Những người phản đối cho rằng phôi thai là “một con người tiềm năng”. Nếu được sinh ra, phôi có thể phát triển thành những con người bình thường đầy đủ ý chí, có thể tài giỏi như Beethoven hoặc Einstein. Hơn nữa, nếu lấy lý do là phôi thai chưa có ý thức về cái tôi của mình để loại bỏ thì cũng đồng nghĩa với việc giết trẻ sơ sinh. Theo nghiên cứu, trẻ em chỉ tự ý thức về bản thân mình, biết mình là ai khi lên đến tầm hai hoặc ba tuổi. Như vậy, nếu lý do này được dùng để biện minh cho việc phá thai thì cũng được dùng để biện minh cho việc giết trẻ sơ sinh dưới ba tuổi, như vậy là phạm tội giết người, cũng giống như giết người đã trưởng thành.
Phá thai để tránh cho đứa bé khỏi phải đau khổ trong tương lai. Trong trường hợp này, người ta được yêu cầu xem xét trường hợp một đứa bé sinh ra trong cảnh nghèo đói khổ sở. Nếu chắc chắn đứa bé sẽ phải chịu cảnh đói khát hoặc thiếu sự chăm sóc sức khỏe, thì về mặt luân lý, một số người đồng ý cho phép phá thai, nhưng thực tế không hẳn như vậy. Một số quốc gia đã thông qua những luật lệ rộng rãi về phá thai, nhằm giải phóng người phụ nữ. Hậu quả gia đình bị lung lay tận gốc và xã hội bị đe dọa. Ai cũng biết các nước Âu châu dân số ngày một giảm, với các tiến bộ y khoa người ta sống lâu hơn nên người già ngày càng nhiều mà người trẻ thì ít, để có nhân công phải cho người nước ngoài nhập cư, người ta có thể thấy được những vấn đề đặt ra.
2.4. Kant và sự tôn trọng sự sống con người
Một quan niệm về nhân phẩm như vừa được đề cập tới – nếu người ta thực sự muốn đề cập một cách nghiêm túc ở đây tới nhân phẩm sẽ không chỉ loại bỏ các khái niệm thuần túy tín ngưỡng mà còn loại bỏ cả sự đòi hỏi về tính tuyệt đối và tính bất khả nhượng, về đạo đức tính đặc biệt và về trách nhiệm cực kỳ nghiêm trọng của phẩm giá con người. Nếu được hiểu như thế, thì nhân phẩm mới thực sự có một chỗ đứng trong khuôn khổ trật tự của luật pháp, hay nói cách khác, thì phẩm giá con người mới thực sự được biện minh như là một khái niệm độc lập và có khả năng giải phóng con người ra khỏi cơ cấu nhằm mưu cầu lợi ích của xã hội nhân loại, dù là lợi ích chính trị hay kinh tế. Nhưng đó là điều khả dĩ, chỉ khi nào ý niệm về nhân phẩm, dù xuất phát từ ảnh hưởng tín ngưỡng hay xã hội thế tục, loại bỏ được phạm vi do các qui luật điều hợp và hướng tới phạm vi siêu việt, một phạm vi vượt khỏi tầm tay khả năng tiếp cận tùy tiện của con người. Chính phạm vi siêu việt này phải đối mặt với hai khuynh hướng triết học: Hay nói cách khác, hoặc: nhân phẩm mang tính chất tuyệt đối và bất khả nhượng, hoặc: ý niệm nhân phẩm chỉ là một khái niệm của lý trí thuần túy và là một danh từ trống rỗng, vô nghĩa.
Con người tự bản chất là mục đích, con người là mục đích tự nội. Trong khi đó, ngược lại, nếu bất cứ ở đâu con người bị lợi dụng như phương tiện thuần túy, dù cho một mục đích cao thượng nào đó, thì lập tức nhân phẩm của họ bị xúc phạm trắng trợn. Đây là sự xác tín được tất cả mọi luật pháp các nhà nước đều ghi nhận ngay từ trang đầu. Phẩm giá con người bị xúc phạm khi chính con người cụ thể bị hạ thấp xuống hàng đối tượng, bị sử dụng như một phương tiện thuần túy, như một giá trị có thể thay thế được. Kant còn xác quyết cách rõ ràng hơn: “Trong thế giới của những mục đích, tất cả đều: hoặc có một cái giá nào đó hoặc có một phẩm giá. Một cái gì đó có được một cái giá, thì người ta cũng có thể thay thế vào đó một giá trị khác tương đương. Ngược lại, khi một cái gì đó chứa đựng một giá trị cao quý vượt lên trên tất cả mọi giá trị, thì người ta không thể thay thế vào vị trí của nó bất cứ một cái gì khác có giá trị tương đương được, và cái giá trị cao quý vượt trên mọi giá trị cao quý khác, đó chính là nhân phẩm, là phẩm giá con người”.
Chính con người là một hữu thể với một phẩm giá nội tại, một hữu thể có khả năng đặt ra những mục đích và tự vươn mình lên thành mục đích. Ở đây Kant muốn nói đến “nhân tính” mà mỗi người đều chiếm hữu. Luật luân lý là nhịp cầu nối kết con người với xã hội đồng loại của mình.[7] Trong những tác phẩm triết học của Kant, ông luôn đề cao phẩm giá con người trong vấn đề sinh hoạt đạo đức của mình. Kant tố cáo tất cả những chủ trương đạo đức lấy đi tư lợi hay hạnh phúc làm tiêu chuẩn hành động[8]. Kant là một trong những nhà sáng lập quan trọng nhất của học thuyết triết học về quyền cơ bản và ông đặt học thuyết này trong mối quan hệ với tính bất khả xâm phạm của nhân phẩm con người. Theo Kant, mệnh lệnh thực tiễn là những “hành động tới mức anh đối xử với con người cũng như đối với bản thân anh và mọi cá nhân khác, luôn cùng lúc, giống như một mục tiêu chứ không bao giờ là một phương tiện”[9]. Kant còn đi xa hơn khi khẳng định: “Bản thân con người chính là nhân phẩm, thực tế con người không thể bị sử dụng bởi một ai đó đơn giản như một phương tiện, mà phải luôn được đối xử như một mục tiêu, và bằng cái đó mà tạo nên nhân phẩm con người, nhờ đó con người vượt cao hơn tất cả các bản thể khác trên thế gian”[10].
Theo Kant con người có giá hơn mọi giá trị. Ông ý thức rằng con người không thể thay thế như một đồ vật. Chẳng hạn một cái xe bị mất chúng ta có thể thay mới nhưng một đứa trẻ trong gia đình mất đi thì không có gì có thể bù lại được. Không thể dùng con người như phương tiện để đạt mục đích. Do đó theo Kant, dù bất cứ lý do gì cũng không được phép phá thai.
3. Phê bình, nhận định
Trong mọi chiều hướng suy tư của nhân loại từ khi con người xuất hiện đến nay đều chứa đựng những cố gắng để bảo toàn, phát huy và thăng tiến cá nhân, gia đình, tộc họ, dòng giống. Ðiều này chứng minh một thực trạng rất tự nhiên, rất con người là sự sống cá nhân đã được trân qúi và bảo vệ với bất cứ giá nào từ thuở xa xưa mà chưa cần kể tới những ràng buộc tâm linh hay những luật lệ tôn giáo. Người ta có thể lập luận: Không có hoàn cảnh chung, chỉ có hoàn cảnh riêng, mỗi người sẽ tùy nghi xử thế, nhưng nếu không có nguyên tắc chung, người ta sẽ đi tới chỗ tùy tiện.
Một quốc gia có thể nhắm đến ý nghĩa nào khi tuyên bố phá thai là một vấn đề riêng tư, hoặc thậm chí là quyền của công dân nước mình. Lại chẳng phải là chức năng hàng đầu của chính phủ và xã hội đó là bảo vệ mọi người được hưởng quyền cơ bản được sống và phát triển và trên hết, đó là bảo vệ những người yếu ớt nhất đó hay sao? Một quyết định cá nhân muốn phá thai trong một hoàn cảnh phức tạp và đầy lo âu thì đó là một sự việc bi thảm, song quyết định biến việc phá thai thành một phần kế hoạch nền tảng của con người, lại còn là một quyền được bảo đảm của mọi công dân, thậm chí còn được nâng đỡ bởi ngành y và các thứ thuế chung, thì điều này làm cho mọi tương quan của con người thay đổi.
Lập trường bảo vệ sự sống cho rằng: Sự sống hay thể trạng người đã bắt đầu ngay từ lúc thụ thai. Trực tiếp cướp đi mạng sống của một con người vô tội luôn luôn là điều sai trái. Ngay từ giây phút thụ thai đã có sự sống của một người vô tội. Do đó, phá thai trực tiếp thì luôn luôn là điều phi luân. Nhưng chắc chắn mỗi phụ nữ bỏ thai đều trải qua tột cùng đau đớn dằn vặt tinh thần và thể xác. Việc họ quyết định bỏ hay không bỏ, những người ngoài cuộc không thể hoặc không nên đánh giá, quan trọng là họ hiểu, chia sẻ và thông cảm hay không. Các định kiến xã hội cũng như cảm tính cá nhân có khi lại chính là nguyên nhân gây ra tổn thương, nhiều hơn quyết định bỏ hay không bỏ thai.
Người ta biết rằng 50% phôi do thụ thai bình thường, sẽ bị tống ra ngoài cách tự nhiên. Không phải vì thế mà người ta có quyền trục các thai hay phôi có tật hay hủy bỏ các phôi đông lạnh, viện lẽ bắt chước thiên nhiên. Khoa học chỉ có thể mô tả lại diễn tiến quá trình làm người, khoa học không đề cập tới vấn đề giá trị vì ngoài thẩm quyền, nhưng khoa học lại tối quan trọng để có thể có một quan niệm đầy đủ về con người. Tuy nhiên, khoa học có thể nói khi nào tế bào phân đôi, phân tư, giai đoạn thành phôi, ngày thứ mấy tim đập, phổi thở, óc hoạt động như thế nào, nhưng không bao giờ khoa học có thể nói được lúc này cái phôi là một con người cần được tôn trọng. Đó không phải là lãnh vực của khoa học, đó là lãnh vực của đạo đức học và siêu hình học.
Nhiều người lên tiếng bảo vệ sự sống và muốn làm rõ cuộc tranh cãi về “phẩm tính sự sống”. Một khi đã cho phép phá thai, chẳng hạn, trong những trường hợp cái thai bị dị dạng nặng thì còn có điều gì lại ngăn chúng ta không biện minh cho những cuộc phá thai đối với những cái thai bị dị dạng tương đối và tiếp sau đó là đối với những cái thai chỉ bị dị dạng nhẹ. Chúng ta sẽ đi từ lập trường vững chắc là việc cấm phá thai xuống đến đến bậc thấp nhất là cho phép phá thai vì những lý do tầm thường nhất. Nhiều người phản đối cho rằng phôi thai là “một con người tiềm năng”. Nếu được sinh ra, phôi có thể phát triển thành những con người bình thường đầy đủ ý chí, có thể tài giỏi như Beethoven hoặc Einstein. Hơn nữa, nếu lấy lý do là phôi thai chưa có ý thức về cái tôi của mình để loại bỏ thì cũng đồng nghĩa với việc giết trẻ sơ sinh. Theo nghiên cứu, trẻ em chỉ tự ý thức về bản thân mình, biết mình là ai khi lên đến tầm hai hoặc ba tuổi. Như vậy, nếu lý do này được dùng để biện minh cho việc phá thai thì cũng được dùng để biện minh cho việc giết trẻ sơ sinh dưới ba tuổi, như vậy là hành vi giết người, cũng giống như giết người đã trưởng thành.






