả trường hợp đó là người mẹ của nó. Việc so sánh giữa quyền lợi của đứa trẻ và quyền lợi của người mẹ là một sự so sánh khập khiễng, mất cân bằng. Bản chất việc phá thai cho thấy chính người mẹ đã tìm mọi cách để chống lại sự sống của chính đứa trẻ là con của mình.

Việc mang thai không phải là tội lỗi. Xã hội không được quyền lên án hay làm áp lực đối với một người mẹ chưa cưới, và đẩy họ vào chuyện phá thai, ngược lại, phải cảm thông, nâng đỡ và hỗ trợ người phụ nữ đó. Cái sai trái chính là lối sống buông thả, lối sống không được giáo dục tốt về mặt đạo đức, tình dục và tình cảm trai gái trước hôn nhân hoặc ngoài hôn nhân. Việc đã trót có một chọn lựa sai trái là quan hệ tình dục trước hoặc ngoài hôn nhân không thể và không được phép là nguyên nhân đưa tới một chọn lựa sai trái khác kinh khủng hơn, trầm trọng hơn, một tội ác minh nhiên, đó là phá thai, là giết chết một trẻ thơ vô tội.

Trong một số trường hợp hiếm hoi, đành phải chấp nhận phá thai là để cứu lấy mạng sống của người mẹ. Về nguyên tắc luân lý, khi hai mạng sống cùng bị đe dọa tử vong và chỉ có thể cứu một mạng sống mà thôi, thì các bác sĩ bắt buộc phải chọn lựa cứu ngay lấy một trong hai mạng sống đó. Có những trường hợp bắt buộc phải cứu người mẹ, nhưng cũng có nhiều trường hợp có thể chọn lựa một trong hai, thường người mẹ cao cả sẽ sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho con được sống.

Trong thực tế, các chẩn đoán của bác sĩ không phải lúc nào cũng chính xác. Tỷ lệ sai sót và chính xác có khi ngang ngửa nhau. Chính các y bác sĩ có lương tâm nghề nghiệp cũng phải công nhận về mức độ sai lầm nếu quá tin tưởng vào các kết quả của y khoa. Mặt khác, sự dị dạng của đứa trẻ từ trong bào thai thường là rất nhỏ. Và thực tế cho thấy những trẻ bị khuyết tật được sinh ra vẫn thường sống rất hạnh phúc, lạc quan, có nghị lực lạ lùng để vượt qua nghịch cảnh. Đến khi trưởng thành, họ đều bày tỏ niềm hạnh phúc và tự hào vì đã được chính cha mẹ chấp nhận cho chào đời. Thực tế cuộc sống chứng minh, các trẻ bị khuyết tật không phải là những gánh nặng về mặt xã hội, ngược lại, chính họ đã nỗ lực cống hiến cho cộng đồng nhân loại biết bao giá trị quý báu.

Việc phá thai do bị hiếp dâm hay loạn luân cũng là vấn đề đáng được quan tâm. Bởi lẽ, mang thai trong trường hợp này không phải là lỗi của đứa trẻ. Người cố tình gây ra hành vi tồi tệ cho người phụ nữ mới là kẻ có tội cần phải được trừng phạt chứ không phải là đứa trẻ hoàn toàn vô tội và đáng thương. Một đứa trẻ vẫn luôn luôn là một đứa trẻ với đầy đủ phẩm giá làm người, cho dù nó đã được thụ thai trong bất cứ tình huống nào, do bị hiếp dâm hay loạn luân. Mặt khác tính cách bạo động của việc phá thai đối với bản thân người phụ nữ cũng tương đồng với tính cách bạo động và vô luân của việc hiếp dâm mà người ấy đã phải gánh chịu. Việc phá thai không thể nào giúp cho người phụ nữ bị hiếp dâm cảm thấy nguôi ngoai hay tìm lại được bình an trong tâm hồn. Vì thế, ngay cả trong trường hợp đặc biệt này, người ta cũng không nên phá bỏ thai nhi.

Chính những người bảo vệ sự sống lại tích cực năng động rất nhiều trong việc chăm sóc cho các chị em phụ nữ đã trót lỡ lầm chọn giải pháp phá thai hoặc đã được thuyết phục để từ bỏ ý định phá thai. Sự nâng đỡ tinh thần và vật chất của họ đã giúp những người trót phá thai có thể được chữa trị chu đáo về tâm lý và thể lý sau khi phải chịu những hậu quả kinh khủng của việc phá thai. Các nhóm bảo vệ sự sống còn mở ra những ngôi nhà tình thương, những mái ấm tiếp đón, ân cần chăm sóc các bà mẹ “bất đắc dĩ” cho đến khi họ sanh nở, giúp họ vui mừng và hãnh diện nhìn nhận đứa bé chính là đứa con vô giá của họ mà chút nữa họ đã định phá bỏ. Ngược lại, chính các nhân viên tại các cơ sở phá thai và cả những người chủ trương ban hành các chính sách đưa tới phá thai mới là những người thật sự có trách nhiệm trên sinh mạng và đời sống của thai phụ. Họ chỉ cốt thu lợi nhuận và đạt thành tích chỉ tiêu đã được giao phó. Trong thực tế, có các bác sĩ đã từng nhúng tay vào việc phá thai, nhưng sau đó đã nhận ra tính vô luân và hậu quả kinh khủng do việc nạo phá thai để lại, họ đã can đảm nói lên sự thật và cho thấy một sự hối hận ăn năn trong lương tâm. Mặt khác, trong số những phụ nữ đã từng phá thai, nhiều người đã trở thành những người đi tiên phong trong các hoạt động xã hội, ủng hộ việc bảo vệ sự sống, hơn là trở thành những người chủ trương phá thai.[11]

Điều 6 Công ước ICCPR[12] ghi nhận: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”. Như vậy trong tất cả các quyền con người phải khẳng định quyền sống là quyền quan trọng nhất có vai trò tối thượng. Bởi đơn giản khi một con người không có quyền sống thì mọi thứ đối với họ cũng trở nên vô nghĩa. Thế nhưng để nhận thức về cái quyền tối thượng ấy của mình một cách đầy đủ không phải ai cũng có được, thậm chí còn khá nhiều người hiểu theo nghĩa rất hẹp là quyền không bị tước bỏ mạng sống một cách trái luật. Hay nói cách khác, họ hiểu quyền sống là quyền được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe.

Thật không công bằng cho thai nhi, khi người mang thai có trách nhiệm về hành động của mình lại được thêm một cơ hội để vui chơi, trong khi thai nhi không có trách nhiệm gì lại bị tước đoạt cách dã man cơ hội làm người duy nhất của mình. Phá thai là tội ác của ý thức xã hội, điều mà xã hội cũng như luật pháp chấp nhận để tránh cho mình trách nhiệm, những khó khăn khi phải duy trì và tôn vinh ý thức lương tri, điều có thể khiến nhiều người thấy khó chịu trong việc kiếm tìm hoan lạc hư ảo thế trần trong cuộc sống, giảm thiểu đau khổ hay gia tăng hạnh phúc cho người mẹ và gia đình họ. 

Mọi hành động của con người chỉ mang giá trị đích thực khi hành động đó có hiểu biết. Bất cứ việc gì mình làm và biết mình đang làm, dù thời gian biết rất ngắn hoặc thời gian biết rất lâu như hoạch định chương trình đều là hành động trách nhiệm. Nhìn thẳng vào chính hành động xem cả hai việc phá thai và giết người có đủ yếu tố trách nhiệm, và hậu quả của chúng có khác nhau không? Giết người là hành động có suy xét, dù cấp thời hay nghiền ngẫm, để làm lợi cho bản thân bằng cách hủy diệt sự sống của kẻ khác. Phá thai là hành động hủy diệt sự sống của một con người để làm lợi cho bản thân mình dưới bất cứ chiêu bài nào. Như thế, tự bản chất hành động không có sự khác biệt về trách nhiệm và hậu quả, nên phải được coi là cùng một hành động có yếu tố trách nhiệm. 

Phá thai nhằm chữa bệnh thì rất khác với cái gọi là sự báo hiệu về gien. Trong trường hợp này, phôi thai chứ không phải bà mẹ mới là bệnh nhân. Mà giết bệnh nhân thì còn đâu gọi là chữa bệnh nữa. Có ý kiến biện minh cho việc lấy đi cái phôi chắc chắn không thể tồn tại khi sử dụng biện pháp đó để bảo vệ bà mẹ khỏi mối hiểm nghèo. Điều này cũng có thể tạm chấp nhận được. Chẳng hạn như, một phôi thai bị viêm não thì không chỉ không thể phát triển thành một đời sống con người có ý thức mà ngay cả việc tồn tại cũng không thể. Tách bỏ nó đi để ngăn ngừa bà mẹ khỏi bị hiểm nghèo thì thật sự là biện pháp chữa trị, dù không phải là không có bất công với sự sống của bào thai đã bị kết án tử. 

Nếu chưa thể nào chắc chắn được khi nào sự sống được bắt đầu, thí ích lợi của sự nghi ngờ đó phải nên hướng tới việc bảo tồn sự sống. Các sách vở về y khoa và các công trình nghiên cứu khoa học liên tục đồng ý rằng mạng sống con người được khởi đầu ngay từ lúc thụ thai. “Bào thai (fetus) chỉ là một phần thân thể của người phụ nữ mang thai mà thôi, cũng giống như cục a-mi-dan (tonsils) hay ruột thừa (appendix) của họ vậy. Đứa trẻ có thể chết đi và người mẹ thì vẫn còn sống, hay ngược lại, đều đó chứng tỏ rằng cả hai đều là những cá nhân riêng lẻ. Đứa trẻ chưa chào đời có vai trò tích cực trong sự phát triển của trẻ, trẻ điều khiển tiến trình mang thai và thời gian trẻ được sinh ra. Việc ở trong một cái gì đó hoàn toàn khác với việc là một phần của cái gì đó. Con người không nên bị kỳ thị vì chỗ cư trú hay ẩn náu của họ. “Trẻ thơ chưa được sinh ra chính là một phôi thai (embryo) hay một bào thai (fetus), chẳng khác nào một giọt nước của mô (blob of tissue), tức là một sản phẩm của sự thụ thai chứ không phải là một đứa trẻ. Phá thai chính là việc chấm dứt đi một thai kỳ, chứ không phải giết chết đi một đứa trẻ. Xét về mặt ngữ nghĩa học, một đứa trẻ chính là một đứa trẻ cho dẫu chúng ta có gọi là gì đi chăng nữa. Kể từ lúc thụ thai, trẻ chưa được sinh ra không phải là một cơ thể giản đơn, mà đó là một cơ thể rất phức tạp. Trước 3 tháng thai kỳ đầu tiên, trẻ chưa được sinh ra đã có các phần thân thể như là trẻ sẽ từng có. Mỗi lần phá thai chính là việc chấm dứt đi một trái tim đang đập và làm chấm dứt luôn cả những làn sóng đo lường được của bộ não. Ngay trong giai đoạn phẫu thuật phá thai sớm nhất, trẻ chưa được sinh ra nhưng đã có hình dạng của một con người. Thậm chí trước khi trẻ thơ chưa được sinh ra có hình dạng rõ ràng là một con người, thì trẻ vẫn đã là một con người. Cho dẫu là việc lý luận hay đến mấy, thì việc chấm dứt đi một thai kỳ cũng chính là việc chấm dứt đi một sự sống.

Lý luận “Trẻ chưa được sinh ra không phải là một con người, với cuộc sống đầy đủ và trọn vẹn. Kích thước của nó chỉ có vài inch, và thậm chí nó không thể suy nghĩ được; nó chỉ có tiến bộ chút ít so với một con vật mà thôi” cần phải được cân nhắc. Liệu có người nào đó dám nói rằng con người có nhiều quyền sống hơn là các con vật không ?” Đặc tính hay bản thể con người không phải là vấn đề về kích thước, về kỹ xảo (skill), hay mức độ thông minh. Nếu giá trị của trẻ chưa được chào đời có thể đem ra so sánh với giá trị của một con vật, thì không còn lý do nào mà không thể so sánh luôn giá trị của người đã được sinh ra rồi với các con vật. Thậm chí nếu có ai đó tin rằng con người không thể nào tốt hơn các con vật, thì tại sao họ lại ghê tởm (abhor) việc giết đi các con vật còn sơ sinh, trong khi đó lại đi hô hào việc giết chết đi các trẻ thơ chưa được chào đời? Thật là nguy hiểm khi một người nào đó có quyền để tự do quyết định rằng mạng sống của những người này hay những người khác thì có ý nghĩa và mạnh mẽ hơn những người khác, hay tự mình có quyền sinh sát người khác. Những lý luận chống lại đặc tính hay bản thể con người của trẻ thơ chưa được chào đời bị che khuất bởi lối giải thích duy lý và phủ nhận (rationalization anddenial) mà thôi.

Ngược lại, những người ủng hộ sự sống nêu quan điểm ủng hộ quyền của chính phủ trong việc bảo tồn mọi sinh mạng của con người, bất kể mục đích, tính khả thi hay chất lượng cuộc sống tương lai của người đó ra sao. Với lập luận sự sống bắt đầu từ khi tinh trùng gặp trứng, hay tim thai xuất hiện từ tuần thứ ba, thai nhi đã trở thành một con người với chân và tay ở cuối tháng thứ ba khi người ta thường tiến hành phá thai; và rằng khi mang thai, đó không chỉ còn là cơ thể của người mẹ mà còn là của đứa bé. Không ai lại có quyền phá hủy cơ thể của người khác thành nhiều mảnh. Con người ngày nay luôn luôn dùng nguyên nhân và hoàn cảnh để biện minh cho hành động tội ác như giết người. Thiết nghĩ, tội ác tự nó vẫn là tội ác đáng phải tránh xa và trách phạt, còn nguyên nhân và hoàn cảnh của tội ác phải bị tẩy trừ và được thay thế bằng những nguyên nhân và hoàn cảnh khiến con người thi hành việc thiện.

Các quy tắc cụ thể cần, song không đủ để lấy một quyết định có tính cách đạo đức vì mỗi hoàn cảnh đặc biệt, nó có thể có những ngóc ngách làm cho lương tâm sai lầm. Cần phối hiệp ba nguyên tắc sau: lấy con người làm cứu cánh, tuân theo luật xã hội và phải hành động theo lương tâm. Lương tâm cấm thì không được làm, lương tâm dạy thì có thể theo. Nếu chỉ giữ nguyên tắc một thì sẽ rơi vào một thức đạo đức không tưởng quá lý tưởng, trừu tượng, không thực tiễn, không giúp giải quyết các vấn đề cụ thể. Nếu chỉ giữ nguyên tắc hai thì có thể rơi vào một thứ đạo đức vụ luật, sống theo tập tục truyền thống không đếm xỉa tới các thay đổi hay tính phức tạp của hoàn cảnh. Nếu chỉ giữ nguyên tắc ba thì có thể rơi vào một thứ đạo đức cá nhân chủ nghĩa. Một sự kiện chỉ có giá trị quy chiếu nếu nó giúp tôn trọng con người, đề cao các giá trị căn bản của con người. Có luật trừ nào cho phá thai hay không? Theo Kant kiên quyết là không. Nếu với những thai phụ tuổi đời còn quá trẻ khi sinh con sẽ gây tổn hại đến sức khỏe thậm chí tính mạng người mẹ. Trường hợp vì cứu người mẹ mà phải bỏ đi dừa bé thì làm như thế nào. Vậy trừ trường hợp bất khả kháng vì cứu người mẹ mà phải bỏ đứa con mới được chấp nhận ngoài ra thì không.

Như thế, xét trên tất cả các phương diện và soi chiếu vấn đề dưới nhiều góc cạnh khác nhau, phá thai vẫn là hành vi đáng bị lên án và bảo vệ sự sống vẫn được xem là điều hợp đạo đức và mang lại nhiều lợi ích cho con người và xã hội hơn cả. Bởi lẽ suy cho cùng, dù cho thế nào thì đạo đức học chân chính vẫn phải đẩy con người phải quyết định để dẫn đến một hành động cụ thể trong đời sống, chứ không chỉ dừng lại ở tranh luận. Giáo hội Công giáo không chấp nhận phá thai vì bất kì lý do nào trừ trường hợp thai nhi bị chết là hậu quả của việc chữa trị để cứu sống người mẹ. 

III. Kết Luận

Như thế, xét trên phương diện đạo đức học, không có quan niệm nào, không triết thuyết được coi là giải quyết vấn đề một cách tận căn, khách quan, hoàn toàn đúng đắn khi giải quyết vấn nạn phá thai. Phá thai hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đa dạng khác nhau chứ không chỉ xét trên một vài khía cạnh đơn thuần. Vì đứa trẻ từ khi là thai nhi đã là con người, và phải được bảo vệ như người đã sinh ra. Trừ khi nào có ai đó chứng minh rằng đứa trẻ không phải là con người, thì quan điểm sẽ khác. Giáo hội Công giáo không chấp nhận phái thai vì bất cứ lý do nào ngoại trừ trường hợp thai nhi bị chết do việc điều trị để cứu sống người mẹ. Vấn đề phá thai chưa bao giờ khép lại, nhưng luôn còn đó những tranh luận, những bất đồng qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, dù cho nhìn vấn đề dưới lăng kính nào, người viết luôn nhận thấy còn nhiều thiếu sót và hy vọng sẽ được tiếp tục nghiên cứu sâu rộng về vấn đề này.


[1] Cf. Trần Như Ý Lan, Người Công giáo trước một số vấn đề y sinh học và tính dục, Nhà Xuất Bản Tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr.34.
[2] Ibid., tr.34-39.
[3] Cf. Các lý thuyết Nữ quyền và hệ quả trong bối cảnh ngày nay, Nguyễn Thị Thùy Dương, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, 2 (2005), ĐHKHXH&NV Hà Nội, tr. 32.
[4] Cf. J. Tân Nguyễn, Đạo đức học tổng quát, NXB Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 117-126.
[5] Cf. Chủ nghĩa vị lợi nhìn từ góc độ đạo đức học, Đỗ Minh Hợp, Tạp chí Khoa học ĐHKHXH&NV 26 (2010), tr. 155.
[6] ABORTION trong WHERE DO YOU STAND ? của GREGORY C. HIGGINS.
NHT dịch Trích từ Ephata Việt Nam số 15, năm 2001.
[7] Cf. Nhân phẩm trong tư trưởng Kant và Gioan Phaolo II, Lm. Nguyễn Hữu Thy, http://catechesis.net, truy cập ngày 07.05.2018.
[8] Cf. Ts Vũ Văn Dũng, Phẩm giá con người trong triết học Kanthttp://www.simonhoadalat.com, truy cập ngày 07.05.2018.
[9] Emmanuel Kant, Nền tảng siêu hình của các tập quán (1785), bản dịch Tiếng Pháp, Tuyển tập các tác phẩm triết học, NXB De La Pleiade, Tập II, 1984, tr. 295.
[10] Siêu hình về các phong tục và xung đột các năng lực (1976), II, Tủ sách Triết học về đức hạnh, Bản dịch Tiếng Pháp của Joelle Masson và Olivier Masson, Tuyển tập tác phẩm, 38, tr. 758-759.
[11] 35 kiểu lý luận của phe ủng hộ phá thai và cách phản bác lại, http://baovesusong-chongphathai.blogspot.com. Bản dịch của ANTHONY LÊ, VietCatholic, Ephata biên tập, truy cập ngày 02.05.2018.
[12] Công ước ICCPR là Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị, 1966 (Được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Công ước này có hiệu lực ngày 23/3/1976, căn cứ theo điều 49. Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982).

 Tâm Thành

Chia sẻ MXH:
CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031