MỚI

03:32
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong

THƯ PLACUIT DEO (1)

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

THƯ PLACUIT DEO

KÍNH GỬI CÁC GIÁM MỤC CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA ƠN CỨU ĐỘ KI-TÔ GIÁO

I.              Dẫn nhập

1. “Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết thiên ý nhiệm mầu (x. Ep 1,9), nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 P 1,4). Chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Ki-tô, Đấng vừa là trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải”.[1] Giáo huấn về ơn cứu độ trong Đức Ki-tô phải luôn được đào sâu. Kiên định nhìn về Chúa Giê-su, Giáo hội hướng tới mọi người với lòng từ mẫu, để loan báo cho họ ý định Giao ước của Chúa Cha, nhờ Chúa Thánh Thần, “nhằm quy tụ mọi sự trong Đức Ki-tô, thủ lãnh duy nhất” (Ep 1,10). Trong ánh sáng của truyền thống đức tin vĩ đại, cùng với sự tham chiếu đặc biệt vào những lời giảng dạy của Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, lá thư này muốn làm sáng tỏ một vài khía cạnh của ơn cứu độ Ki-tô giáo có thể khó hiểu trong thời đại hôm nay, vì những biến đổi văn hóa mới mẻ.

II.          Tác động của những biến đổi văn hoá hiện nay trên ý nghĩa của ơn cứu độ Ki-tô giáo

2. Thế giới ngày nay thật khó thông hiểu việc tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo vốn công bố Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ duy nhất của con người toàn vẹn và của toàn thể nhân loại (x. Cv 4,12; Rm 3,23-24; 1 Tm 2,4-5; Tt 2,11-15).[2] Một mặt, chủ nghĩa cá nhân tập trung vào chủ thể tự quản muốn nhìn con người như một hữu thể mà sự thành toàn duy nhất của bản thân chỉ tuỳ thuộc vào sức riêng mình.[3] Trong cách nhìn này, khuôn mặt Đức Ki-tô xuất hiện như một mẫu gương gợi hứng cho những hành động quảng đại nhờ lời nói và nghĩa cử của Người, hơn là Đấng biến đổi thân phận con người, bằng cách tháp nhập chúng ta vào đời sống mới, giao hòa chúng ta với Chúa Cha và với nhau, trong Thánh Thần (x. 2 Cr 5,19; Ep 2,18). Mặt khác, cái nhìn về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm đang trở thành phổ biến. Được biểu hiện bằng một xác tín hoặc sự cảm nhận cá nhân mãnh liệt được hợp nhất với Thiên Chúa, lối nhìn này không thấy cần thiết phải đảm nhận, chữa lành và làm mới lại các mối tương quan của chúng ta với tha nhân và với thế giới thụ tạo. Trong viễn cảnh này, thật khó để hiểu ý nghĩa việc Nhập Thể của Ngôi Lời, nhờ đó Người đã trở nên một thành viên của gia đình nhân loại, mặc lấy xác phàm và lịch sử của chúng ta, vì chúng ta và ơn cứu độ của chúng ta.

3. Trong giáo huấn thông thường của mình, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô thường nhắc đến hai khuynh hướng được mô tả ở trên. Hai khuynh hướng này giống với một vài khía cạnh của hai lạc thuyết cổ xưa, thuyết Pê-la-gi-ô và thuyết Ngộ đạo.[4] Một hình thái mới của thuyết Pê-la-gi-ô đang được truyền bá trong thời đại chúng ta, theo đó cá nhân được hiểu là tự quản triệt để, có tham vọng tự cứu lấy chính mình mà không nhận thức rằng, ở tận thẳm sâu nhất của chính mình, cá nhân ấy tuỳ thuộc vào Thiên Chúa và tha nhân. Theo lối suy tư này, ơn cứu độ tuỳ thuộc vào sức riêng của cá nhân, hoặc vào những cơ cấu thuần tuý nhân loại, không có khả năng tiếp nhận tính mới mẻ của Thần Khí Thiên Chúa.[5] Mặt khác, một hình thái mới của thuyết Ngộ đạo trình bày một khuôn mẫu về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm, đóng kín trong thuyết duy chủ thể của riêng mình.[6] Theo khuôn mẫu này, ơn cứu độ hệ tại việc tự hoàn thiện bản thân, “nhờ tri thức, có khả năng vượt lên trên thân xác Chúa Giê-su, đạt tới những mầu nhiệm thần tính vô danh.[7] Khuôn mẫu này muốn giải thoát con người khỏi thân xác và vũ trụ vật chất, trong đó những dấu vết bàn tay quan phòng của Đấng Tạo Hóa không còn tìm thấy, nhưng chỉ có một thực tại mất hết ý nghĩa, xa lạ với căn tính nền tảng của con người, và dễ bị thao túng bởi những lợi lộc của con người.[8] Rõ ràng, việc so sánh với những lạc thuyết Pê-la-gi-ô và Ngộ đạo chỉ muốn nhắc lại những nét đặc trưng chung và tổng quát, mà không đi vào những đánh giá về bản chất đích thật của những sai lầm thời cổ xưa. Có một sự khác biệt lớn lao giữa xã hội tục hóa hiện đại và bối cảnh xã hội của Ki-tô giáo buổi ban đầu, trong đó hai lạc thuyết này phát sinh.[9] Tuy nhiên, trong mức độ thuyết Ngộ đạo và thuyết Pê-la-gi-ô tiêu biểu cho những nguy hại dai dẳng vì hiểu sai đức tin Kinh Thánh, [chúng ta] có thể tìm thấy những điểm tương đồng giữa những lạc thuyết cổ xưa và những khuynh hướng hiện đại vừa được mô tả.

4. Cả chủ nghĩa cá nhân tân Pê-la-gi-ô lẫn thái độ khinh thị thân xác tân Ngộ đạo đều gây tổn hại cho việc tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát. Làm thế nào Đức Ki-tô có thể trở nên trung gian Giao ước của toàn thể gia đình nhân loại, nếu các nhân vị bị tách biệt thành những cá thể, tự thành toàn bản thân bằng những nỗ lực của riêng mình, như thuyết tân Pê-la-gi-ô đề xướng? Cũng vậy, làm sao ơn cứu độ có thể đến với chúng ta, nhờ việc Nhập Thể của Chúa Giê-su, [nghĩa là] đời sống, cái chết và sự Phục Sinh trong thân thể đích thật của Người, nếu hiểu ơn cứu độ chỉ là sự giải thoát thực tại nội tâm của con người khỏi những giới hạn của thân xác và vật chất, như lối nhìn tân Ngộ đạo mô tả? Đối diện với hai khuynh hướng này, lá thư hiện hành muốn khẳng định lại rằng ơn cứu độ hệ tại việc kết hợp với Đức Ki-tô, là Đấng mà nhờ việc Nhập Thể, cái Chết và sự Phục Sinh của Người, đã mang đến một thể thức tương quan mới mẻ với Chúa Cha và giữa con người với nhau, dẫn chúng ta vào trong những mối tương quan này, nhờ hồng ân Thánh Thần, để chúng ta có thể kết hợp với Chúa Cha như những người con trong Người Con, và trở nên một thân thể trong Đấng là “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).

III.       Con người khát khao ơn cứu độ

5. Cách trực tiếp hoặc gián tiếp, con người nhận biết chính mình như một mầu nhiệm: “Tôi là ai? Tôi hiện hữu, nhưng không có nguyên lý hiện hữu của chính mình nơi bản thân”. Mỗi người đều tìm kiếm hạnh phúc theo cách thức của riêng mình, và cố gắng để đạt được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào những phương thế sẵn có. Tuy nhiên, niềm khát vọng phổ quát này không nhất thiết được biểu lộ hay tỏ bày; đúng hơn, niềm khát vọng ấy thường là bí mật và được ẩn giấu hơn là được tỏ bày, và niềm khát vọng ấy sẵn sàng tỏ hiện chính mình khi gặp phải những khủng hoảng đặc biệt. Thông thường, niềm khát vọng này trùng hợp với ước vọng về sức khoẻ thể lý; đôi khi, khát vọng mặc lấy hình thức lo toan cho phúc lợi kinh tế lớn lao hơn; nhưng cách phổ biến, khát vọng ấy tự biểu lộ như nhu cầu an bình nội tâm và đời sống chung hòa bình với tha nhân. Mặt khác, công cuộc tìm kiếm ơn cứu độ, tự tỏ bày như niềm khát vọng điều thiện hảo lớn lao hơn, vẫn duy trì nghị lực phản kháng và vượt thắng đau khổ. Đi đôi với cuộc chiến đấu tìm kiếm sự thiện là cuộc chiến đấu chống lại sự ác: ngu dốt và lầm lỗi, mong manh và yếu đuối, bệnh tật và chết chóc.

6. Lưu tâm đến những khát vọng này, và bác bỏ mọi tham vọng tự thành toàn, niềm tin vào Đức Ki-tô dạy rằng những khát vọng này chỉ có thể được thành toàn cách trọn vẹn nếu chính Thiên Chúa làm cho chúng nên khả thể, bằng cách lôi cuốn chúng ta đến với Ngài. Ơn cứu độ con người toàn vẹn không hệ tại những gì con người có thể đạt được nhờ sức riêng mình, như tài sản, phúc lợi vật chất, kiến thức hoặc tài năng, quyền lực hoặc sức ảnh hưởng trên người khác, thanh danh hoặc sự tự mãn.[10] Chẳng có loài thụ tạo nào có thể làm chúng ta thoả mãn trọn vẹn, vì Thiên Chúa đã định phần cho chúng ta được hiệp thông với Ngài, và lòng chúng ta sẽ chỉ được yên nghỉ khi nghỉ yên trong Ngài.[11] “Thật vậy, ơn gọi chung cuộc của con người là duy nhất và thần linh”.[12] Như thế, Mặc Khải không tự giới hạn vào việc loan báo ơn cứu độ được hiểu như đáp số cho bất kỳ ước muốn đặc thù nào của thời đại. “Trái lại, nếu ơn cứu độ được đánh giá hay đo lường theo những nhu cầu hiện sinh của con người, làm sao chúng ta không thể hoài nghi việc chỉ tạo ra một Thiên Chúa – Đấng Cứu Độ theo những nhu cầu của chính chúng ta?”[13]

7. Cũng phải khẳng định rằng, theo niềm tin Kinh Thánh, nguồn gốc của sự ác không tìm thấy được trong thế giới vật chất hữu hình, được trải nghiệm như một giới hạn hoặc một ngục tù, khiến chúng ta muốn được giải thoát khỏi thế giới ấy. Trái lại, niềm tin Kinh Thánh công bố rằng toàn thể vũ trụ đều tốt lành vì đã được Thiên Chúa sáng tạo (x. St 1,31; Kn 1,13-14; 1 Tm 4,4), rằng sự ác nguy hại nhất đối với con người là sự ác xuất phát từ lòng người (x. Mt 15,18-19; St 3,1-19). Khi phạm tội, con người đã ruồng bỏ nguồn suối tình yêu, và tự đánh mất bản thân trong những hình thức yêu thương lệch lạc, nhốt kín con người hơn trong chính bản thân mình. Chính việc xa lìa Thiên Chúa, Đấng là nguồn suối của sự hiệp thông và sự sống, đã làm mất đi sự hài hoà giữa con người với nhau và giữa nhân loại với thế giới, dẫn đến tình trạng thống trị của sự hự mất và sự chết (x. Rm 5,12). Vì thế, ơn cứu độ mà đức tin loan báo cho chúng ta không chỉ liên quan đến thực tại nội tâm của chúng ta, nhưng toàn vẹn hữu thể chúng ta. Thật vậy, con người toàn vẹn, thân xác và linh hồn, đã được tình yêu Thiên Chúa tạo dựng, theo hình ảnh và giống như Ngài, được mời gọi sống hiệp thông với Ngài.


[1] Công đồng Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý về Mặc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.

[2] X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (ngày 06 tháng 8 năm 2000), 5-8: AAS 92 (2000), 745-749.

[3] X. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Tông huấn Evangelii gaudium (ngày 24 tháng 11 năm 2013), 67: AAS 105 (2013), 1048.

[4] X. Id., Thông điệp Lumen fidei (ngày 29 tháng 6 năm 2013), 47: AAS 105 (2013), 586-587; Tông huấn Evangelii gaudium, 93-94: AAS (2013), 1059; Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1287.

[5] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1288.

[6] X. Id., Tông huấn Evangelii gaudium, 94: AAS 105 (2013), 1059: “sự hấp dẫn của thuyết Ngộ đạo, một đức tin hoàn toàn chủ quan, chỉ bận tâm đến kinh nghiệm nào đó hoặc một tập hợp các ý tưởng và những mẩu kiến thức được cho là có khả năng an ủi và soi sáng, nhưng chung cuộc chỉ giam hãm con người trong những tư tưởng và tình cảm của riêng mình”; Hội đồng Giáo Hoàng về Văn Hoá-Hội đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, Đức Giê-su Ki-tô Đấng mang nước hằng sống. Một suy tư Ki-tô giáo về trào lưu “Thời Đại Mới” (tháng 01 năm 2003), Thành phố Vatican, 2003. 

[7] Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Thông điệp Lumen fidei, 47: AAS 105 (2013), 586-587.

[8] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên cuộc hành hương của Giáo phận Brescia (ngày 22 tháng 6 năm 2013): AAS 95 (2013), 627: “trong thế giới này, nơi người ta chối bỏ con người, nơi người ta thích đi theo đường lối của Ngộ đạo, […] của “không thân xác” – một Thiên Chúa đã không mặc lấy xác phàm […]”.

[9] Theo lạc thuyết Pê-la-gi-ô, được phát triển vào thế kỷ thứ năm quanh Pê-la-gi-ô, để chu toàn những giới luật của Thiên Chúa và để được cứu độ, con người chỉ cần đến ân sủng như một sự trợ giúp từ bên ngoài cho tự do của mình (như ánh sáng, sức mạnh chẳng hạn), chứ không như một sự chữa lành và tái tạo tận căn tự do, không cần công trạng đi trước, cho đến khi con người có thể làm điều thiện và đạt đến sự sống vĩnh cửu. Nổi lên vào thế kỷ thứ nhất và thứ hai, phong trào Ngộ đạo còn phức tạp hơn với những hình thức khác nhau. Cách chung, những người theo thuyết Ngộ đạo tin rằng ơn cứu độ đạt được nhờ một tri thức bí nhiệm hoặc sự Ngộ đạo. Sự Ngộ đạo này tỏ lộ cho người Ngộ đạo biết được bản thể đích thật của họ, nói cách khác, một tia sáng của Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ ở nội tâm họ. Tia sáng này phải được giải thoát khỏi thân xác, vốn xa lạ với nhân tính chân thật của họ. Duy chỉ bằng cách này, người Ngộ đạo trở về với hữu thể nguyên tuyền của họ trong Thiên Chúa, Đấng họ đã lìa xa vì sự sa ngã nguyên thuỷ.

[10] X. Tô-ma A-qui-nô, Summa theologiae, I-II, q.2.

[11] X. Âu-tinh, Tự thuật, I, 1: Corpus Christianorum, 27, 1.

[12] Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, 22.

[13] Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, Những câu hỏi chọn lọc liên quan đến thần học về Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ (1995), 2.

Chia sẻ MXH:

CÁC NỘI DUNG KHÁC

CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031