MỚI

09:21
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogTin Giáo PhậnNhật Ký Tĩnh Tâm Linh Mục ngày 26. 11. 2014

Nhật Ký Tĩnh Tâm Linh Mục ngày 26. 11. 2014

Hôm nay 26 tháng 11, ngày thứ 2 trong tuần tĩnh tâm thường niên linh mục Giáo phận Vĩnh Long được bắt đầu bằng Thánh lễ cầu cho các Giám mục, linh mục, các ân nhân và thân nhân của Giáo phận đã qua đời. Cha Giám Quản đã chủ sự thánh lễ xin ơn Thiên Chúa cho các ngài được an nghỉ trong tình thương của Thiên  Chúa muôn đời.

Trong bài giảng lễ  với Tin mừng Lc 10, 1 – 7 Đức ông Pr đã nhấn mạnh đến lệnh truyền của Chúa Giêsu đối với các môn đệ cũng như là kẻ được sai đi phải hoàn toàn tùy thuộc vào Đấng sai mình trong sứ mạng được mời gọi. (xem chi tiết xin bấm vào đây)

Trong giờ học hỏi Tông Huấn Evangelii Gaudium, Cha Pr Huỳnh Văn Hai tiếp tục triển khai Chương II của Tông Huấn với tựa đề: Giữa cơn khủng hoảng về đời sống dấn thân. Sau phần trình bày quý cha đã có những đóng góp, thảo luận để làm sinh động thêm và mở rộng thêm trong việc học hỏi.

Trong giờ gợi ý suy niệm hôm nay, Đức ông Pr đã mời gọi anh em linh mục chú ý hơn đến phương diện truyền thông trong việc rao giảng tin mừng. (xem chi tiết xin bấm vào đây)

Buổi chiều, trong giờ Hội thảo mục vụ, các ban mục vụ: Quới Chức, Gia Đình, Bác ái Xã hội đã cho quý cha có những thông tin, những sinh hoạt của các ban trong năm qua cũng như những trợ giúp có thể khi quý Cha trong các họ đạo có nhu cầu.

Đọc Kinh Sách và Chầu Thánh Thể tạ ơn Thiên Chúa đã được quý cha cử hành sốt sắng vào buổi chiều trước khi dùng cơm tối

Ngày tĩnh tâm được khép lại với việc đọc kinh tối và gợi ý suy niệm  theo Tin mừng Mt 21, 33 –  46

IMG_4327

Bầu khí hiệp thông trong giờ Học hỏi

IMG_4330

Cha Pr Hai trình bày Chương II Tông huấn Evangelii Gaudium

IMG_4342


IMG_4344

Cha Giacôbê Đảm trưởng ban mục vụ Quới Chức

IMG_4349


IMG_4355 

Quý cha thảo luận và thắc mắc

IMG_4357

Cha Giám Quản giải đáp

IMG_4360

Cha Giuse Lục trưởng ban mục vụ Gia đình

IMG_4370


IMG_4375


IMG_4379

Cha Tađêo Don trưởng ban Bác Ái Xã Hội

IMG_4385

Đức ông Pr Tài trong giờ gợi ý suy niệm

IMG_4388

Chấu Phép Lành

Trích Phúc Âm Theo Thánh Luca (Lc 10 , 1-7):

Chúa chọn 72 môn đệ khác và sai từng hai người một đi trước vào các thành, các nơi mà Chúa sẽ đến. Chúa bảo các ông: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Anh em hãy xin chủ mùa màng sai thợ đến gặt lúa của mình. Anh em hãy đi. Ta sai anh em như chiên vào giữa bầy sói. Ðừng mang túi, mang bị hay mang giày dép, cũng đừng chào ai dọc đường. Hễ anh em vào nhà nào thì trước hết hãy nói: “Bình an cho nhà này.” Nếu ở đó có ai đáng hưởng sự bình an thì sự bình an anh em cầu chúc cho, sẽ ở lại với người ấy, bằng không, thì sự bình an sẽ trở về với anh em. Hãy ở nhà ấy, và ăn uống những của người ta cấp cho bởi vì thợ thì đáng được lương. Ðừng bỏ nhà này sang nhà khác.”

SUY NIỆM:

Chúng con hãy ra đi! Này Thầy sai chúng con ra đi như chiên vào giữa muông sói.”

Người đồ đệ của Chúa Giêsu được mời gọi ra đi rao giảng Tin Mừng, phục vụ cho Nước Chúa được lan rộng đến mọi người cho đến mức độ trọn hảo. Người đồ đệ ra đi vì ý thức rõ ràng Chúa đã mời gọi và sai mình ra đi. Ý thức đó cần được giữ gìn sống động mãi trong suốt cuộc đời làm chứng của người đồ đệ. Sứ mạng rao giảng Lời Cứu Rỗi là một cái gì cao cả vượt trên các đồ đệ. Các ngài không thể tự phong cho mình công tác này, mà cần phải có một tiếng nói cao cả, một lời sai đi của Ðấng Cứu Rỗi.

Vì là kẻ được sai đi, nên các đồ đệ luôn sống trong sự tùy thuộc vào Ðấng đã sai mình đi; đây không phải là một sự tùy thuộc nô lệ giữa chủ và tôi tớ, mặc dù sự cách biệt giữa Chúa và con người còn xa hơn sự cách biệt giữa chủ và tôi tớ vô cùng. Nhưng đây là một sự tuỳ thuộc thân tình giữa Thầy Trò như hai người bạn: “Thầy không gọi chúng con là tôi tớ, nhưng là bạn hữu vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi chúng con là bạn hữu vì mọi điều Thầy đã nghe nơi Cha, Thầy đã tỏ cho chúng con biết.” (Jn 15,15).

Người đồ đệ là kẻ chấp nhận hoàn toàn trọn cả sự thật mạc khải và chấp nhận chương trình cứu rỗi mà Thiên Chúa muốn thực hiện, qua Chúa Giêsu Kitô. Người đồ đệ không phải chỉ như là một kẻ đại diện, nhưng như là sự hiện diện của Chúa, là như chính Chúa hiện diện và tác động cứu rỗi. Chính vì thế mà người đồ đệ phải hoàn toàn sẵn sàng, để tuân phục thánh ý của Thầy mình, để thực hiện chương trình Thầy mình muốn mà không một chút do dự hay thay đổi chi tiết. Ðây là một bổn phận nhưng cũng là một vinh dự, bởi vì Chúa đã nói: “Ai nghe chúng con là nghe Thầy. Ai khinh chúng con là khinh Thầy và ai khinh Thầy là khinh Ðấng đã sai Thầy!” (Lc 10,16). Việc tuân phục mệnh lệnh sai đi của Chúa sẽ tạo cho người đồ đệ một an tâm không lo lắng trước những khó khăn. “Chúng con đừng mang theo túi tiền, giầy dép.”

Người đồ đệ không nên có ảo tưởng đặt sự thành công của sứ mạng tùy thuộc vào những phương tiện vật chất, nhân loại. Tất cả những món đó có thể là một trở ngại lớn, không cho phép người đồ đệ sống hoàn toàn tự do và sẵn sàng chu toàn sứ mạng. Ðể thực hiện sứ mạng, người đồ đệ cần ơn soi sáng và sự hướng dẫn của Chúa hơn là những phương tiện vật chất. Ðể chu toàn sứ mạng mang ơn cứu rỗi đến cho con người, người đồ đệ cần nhiều ơn Chúa, cần sự khôn ngoan của Chúa hơn những phương tiện vật chất. Hơn nữa, thời giờ dành cho việc thực hiện sứ mạng là thời giờ quý giá. Người đồ đệ không nên phung phí hoặc để mình bị lo ra vì những hư từ, vì những lời nói của con người mà bỏ quên Lời Chúa.

Rồi khi gặp chống đối, người đồ đệ không nên ngã lòng. Khi đã tận lực cho sứ mạng Chúa đã trao phó, người đồ đệ giữ tâm hồn mình bình thản, trước những thất bại hay chốn g đối của con người, vì biết rằng Lời Chúa mà mình rao giảng, chắc chắn sẽ sinh hoa trái một cách mầu nhiệm theo đường lối của Chúa. Ðiều quan trọng là đồ đệ đừng ngã lòng, đừng chịu thua, đừng trả sứ mạng đó lại cho Chúa mà hãy hiên ngang lên đường tiếp tục sứ mạng đó nơi khác.. Trước sự chống đối khước từ của con người, người đồ đệ có thể cảm thấy mình yếu hèn nhưng như thánh Phaolô tông đồ, người đồ đệ cần nhớ rằng: Chính khi mình xem ra yếu đuối là lúc mình có tràn đầy sức mạnh, vì quyền năng của Thiên Chúa được tỏ lộ nơi sự yếu đuối của đồ đệ (x. 1C 2,1; 2C 12,7-10).

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn sứ mạng Chúa đã trao phó, với hết lòng hăng say, nhưng tràn đầy khiêm tốn và tin tưởng vào sức mạnh ơn Chúa, nhất là trong những giây phút mệt mỏi, bị chống đối. Xin giúp con tin chắc vào điều con rao giảng và nhất là sống thực điều con tin và rao giảng.

Chúng ta thường chú trọng đến khía cạnh cá nhân trong ơn gọi và sứ mạng của người đồ đệ Chúa Kitô, đến độ cả trong những khi thi hành công tác, chúng ta để ý đến khía cạnh cá nhân, nghĩa là mỗi người riêng rẽ làm việc cho Chúa mà quên khía cạnh cộng đoàn, mỗi người liên kết với nhau. Ðành rằng Chúa ban ơn gọi và sứ mạng cho từng người một; Chúa đã kêu gọi từng người một, gọi đích danh để theo Ngài. Nhưng phúc âm cũng đã ghi lại một chi tiết mà đôi khi chúng ta bỏ quên, đó là Chúa sai các ngài từng hai người một, để ra đi thi hành công tác Ngài muốn. Phúc âm theo thánh Luca chương 10, câu 1 đến câu 4, đã kể lại như sau:

Sau đó Chúa chọn 72 môn đệ khác và sai từng hai người một đi trước vào các thành, các nơi mà Chúa sẽ đến. Chúa bảo các ông: “Mùa màng thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Anh em hãy xin chủ mùa màng sai thộ đến gặt lúa của mình. Anh em hãy đi. Ta sai anh em như chiên vào giữa bầy sói. Ðừng mang túi, mang bị hay giầy dép, cũng đừng chào ai dọc đường. Hễ anh em vào nhà nào thì trước hết hãy nói: “Bình an cho nhà này.”

Chúa đã sai họ ra đi từng hai người một.

Ðây không phải là một chi tiết vô ý, phụ thuộc, nhưng là một điều cố ý, có một ý nghĩa sâu xa, nhất là nếu ta nhớ lại những chương phúc âm khác, như nơi Luca 9,54; 24,13; Gioan 1,37; 20,3 là những chương trong đó có nhắc đến hai người môn đệ đi đôi với nhau. Hai khác với một, hai người đã là một cộng đoàn rồi. Chúa sai các môn đệ ra đi thực hiện công tác từng hai người một, nghĩa là Chúa sai các ngài ra đi trong tinh thần cộng đồng, cộng tác với nhau; hai người cùng hoạt động cho Chúa, cùng phải sống với nhau trong tình hiệp thông huynh đệ.

Nói rộng ra, tất cả các đồ đệ được Chúa sai đi rao giảng ần phải sống tình huynh đệ với nhau và cần luôn ý thức rằng mình không làm việc riêng rẽ, nhưng cùng với cộng đồng, như là thành phần một cộng đoàn. Ðành rằng mỗi người chu toàn một công việc, một nhiệm vụ khác nhau, nhưng công việc đó phải là một khía cạnh trong toàn bộ công việc chung.

Nơi phúc âm theo thánh Matthêu 18,20 Chúa Giêsu đã hứa là Ngài hiện diện bất cứ nơi nào có hai hay ba người tụ họp nhau lại nhân danh Ngài. Vậy thì càng chắc chắn hơn là có Chúa hiện diện giữa cộng đoàn các đồ đệ được chính Chúa đặc biệt sai đi làm chứng cho Ngài.

Tình hiệp thông huynh đệ giữa những người làm chứng cho Chúa là kết quả của sự hiện diện của Chúa nơi cộng đoàn đồ đệ, mà cũng là nguyên nhân làm cho người khác nhận ra sự hiện diện của Chúa. Chúa đã không những cho các đồ đệ hồng ân rao giảng, nghĩa là hồng ân sử dụng lời nói để làm chứng cho Chúa, nhưng còn ban cho các ngài hồng ân sống hiệp thông huynh đệ với nhau. Người đồ đệ sẽ dễ dàng chu toàn trách vụ của mình, nếu biết sống hiệp thông huynh đệ với những đồ đệ khác của Chúa. Chính vì thế mà trước khi từ giã các môn đệ, nơi bữa tiệc ly, Chúa đã căn dặn các ngài nhiều lần và bằng nhiều cách khác nhau, là hãy sống hiệp thông với nhau, hãy sống yêu thương nhau.

Mỗi người chúng ta, vì mang nặng trong mình những khuynh hướng cá nhân ích kỷ, nên có thể đôi khi bị cám dỗ sống riêng rẽ và chỉ nghĩ đến việc làm tự một mình mình mà không màng chi, hay không để ý đến khía cạnh cộng đồng, hiệp thông. Ơn Chúa ban cho từng người nhưng trong một cộng đồng là Giáo Hội Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin hãy biến đổi con người con, cho con biết sống đơn sơ, trung thành với Tin Mừng Chúa và biết mở rộng tinh thần con tim đón nhận sự cộng tác của anh em, để cùng nhau làm chứng cho Chúa. Xin giúp con sống ơn gọi làm đồ đệ của Chúa, trong sự hiệp thông với toàn thể Giáo Hội Chúa, với những vị mục tử, đã được Chúa thiết lập chịu trách nhiệm về đoàn chiên được trao phó. Amen.


Bài 02: VÀI NÉT VỀ TU ĐỨC LÃNH ĐẠO VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG MỤC VỤ

Chìa khóa của lãnh đạo hữu hiệu là truyền thông. Mọi hoạt động của Lãnh Đạo– (nhất  l bốn hoạt động: Điều, Động, Đỡ, Đại) – đều được xây dựng trên truyền thông. Không thể nào tưởng tượng một chủ chăn mà không có khả năng Truyền Thông. Không thể nào hướng dẫn một tổ chức,một cộng đoàn sinh hoạt hiệp nhất và tham dự mà không có truyền thông.

Con đường chia sẻ những suy tư đi theo những yếu tố chính như sau:

I. Truyền Thông là gì? 

II. Những yếu tố giúp phát triển hay cản trở truyền thông. Cần Huấn luyện Tu Đức để tăng sức cho việc Lãnh Đạo về Truyền Thông trong Cộng Đoàn; và một Cộng Đoàn đầy Truyền Thông lnh mạnh sẽ là một Cộng Đoàn sinh động trong sứ mạng.

III.  Vai Gợi ý để luyện tập Truyền Thơng với Anh chị em. Truyền Thơng lin vị.

1.TRUYỀN THÔNG LÀ GÌ?

Vấn đề  “Truyền Thông” có liên hệ đến nhiều lãnh vực khc nữa như Thần Học, Tm Lý, “Truyền Thông xã hội” v  Truyền Gio. Tôi sẽ cố gắng tiếp cận vấn đề  cách  cụ thể nhiều hơn là suy luận lý thuyết trừu tượng.

TRUYỀN THÔNG LÀ GÌ?

Xin đừng hiểu lầm “Truyền Thông” (giữa người với người) với  “Truyền Thơng X Hội” (giữa nhiều người với nhau) v “Những Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội”.

Truyền Thông nằm trong lãnh vực những tương quan giữa người với người. Truyền Thơng X Hội nằm trong lnh vực những tương quan giữa nhiều người trong x hội. Còn những “phương tiện truyền thông xã hội” nằm trong lãnh vực những phương tiện, những kỹ thuật được sử dụng để chuyển đạt một nội dung hay một sứ điệp nào đó đến cho nhiều người, nhắm giúp cho những tương quan giữa người với người được tốt đẹp và dễ dàng hơn. Cần huấn luyện về truyền thông trước, rồi đến truyền thơng x hội sau cng mới học tập sử dụng những phương tiện kỹ thuật. Thật là trớ trêu và mâu thuẫn một người không có thể phát triển khả năng truyền thông mà nắm trong tay những phương tiện kỹ thuật truyền thông xã hội !

Truyền Thông là gì?  Đây là từ  ngữ Việt để chuyển dịch quan niệm được diễn tả bằng từ latinh, và những ngôn ngữ bắt nguồn từ tiếng latinh như  Ý, Anh, Pháp, Tây Ban Nha,v.v….

Từ latinh là COMMUNICATIO (danh tự), COMMUNICARE (động từ), đến từ mẫu ngữ gốc là COMMUNIS : nghĩa là CHUNG; communicare  là communis facere, làm thành chung, làm cho chung lại, liên kết chung lại. Ý Niệm “CÙNG CHUNG” là ý niệm chính và quan trọng.

Từ từ  chúng ta sẽ đào sâu thêm ý niệm về TRUYỀN THÔNG  (COMMUNICATIO); Tạm vào lúc khởi đầu, chúng ta có thể hiểu “Truyền Thông” như là “chia sẽ một điều gì đó cho chung nhiều người để liên kết nhiều người chung lại với nhau. Truyền Thông có mặt trong cộng đoàn và hướng đến việc thiết lập,  duy trì và cũng cố thêm cộng đoàn. TRUYỀN điều gì đó từ người nầy sang người khác  (cũng có thể là từ  một  sang nhiều người) để liên kết họ lại trong sự hiệp THÔNG. Có Truyền mà không có Thông thì chưa phải là Truyền Thông. Sự Hiệp Thông giữa người Truyền đi và người tiếp Nhận, là yếu tố quyết định cho công việc Truyền Thông.

Chúng ta hãy nhìn qua các sơ đồ  mô tả  “hiện tượng” TRUYỀN THÔNG, từ  đơn sơ căn bản cho đến phức tạp.

1. NGƯỜI TRUYỀN SỨ  ĐIỆP

2.  PHƯƠNG TIỆN ĐƯỢC  DÙNG

3. NGƯỜI NHẬN SỨ ĐIỆP.

B.

1.NƠI NGƯỜI

 TRUYỀN SỨ ĐIỆP:

Ý LỜI// Đặt KÝ HIỆU//

    SỨ ĐIỆP GỞI ĐI

2. PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT:

Thích Hợp, Không Bị Cản.

3.NƠI NGƯỜI NHẬN


SỨ ĐIỆP NHẬN// GIẢI MÃ// Ý LỜI ( đã hiểu)

4. MỤC ĐÍCH NGƯỜI GỞI:

    Để làm gì?

C.

1.NƠI NGƯỜI

 TRUYỀN SỨ ĐIỆP:

Ý LỜI// Đặt KÝ HIỆU//

    SỨ ĐIỆP GỞI ĐI

2. PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT:

Thích Hợp,

Không Bị Cản.

3. NƠI NGƯỜI NHẬN


SỨ ĐIỆP NHẬN// GIẢI MÃ// Ý LỜI ( đã hiểu)

4. MỤC ĐÍCH NGƯỜI GỞI:

    Để làm gì?

5.Phản Hồi của Người Nhận cho Người Gởi.

Sự Hiệp Thông


Đồ thị cho chúng ta nhìn thấy rõ ràng hơn những diễn tiến phức tạp của hiện tượng TRUYỀN THÔNG. Để được hữu hiệu v nn trọn , thì việc Truyền Thông bắt đầu với hoạt động Truyền và cần kết thúc với tình trạng Thông Hiệp với nhau, gĩp phần xy dựng cộng đong mỗi ngy một hơn.

Có một điều gì đó từ nơi người Truyền được trao cho được thông ban cho người nhận. Có một cái gì CHUNG được thiết lập giữa người truyền và người nhận. Chung Ý, Chung Lòng, Chung nếp sống, Chung hàng động.

Mẩu mực tốt nhất cho Truyền Thông là Thiên Chúa Ba Ngôi. Tu Đức của Truyền Thông là Tu Đức Ba Ngôi Thiên Chúa. Hay nói cách khác, Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn mạch và là mẩu mực cho Truyền Thông. Chúng ta sẽ khai triển thêm đề tài nầy sau.

Phân tích thêm hiện tượng Truyền Thông, chúng ta sẽ nhận thấy rằng  “LỜI NÓI” là “ci vốn quý gi nhất” của Truyền Thông. “LỜI NÓI” là phương tiện truyền thông tốt nhất, là con đường thiết lập và duy trì những tương quan giữa người với người, nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân của những chia rẽ, không thông cảm, tranh chấp và đau khổ. Lời Nói có thể chữa lành  hay gây thương tích. Tuy nhiên Lời Nói, để có giá trị truyền thông, — và như thế  được trọn vẹn — cần phải vượt qua mức độ quy ước thường tình về ý nghĩa, vượt qua mức độ “truyền tin”, để đạt đến mức độ  trao ban chính mình. Hai người “nói với nhau” không phải chỉ để  “truyền tin” ( báo tin, cho biết tin), nhưng còn để  “trao ban cho nhau một cái gì đó”, để xây dựng cộng đoàn giữa hai người. “LỜI NÓI” luôn luôn được đi kèm với “cái gì” đó của người nói, v được hiểu trong v theo những giới hạn của người nhận.

“LỜI NÓI” có ba bậc :

1. để báo tin ( cho biết) ==Truyền Tin Tình Thế

2. để biểu lộ nội tâm ====Thông tỏ thâm  tâm

3. để mời gọi đáp ứng====Tác thông Tích Thích.

Càng gia tăng theo ba bậc nói trên và có ít nhiều “ba bậc” nói trên,  thì “LỜI NÓI” càng có giá trị “Truyền Thông”!

-“Báo Tin” : Truyền đi những chi tiết, tin tức, có tính cách thuần túy “vì lợi ích” ( hữu dụng). Lời báo tin, ở cấp độ một nầy, tuy chưa có  nhiều giá trị truyền thông, nhưng lại có thể gây hại cho truyền thông, vì tính cách  “mơ hồ”, “dị nghĩa” mà người  báo tin có thể mặc vo cho Lời nĩi báo Tin đó. Nói vậy mà không có  vậy. Ngày nay, ngôn ngữ đã “bị hư, bị rữa” đi  khá nhiều!

-“Biểu Lộ Nội Tâm”: Ở cấp độ thứ hai nầy, LỜI NÓI vượt quá nội dung thông tin có thể nói là “một chiều”, “lạnh lùng”, bàng quan, để mặc thêm “mùi vị” ( thêm mắm thêm muối!) của người nói cũng như của người nhận. Tính cách “liên kết ngôi vị” ( liên ngôi vị) được biểu lộ. Thế giới ( tự tâm, từ tâm, nội tâm) của người nói được biểu lộ. Người nói chia sẻ ý định của mình, và khơi dậy sự đáp ứng nơi người nghe nhận. Sự “cảm thông” bắt đầu.  Và “Lời Nói” được nâng cấp sang bậc thứ ba..

-“Mời gọi đáp ứng”: Lời Nói mời gọi người nhận (nghe) tích cực đáp ứng. Thế giới chung giữa hai người nói và nghe, trao đi và nhận lại, được thiết lập, duy trì , củng cố.

“Lời Nói” được hiểu theo cả hai khía cạnh: Lời Nói  thành tiếng (ngôn ngữ) để nghe, và Lời Nói không thành tiếng (sự im lặng, ngôn ngữ của thinh lặng) để cảm nhận.

Mẩu “Truyền Thông” cao độ trọn vẹn nhất là Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa Ba Ngôi là Một Truyền Thông, Một Mầu Nhiệm Hiệp Thông. LỜI của Ngài có đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất, của cả “ba bậc” mà chúng ta vừa phân tích trên đây.

Nhìn vào KINH THÁNH, chúng ta có thể đọc được kiểu mẩu “Truyền Thông” của Thiên Chúa cho con người. Thiên Chúa nói LỜI của Ngài cho con người. Lời Ngài là Trọn Vẹn Truyền Thông, gồm đủ cả ba bậc: Báo Tin  Mạc Khải), Biểu Lộ Tâm Tư (Giao Ước) và Mời Gọi Đáp Trả (Tái Tạo Dựng).

Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, không những chỉ thông truyền tư tưởng, sự Thật, mà còn thông truyền chính mình làm sự Sống của chúng ta (Bí Tích Thánh Thể), để mời gọi  những ai đón nhận đến với Ngài,  được Ngài tái tạo, trở nên thành phần của một Nhiệm Thể Duy Nhất, một “cộng đoàn với ngài và trong ngài”. Nơi Chúa Giêsu Kitô, Lời Nói và Đời Sống là một. Trong viển ảnh nầy, chúng ta hiểu hơn  công thức “làm chứng cho Chúa (Truyền Thông) bằng Lời Nói và bằng Đời Sống. Trong viển tượng nầy, Truyền Thông là Truyền Giáo ! Truyền Giáo là Truyền Thông, hai  “quan niệm” gặp nhau và có thể thay thế cho nhau. Sống Tu Đức Truyền Thông là thực hiện truyền giáo.

Người sống đời tận hiến — như tất cả chúng ta đây — được mời gọi  “trở về với Chúa Kitô” và bắt đầu lại từ Chúa, trở thành Nhà Truyền Thông như Chúa, biến trọn cả Đời Sống mình trở thành LỜI NÓI THÔNG TRUYỀN THIÊN CHÚA cho anh chị em.

Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình nơi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng nói cho con người biết Thiên Chúa là Tình Yêu, và mời gọi con người đến với Tình Yêu ấy, và trở nên cộng đoàn tình yêu.

Cũng thế, mỗi người chúng ta,— nhất là những kẻ tận hiến cho Chúa-chúng ta cần làm cho đời mình trở thành Lời Truyền Thông cho anh chị em được nhìn  thấy Thiên Chúa, được hòa nhập vào trong thế giới của Thiên Chúa.

XÉT về Ngoại Trương của lời nói: chúng ta có BA BẬC CỦA NGÔN NGỮ.

Bậc I : ngôn ngữ sơ  cấp

Bậc II: Ngôn ngữ trung cấp.

Bậc III : Ngôn ngữ chuyên môn cao cấp.

 “Nhà Lãnh Đạo cần biết truyền thông cách hữu hiệu”.

Con người sinh ra, sống, yêu thương và làm việc trong khung cảnh những tương quan liên vị. Nhu cầu giao tiếp được thực hiện qua truyền thông và mối liên hệ với những người khác. Cần có thời gian và sự kiên trì để việc truyền thông đạt đến mức độ cao nhất và hoàn hảo bao nhiêu có thể. Nhất là cần “bầu khí tương quan”  thân tình,giúp đưa vào những tương quan tích cực và mời gọi thăng tiến để vui sống hài hòa với nhau và tự ý trao đổi đối thoại với nhau, giúp hiểu nhau và chấp nhận nhau. Trớ trêu thay, trong cộng đoàn, chúng ta thường trải qua kinh nghiệm này là chúng ta tự nhiên thấy mình dễ nói chuyện trao đổi với người này, còn với vài người khác thì không. Với những người này thì nói liên tu bất tận, còn với nhóm người khác thì không thèm để ý đến, ngay cả việc khởi đầu câu chuyện cũng là điều không thể.

Mỗi người trong chúng ta mang trong mình “một bầu tâm sự” bao gồm những giá trị, những tâm tình, những cảm xúc, những kinh nghiệm, để được đem chia sẻ với kẻ khác; và cuộc đối thoại được khai triển khi ở đâu người ta ý thức  được về “tâm sự” của kẻ khác và có những điều kiện  cần thiết cho sự chia sẻ trong tình yêu thương và tương kính. Truyền thông và lắng nghe được thực hiện, khi sự khác biệt giữa tôi và người khác được chấp nhận, khi Tôi và Người Khác nhìn nhận nhau, biết những khác biệt của nhau, cảm nếm niềm vui khi được chia sẻ cho nhau, hay ngược lại, cảm thấy “mất mát”, tiếc nuối khi biết được rằng những khác biệt đó không phù hợp với những chờ đợi riêng, không dẫn đến tương quan đối thoại với nhau.

Khi truyền thông chỉ quy hướng về những vụ lợi cho riêng mình hay những nhu  cầu riêng, thì truyền  thông không còn là đối thoại mà là độc thoại khô cằn. Lúc đó, trong “truyền thông-độc thoại” này, người ta chỉ nhìn thấy những tâm tình đau khổ, khinh thị, mỏng dòn tạm bợ, ganh tị, thụ động, tiêu cực, mưu cầu sự tuỳ thuộc, ước muốn thống trị, sự phản bác và phủ nhận nhau. Tâm tình tiêu cực đó ảnh hưởng mạnh trên tiến trình truyền thông, lèo lái lựa lọc truyền thông, giải thích sứ điệp của người khác theo quan điểm riêng. Những tâm tình tiêu cực đi kèm theo truyền thông dẫn ta đến việc làm méo mó không những nội dung mà kẻ khác muốn thông truyền mà còn làm méo mó chính liên hệ giữa các đương sự. Những tâm tình tiêu cực đó có thể làm ô nhiễm bầu khí ấm cúng và việc truyền thông, và là gốc rễ của nhiều khó khăn cho cá nhân cũng như cho cộng đoàn. Chẳng hạn như khi trong truyền thông có sự bất nhất giữa điều người ta nói và điều người ta sống, thì các đương sự cảm thấy chính sự tự trọng và căn cước của mình bị xúc phạm, và do đó họ cho dựng lên những hệ thống tự vệ mà cuối cùng về lâu về dài làm băng hoại sự thông truyền và cổ võ cho những nếp sống không trung thực và không phù hợp với đời sống chung.  Vì thế cần có sự đồng quy giữa lời nói, ý nghĩa của lời nói, và cử chỉ diễn tả lời nói. Không thể nào nói lời chào chúc, hoặc trao đổi cái hôn bình an cho một ai đó mà mắt nhìn vào chỗ khác hay với thái độ lạnh lùng, hay chỉ theo hình thức, hoặc với cái hôn giả tạo, cái bắt tay gượng gạo. Lời nói, ý định, cái nhìn và cử chỉ phải cùng quy về một hướng, nếu muốn gởi đi một sứ điệp cách hiệu quả để không rơi vào cảnh truyền thông lộn xộn mâu thuẫn. Nguy hiểm này càng có thể xảy ra, khi việc truyền thông mang tính cách phức tạp và đa thức đa biệt.

Vì thế cần đặc biệt chú ý đến “truyền thông giữa người với người” để phát triển cộng đoàn. Nếu mỗi thành phần “truyền thông” với nhau mỗi ngày càng đích thực hơn, thì cách hành xử của mỗi thành phần sẽ càng ngày càng có tính cách xây dựng hơn. Truyền thông đích thực sẽ giúp cho đương sự  được trưởng thành. Vì thế cần phải giáo dục biết “truyền thông” và lắng nghe cho mọi thành phần, nhất là cho những người lãnh đạo cộng đoàn. Công việc của người lãnh đạo được hữu hiệu hơn, bởi vì công việc đó cho phép các thành phần mang những cố gắng truyền thông lành mạnh đến gần với những mục tiêu chung của đời huynh đệ, vừa tận dụng năng lực và các phương tiện ngõ hầu tất cả cùng dấn thân đề đạt đến các mục tiêu đó. Chúng ta hãy cùng suy nghĩ về các điểm sau đây:

1.Tạo  tương quan tích cực giữa lời nói và thực tế sống.

2.Lắng nghe lời đề nghị

3.Những rào cản và những khả thể trong truyền thông

4.Kỹ năng truyền thông trong lãnh đạo

5.Cung cấp sự nâng đỡ

6.Vài kết luận áp dụng cho người lãnh đạo truyền thông cách hữu hiệu

1.Tạo tương quan tích cực giữa lời nói ( thông tin) và thực tế sống.

Con người đang có trong tay những phương tiện truyền thông rút gọn khoảng cách và thời gian. Toàn cầu trước đây vài chục năm đã được thu nhỏ thành một làng một ấp; nay được thu nhỏ thành một căn phòng, và cuối cùng thành một màn hình máy vi tính…và trong tương lai đang tiến gần thành như mặt đồng hồ hay như một nắm tay. Thế nhưng, không ai có thể “lấy thước mà đo lòng người”. Con người có thể bọc lại “nội tâm mình” trong một cõi riêng, với những dự án riêng, những ý riêng, bất khả xâm phạm, với thái độ bỏ mặc kẻ khác. Con người cô đơn, đóng kín chính mình, không quan tâm gì đến kẻ khác. Kẻ khác trở thành kẻ vô danh, dù sống trong cùng một cộng đoàn, hay trong cùng một nhà. Đương sự có thể nhận tới tấp hàng ngàn thông tin trong ngày, và quên mất người hay những người cụ thể đã gởi đi những thông tin đó. Cộng đoàn những người tận hiến không nên cho phép xảy ra những tiêu cực như thế. Cần làm sao để truyền thông phong phú hoá chúng ta, xây dựng cái “chúng ta” chung với nhau, giúp ta “nếm” được cái hay của những sứ điệp khác biệt, và giúp ta yêu thương người anh chị em mình bằng tình yêu của Chúa Kitô. Như thế, truyền thông (bằng lời nói hay bằng cử chỉ) ảnh hưởng trên cách hành xử. Truyền thông cổ võ sự gặp gỡ giữa con người với con người, giúp con người thoát ra khỏi cảnh cô đơn, tạo dịp cho cuộc đối thoại, biến con người thành kẻ biết tham dự. Mỗi người thoả mãn được nhu cầu “sống với kẻ khác” , tìm về hợp đoàn với kẻ khác, để cùng nhau phát triển sự cộng tác, tình liên đới, sự tôn trọng nhau.

Trong việc “truyền thông xây dựng cộng đoàn”, chúng ta có thể quan sát thấy rằng một “sứ điệp” (lời nói ra) không chỉ  trao chuyển một hay nhiều thông tin đơn thuần, mà còn đồng thời đề nghị một lối đối xử giữa những con người đang thông truyền với nhau. “Truyền thông không phải là một hiện tượng diễn ra theo đường thẳng, nhưng là một “sinh hoạt” trao đổi liên vị trong đó những ai tham dự vào có ảnh hưởng trên nhau và “kiểm soát” (điều kiện hoá) lối cư xử của nhau.”

Sứ điệp (lời nói ra) ở bình diện một thì chuyển tải thông tin; ở bình diện hai thì diễn tả một đòi hỏi (hay một nhu cầu) hướng đến tương quan giữa những người đang thông truyền với nhau, nghĩa là cung cấp những chỉ dẫn về việc phải làm sao để giải mã nội dung của sứ điệp được thông truyền.

Mỗi “sinh hoạt” truyền thông là một cách thức để đặt đương sự vào trong một tương quan, một “chấp nhập” kẻ khác. Tương quan này giả thiết phải có một nội dung để thông truyền và một ý chí để thông truyền nội dung đó. Trong sinh hoạt truyền thông, mỗi bên biểu lộ cái tôi đích thực cách  trọn vẹn hoặc bán phần, để được chấp nhận và được lắng nghe. Từ đây bắt đầu thái độ  tin nhau và phó thác cho nhau. Như thế, sinh hoạt truyền thông liên tục tạo ra và biến đổi những tương quan giữa người với người. Trong khung cảnh nầy, ý nghĩa của một biến cố không giống y như nhau cho tất cả mọi người, bởi vì mỗi người nhận xét, cảm nghiệm, và sống biến cố đó một cách khác nhau. Nhưng nhờ truyền thông, mỗi người có dịp bước vào gặp gỡ với cái khác biệt nơi người khác. Ngoài ra, trong sinh hoạt trao đổi truyền thông, cả hai người (gởi đi và nhận lại) cả hai cùng phải cố gắng giúp nhau đạt đến sự thật khách quan. Chính sự thật nầy mới là yếu tố chính liên kết họ chung lại.

Trong “đối thoại truyền thông” không phải là vận dụng hết mọi phương thế để đạt thắng lợi trên đối tác, nhưng là cố gắng của mỗi bên để đạt đến cái chung. Đây là một cuộc biến đổi trong đó cả hai người  không còn ở trong vị thế giống như trước khi dấn thân vào trong sinh hoạt truyền thông. Cách cụ thể, khi con người thông truyền với nhau, thì  họ tự ý bước vào trong tương quan với nhau và thay đổi cách hành xử với nhau.

Những tương quan này-tự ý và cùng chia sẻ với nhau-cho phép con người củng cố những liên lạc và tiếp nhận những nội dung của sinh hoạt truyền thông mà họ dấn bước vào. Chúng ta cần lưu ý thêm rằng nội dung của truyền thông và tương quan giữa những con người trong sinh hoạt truyền thông, luôn có ảnh hưởng trên nhau. Bầu khí tương quan tốt -khi có sự tôn trọng và tin tưởng- làm cho dễ chú ý hơn đến nội dung của truyền thông. Ngược lại, nếu bầu khí tương quan trở nên bệnh hoạn do bởi những xung đột hay căng thẳng, thì nội dung của truyền thông ít được chú ý đến.

2. Lắng nghe đề nghị.

Để truyền thông thật sự, cần biết lắng nghe.

Trong cộng đoàn, người nào sẵn sàng lắng nghe, thì chắc chắn người đó sẽ góp phần nhiều vào trong việc xây dựng những tương quan liên vị tích cực. Trớ trêu thay, thường tình con người ít có thói quen lắng nghe: chúng ta biết viết, biết đọc, biết nói, biết hát, v.v… nhưng không biết lắng nghe, hay đúng hơn không học lắng nghe. … Người ta hiểu lầm rằng lắng nghe che dấu một thái độ thụ động. Nhưng lắng nghe kinh nghiệm sống của kẻ khác là một hành động thật sự tích cực, bởi vì nó đòi hỏi một sự hiện diện với hết sức chú ý có thể đến những gì kẻ khác cống hiến cho ta, qua lời nói, cử chỉ, lối hành xử. Biết lắng nghe như thế là một việc cực nhọc, vì đòi hỏi sự tập trung tinh thần, kiểm soát phản ứng tình cảm, làm chủ cảm xúc, nhất là khi người khác trình bày cái nhìn khác, suy nghĩ khác, không giống và không đúng theo cách chúng ta nhìn sự vật.

3. Những rào cản và những khả thể trong truyền thông.

3.A : Những rào cản. Đặt  mình vào trong  tương quan truyền thông với kẻ khác là đặt mình vào trong dòng chảy của tương quan hỗ tương, một công việc đòi hỏi thời gian và sự kiên trì, mà người lãnh đạo cộng đoàn tận hiến có trách vụ làm trung gian và giải thích những yếu tố của tương quan truyền thông này.

Rào cản  thứ nhất là cảm xúc. Vì lý do liên hệ tình cảm, người truyền thông có thể thay đổi nhận định của mình về tương quan truyền thông. Nếu khía cạnh tình cảm ở mức quá cao, làm chủ thống trị, thì chúng ta có nguy hiểm làm mất tính cách đặt biệt của sứ điệp được kẻ khác gởi đến, vì lúc đó chúng ta quá bận tâm bảo vệ lập trường của mình, hoặc bận lo tấn công những lập trường của ngưởi khác. Tuy nhiên, một chút thiện cảm (empathy)  đối với kẻ khác có thể làm cho ta chú ý hơn, ý thức hơn về điều đang xảy ra, để tiếp nhận những thực tại khác nhau hiện diện trong tương quan liên vị.

Rào cản thứ hai: thái độ chủ quan giải thích thực tại theo ý riêng mình. Một người có tính hay ganh tị trong cộng đoàn thì hay giải thích những gì kẻ khác nói hay làm như là những xác nhận cho sự ganh tị của mình là đúng. Củng cố thêm cho thái độ chủ quan là những ý kiến riêng, những cách suy nghĩ, những niềm tin vớ vẩn, những thành kiến và tiên kiến. Những điều này không giúp ta tiếp nhận những gì thực sự xảy ra quanh ta.

Rào cản thứ ba: khuynh hướng chúng ta nhìn sự việc đến với chúng ta trong sinh hoạt truyền thông, trong lăng kính vai trò chúng ta đóng. Đây có thể được gọi là sự méo mó nghề nghiệp. Ý thức quá mạnh về vai trò riêng của mình có thể làm méo mó thái độ của mình và làm ta không thích nghi được nữa với những hoàn cảnh mới.

Rào cản thứ tư : tuyệt đối hoá khía cạnh lý trí của những gì được nói ra làm ta bỏ quên khía cạnh tâm lý. Đừng quên rằng: “Con tim có cái lý riêng của nó”. Chỉ dừng lại ở nội dung của lời nói, chỉ biết đến ý nghĩa “trí thức” của lời nói, làm ta quên mất những ý nghĩa khác nữa mà người khác muốn nói đến trong sinh hoạt truyền thông. Thí dụ: khi một nữ tu về nói với bề trên: trong trường con học, ai ai cũng có máy vi tính! Thì bề trên đừng khô khan chỉ nghĩ như thế, mà hãy nghĩ: nữ tu nầy muốn xin máy vi tính, muốn được như bao kẻ khác trong trường!

Đó là những rào cản chính. Chúng làm cho ta nhìn thực tại qua “lăng kính” lọc lựa, chỉ nhận và hiểu những gì phù hợp với cái nhìn của mình. Để vươn tới quan điểm của kẻ khác, chúng ta cần thoát ra khỏi những “thói quen”, những lăng kính hay mặt nạ, để đặt mình trong một “góc độ khác”, biết chú ý đến khía cạnh khác, tìm hiểu một tâm lý một nhân cách khác. Cần luôn đặt mình vào dòng chảy luyện tập liên tục giúp ta biết canh tân kiểu cách truyền thông của mình, nhắm đạt đến hiệu quả tối đa là sự thông hiểu nhau mỗi ngày một trọn vẹn hơn.

3. Những khả thể của truyền thông:

Huấn luyện truyền thông mở ra cho chúng ta những khả thể  sau đây:

Đó là Biết Chú Ý đến yếu tố CON NGƯỜI trong TRUYỀN THÔNG.

Trong truyền thông liên vị, cần hướng về nhau cách thể lý và tâm lý, để có thể tiếp nhận ý nghĩa của quan điểm khác nhau, để tiếp cận được với thực tại theo như người kia tiếp cận. Điều nầy có nghĩa là đáp ứng với sự khác biệt của người kia và với cách thức người đó đặt mình trong tương quan với ta. Từ quả quyết trên ta có thể rút ra vài nguyên tắt sau đây:

1.Điều quan trọng là biết tiếp nhận hoàn cảnh đúng như nó được các đối tác truyền thông sống. Kinh nghiệm sống của đối tác được tiếp nhận như là “thành phần” không thể tách rời của sinh hoạt truyền thông; và như thế cho thấy là người truyền thông chia sẻ cái gì đó thật quan trọng trong đời sống và kinh nghiệm của đối tác.

2. Hơn nữa, cần hiểu biết rõ những cách thế được người kia dùng để diễn tả, để nói lên điều gì đó có ý nghĩa trên bình diện tâm lý. Điều quả thật quan trọng là người truyền thông có khả năng tiếp nhận những “biểu hiện tương quan” qua đó người này bước vào trong thế giới truyền thông của người kia. Những biểu hiện tương quan trực tiếp rõ ràng là những cách thức trực triếp để diễn tả và chia sẻ những tâm tình bên trong, làm cho người ngoài có thể nhận ra được, như  nụ cười, cách cười,…., bộ diện nói lên lo lắng, bất an, cách thinh lặng, ….

Thêm vào đó, ta cần quan sát chính những biểu hiện của mình nhờ qua “phản ứng” của người khác làm ta ý thức hơn về những gì xảy ra trong sinh hoạt truyền thông. Ta cần chú ý quan sát tiến độ của mối tương quan liên vị, để hiểu hơn về tình trạng truyền thông đang có.

4. KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG CHO NGƯỜI LÃNH ĐẠO.

Cảm nhận, hiểu, tiên liệu những thái độ của anh chị em trong truyền thông là bước cần thiết đầu tiên trong diễn tiến giao tiếp năng động giữa người với người trong cộng đoàn.

Người lãnh đạo cần :

1. Tạo điều kiện dễ dàng cho dòng chảy thông tin trong cộng đoàn;

2. Biết lắng nghe khi thi hành vai trò nhận truyền thông (cảm nhận, làm sáng tỏ, ôn lại cách tổng hợp “mã hoá lại” với người truyền thông).

5. CUNG CẤP SỰ NÂNG ĐỠ cho Truyền thông trong cộng đoàn.

Ngoài việc tạo điều kiện cho các thành phần cộng đoàn truyền thông với nhau, người lãnh đạo còn cần bảo trì và nâng đỡ bầu khí giúp cho các thành viên truyền thông với nhau cách đích thực và thành thật. Ít nhất người lãnh đạo cần thực hiện  ba điều chính yếu sau đây: 1. Củng cố, 2. Nói lên thiện cảm; 3. Tự biểu lộ mình.

1.Củng cố.  Sự nâng đỡ ảnh hưởng trên sinh hoạt truyền thông sao cho mọi người tiếp tục công việc xây dựng tương quan hỗ tương lành mạnh, dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau và trên xác tín rằng con ngưởi có thể sống cởi mở với nhau. Với sự củng cố này, người lãnh đạo định hướng và gia tăng công việc của nhóm. Đôi khi, vì quá bận, người lãnh đạo không chú ý đủ đến việc khuyến khích, đến sự kiểm soát và thẩm định sự đóng góp của kẻ khác. Ngõ hầu sự nâng đỡ nên hữu hiệu, thì nó cần phù hợp cách thiết thực và gắn liền với điều mà con người nói hoặc làm, mà không quá phóng đại cách vô ý thức.

2.Biểu lộ sự nồng ấm và thiện cảm. Bằng cách nầy, người lãnh đạo nói lên thái độ sẵn sàng và  quan tâm muốn hiểu kẻ khác, vừa cổ võ bầu khí cộng tác và liên kết với nhau, ngõ hầu giúp cho cộng đoàn đạt đến những mục tiêu chung.

3.Tự biểu lộ mình. Người lãnh đạo “giới thiệu mình” cách trung thực qua những biểu lộ kinh nghiệm sống, chia sẻ những nhận định riêng. Việc người lãnh đạo nói lên những kinh nghiệm riêng dẫn đến kiểu mẫu cởi mở về truyền thông, trong đó cá nhân được mời gọi cởi mở chính mình, không còn núp mình sau những mặt nạ, hay trong những tự vệ. Như thế, khi tự biểu lộ chính mình trong cộng đoàn, người lãnh đạo khuyến khích kẻ khác cởi mở chính mình và chia sẻ những kinh nghiệm riêng, những cảnh sống riêng, và như thế gia tăng uy tín và đáng được tín nhiệm.

 6.VÀI KẾT LUẬN DÀNH NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ LÀ NHÀ TRUYỀN THÔNG HỮU HIỆU.

Truyền thông hữu hiệu không phài là chuyện đơn giản. Cần có thời gian luyện tập và luyện tập không ngừng.

Cần tạo ra “khoảng rộng” chung trong đó những sinh hoạt truyền thông phát triển được những tương quan đích thực giữa những thành phần của cộng đồng. Sự chú ý và tôn trọng có mặt trong sinh hoạt truyền thông không loại trừ những khác biệt trong các ý kiến, các niềm tin, các nền văn hoá, nhưng ngược lại làm cho chúng được tăng giá trị cách mới mẻ và hữu hiệu.

Nguyên tắc tạo dựng “sân chơi” nói trên là mối giây yêu thương lẫn nhau, nhờ qua đó người ta thiết lập sinh hoạt truyền thông giữa các thành phần của cộng đoàn. Để thực hiện tình thương hỗ tương này, cần có những thái độ biết tôn trọng tự do và phẩm giá của kẻ khác, cần những lối cư xử thân thiện, sự sẵn sàng, chân thành và biết cho đi.

Chúng ta quá quen  với tâm thức cho rằng để lãnh đạo một cộng đoàn thì cần phải đặt tất cả mọi người trên cùng một “mặt bằng” như nhau, để cùng chung giữ luật hay những đoàn sủng chung. Có lẽ không nên nghĩ như vậy nữa! Sự biến đổi từ cái “TÔI”  thành “Chúng Tôi”, là công việc liên lỉ quay trở về với “người khác” nhờ qua sự “hiểu biết” và nhìn nhận những khác biệt của tôi và của kẻ khác. Đây là một tiến trình lôi cuốn bề trên và cộng đoàn vào tiến trình dấn thân chung, đầy cương quyết, đôi khi cũng đầy đau khổ, nhưng chắc chắn là một dấn thân làm phong phú cho nhau, bởi vì nó dẫn đến việc khám phá hồng ân hiệp thông mà Thiên Chúa luôn tuôn đổ xuống trên Giáo Hội và trên toàn thế giới.

Cộng đoàn những kẻ tận hiến, với ý thức trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng tình hiệp thông huynh đệ,  trở thành dấu chỉ cho khả thể sống tình huynh đệ kitô, vừa là dấu chỉ cho giá trị cần phải trả để xây dựng bất cứ cộng đồng huynh đệ nào.

Những người da đỏ tại Châu Mỹ còn giữ lại trong kho tàng văn hóa của họ một câu chuyện thần thoại nhiều ý nghĩa, có tựa là “Trứng chim phượng hoàng”.

Câu chuyện như sau. Có một anh nông dân nọ, một ngày kia lượm được một trứng chim phượng hoàng. Lòng tốt thôi thúc anh đi tìm ổ phượng hoàng để trả lại, nhưng không tìm được ổ phượng hoàng, anh đành đem trứng đó đặt vào ổ vịt. Vịt nở và trứng phượng hoàng cũng nở. Phượng hoàng con sống giữa đàn vịt, lặn lội trong nước, ăn uống, đi đứng, kêu la, tất cả đều giống như bao con vịt xung quanh. Phượng hoàng con không bao giờ đặt vấn đề mình là ai, cứ nghĩ mình là vịt như bao con vịt khác. Nhưng một ngày kia, trong một lần đi ăn chung với các bạn vịt khác, con phượng hoàng bỗng nhìn lên trời và nhìn thấy một phượng hoàng oai nghi bay lượn qua lại. Con phượng hoàng dưới đất bỗng cảm thấy như mình muốn bay cao oai nghi như vậy. Khi nó sắp vỗ cánh bay lên, thì những con vịt bên cạnh mắng nó rằng: Đừng làm kiêu, muốn bắt chước kẻ khác. Các con vịt xung quanh đều quả quyết rằng nó chỉ là con vịt mà thôi, không thể bay cao như con phượng hoàng oai nghi kia. Thế là con phượng hoàng lạc loài kia sống và chết trong xác tín sai lầm mình chỉ là con vịt không hơn không kém.

Chuyện cổ tích này nói lên ý nghĩa sâu xa mà chúng ta vừa nhắc ở trên. Thái độ của ta đối với chính mình có ảnh hưởng trên chính hành động của ta. Dù là phượng hoàng, nhưng nếu cứ nghĩ mình là vịt, thì sẽ hành động như vịt. Chúng ta sống và chết theo quan niệm chúng ta có về chính mình.

Nhưng chưa hết. Còn một khía cạnh nữa. Đó là thái độ mà ta có đối với chính mình còn có ảnh hưởng trên thái độ của kẻ khác đối vơi ta nữa. Chúng ta có thể nghĩ đến hình ảnh một học sinh lớp nhỏ, có ý nghịch ngợm mang trên lưng một bảng hiệu với lời thách thức: Mời bạn hãy đá vào người tôi. Chắc chắn thế nào cũng có vài học sinh nghịch ngợm khác đến đá thật vào học sinh mang bảng hiệu kia. Thái độ của ta đối với chính mình là như một lời mời gọi kẻ khác hãy có phản ứng đúng theo như vậy. Một người gặp nhiều phiền phức đến xin ý kiến một nhà tâm lý giáo dục về việc anh phải sống, hành động như thế nào, để đừng gặp phiền phức nữa với những người xung quanh. Nhà tâm lý đó trả lời như sau: Trước hết, anh hãy thay đổi chính mình, hãy thay đổi thái độ của anh đối với chính anh, rồi sau đó những kẻ xung quanh sẽ thay đổi thái độ của họ đối với anh.

Hãy biết rõ về chính mình và hãy thay đổi chính mình, để những kẻ xung quanh cũng thay đổi thái độ của họ đối với ta.

Câu nói này, hay nguyên tắc này, mở đầu xem ra như không có ý nghĩa gì, hay có ý nghĩa mà ta có thể cho là mâu thuẫn. Tại sao phải canh tân chính mình, canh tân nhất là chính mối tương quan của ta đối với ta trước?  Tại sao phải làm như vậy, để canh tân mối tương quan giữa ta với kẻ khác. Thí dụ như, nếu cứ nhìn mình với nhiều mặc cảm, ta đâm ra buồn bực với chính mình, rồi  làm cho người khác dễ bực dọc với ta. Thái độ của ta đối với chính ta là như tấm bảng hiệu báo cho kẻ khác biết ta là ai, và cám dỗ, hay thôi thúc họ có thái độ phản ứng lại, theo như ta muốn.

Nếu ta có thái độ nhìn mình như kẻ hèn kém thua thiệt, không đáng được kính trọng, khép nép đứng ngoài cửa, thì chắc chắn rằng thái độ như vậy sẽ làm cho kẻ khác không kính trọng ta. Nhưng nếu ta  có thái độ tự trọng và tự tín đối với chính mình, thì thái độ này cũng sẽ làm cho kẻ khác kính trọng ta. Hãy thay đổi thái độ đối với chính mình, thì những người xung quanh họ cũng sẽ tự động thay đổi thái độ của họ đối với ta.

Từ nguyên tắc trên, các nhà tâm lý giáo dục rút ra hay trình bày thêm cho chúng ta một nguyên tắc khác nữa, mà mới vừa nghe qua lần đầu, bạn có thể cho là mâu thuẫn. Nguyên tắc là: Chúng ta không thể yêu mến kẻ khác, nếu chúng ta không biết yêu thương chính mình. Nói cách khác, yêu thương chính mình la điều kiện tiên quyết phải có, để sống yêu thương kẻ khác. Nghe qua, nguyên tắc này như dạy chúng ta sống ích kỷ.

Mệnh lệnh của Thiên Chúa là hãy yêu thương anh chị em như yêu thương chính mình. Trên bình diện tâm lý, trong viễn tượng đã được giải thích, chúng ta có thể giải thích mệnh lệnh Chúa như sau: Hãy yêu thương chính mình trước, như thế bạn sẽ yêu thương được kẻ khác. Nếu bạn chối từ không yêu mến chính mình, thì bạn sẽ không thể nào yêu mến anh chị em xung quanh được. Thái độ của ta đối với chính mình là điều căn bản điều khiển khả năng yêu thương của ta đối với anh chị em xung quanh và đối với Thiên Chúa. Nếu thái độ của ta đối với chính mình bị què quặt, thì khả năng yêu thương của ta đối với anh chị em xung quanh cũng bị sứt mẻ, què quặt lây.

 Chúng ta có thể lấy thí dụ sau đây làm điểm quy chiếu:  Khi ta có thái độ nhàm chán đối với chính mình, thì ta sẽ không còn hăng say đủ để dấn thân phục vụ kẻ khác. Khi ta cảm thấy mình trống rỗng, thì ta khó mà sống yêu thương phục vụ anh chị em một cách hữu hiệu được. Khi ta nhìn mình trong viễn tượng yếm thế, chán đời, thì làm sao ta có thể dấn thân yêu thương phục vụ anh chị em. Khi ta cứ nghĩ lẩn quẩn với những tư tưởng tiêu cực trong tâm trí, thì làm sao ta có thể dấn thân phục vụ anh chị em.

Chính trong viễn ảnh tâm lý này, mà các nhà tâm lý gíao dục quả quyết rằng: ta phải yêu mến chính mình trước, để rồi có đủ khả năng yêu thương phục vụ anh chị em. Vấn đề căn bản ở đây là ý nghĩa đích thực của hành động yêu thương. Việc yêu thương chính mình, cần được hiểu như thế nào. Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa xấu, như là một thứ ích kỷ. Người ích kỷ không thể yêu thương  và phục vụ anh chị em. Dĩ nhiên là như vậy. Nhưng khi nói: yêu thương chính mình, để có khả năng yêu thương kẻ khác, thì các nhà tâm lý không có ý nói đến tình yêu ích kỷ. Không ai dại gì mà đi lấy tính ích kỷ làm nền tảng cho tình yêu vị tha đối với anh chị em xung quanh. Không phải như vậy. Các nhà tâm lý hiểu câu nói: Hãy yêu thương chính mình trước theo nghĩa tình yêu thương chân chính đối với chính mình, nghĩa là thái độ tích cực đối với chính mình, quý trọng phẩm giá và tài năng của mình. Những yếu tố này làm cho mỗi người chúng ta gia tăng khả năng sống yêu thương và phục vụ anh chị em xung quanh. Nói cách khác, ta càng sống, càng đối xử với chính mình một cách tích cực, thì ta càng được trưởng thành, được tự do, để yêu thương phục vụ anh chị em. Chúng ta càng có hình ảnh tích cực về chính mình thì chúng ta càng có khả năng sống phục vụ anh chị em xung quanh.

Nhưng không phải là một chuyện dễ dàng, để có một hình ảnh tích cực về chính mình. Mỗi người chúng ta có những yếu tố bất toàn cần lưu ý thăng tiến từ từ mỗi ngày một biến đổi tốt đẹp hơn. Chúng ta cần phải cố gắng luyện thân, luyện tm, luyện tánh mỗi ngày, để có hình ảnh tích cực về chính mình, để yêu thương chính mình một cách đích thực mà không rơi vào  sự ích kỷ,  để rồi sau đó luyện tập cho mình có khả năng sống yêu thương kẻ khác.

Kết luận cho những gì được chia sẻ trên đây, ta hãy suy nghĩ rồi liệt kê ra tất cả những đức tính, những yếu tố tích cực đáng yêu nơi chính con người mình. Hãy liệt kê ra tất cả, đừng quên sót bất cứ điều gì là tốt đẹp nơi bạn. Rồi hãy giữ kỹ bảng liệt kê này, lâu lâu đọc lại một lần, để nhắc bạn nhớ những gì là tích cực nơi chính bạn, nhất là khi bạn cảm thấy mình xuống tinh thần, buồn chán muốn buông xuôi. Ý thức về những đức tính tốt, những điều tích cực nơi mình, bạn sẽ củng cố được tinh thần tích cực nơi chính bạn, và từ từ luyện cho mình một thái độ sống tích cực hơn, và do đó, có khả năng yêu thương phục vụ hơn.

Phát triển những tính tốt, những tài năng mình có, không nên đưa ta đến thái độ tự kiêu khinh dễ kẻ khác không có nhiều điểm tích cực như ta. Làm sao để tránh có thái độ tự kiêu, khi nhìn đến những điểm tốt nơi chính mình? Liệu khi nhìn về những điều tốt nơi bản thân, chúng ta có bị rơi vào cám dổ sống tự phụ, kiêu ngạo, khinh dễ anh chị em xung quanh hay không?

Có thể có người nghĩ thầm rằng việc yêu mến những điều tốt nơi mình đi liền với sự kiêu ngạo và như thế nghịch lại với nhân đức khiêm nhường của đạo Chúa. Nếu  hiểu nhân đức khiêm nhường như là một sự chối bỏ những điều tốt mình có, vừa đồng thời cứ chú trọng đến những tật xấu, những lầm lỗi, thì quả thật thái độ yêu mến quý trọng những điều tốt nơi chính bản thân là một việc làm nghịch lại sự khiêm nhường. Nhưng sự khiêm nhường được hiểu như vậy,  quả thật không phải là sự khiêm nhường của đạo Chúa.

Một trong những giáo phụ của Giáo hội Công giáo, thánh Ambrosio, giám mục Milano, sống vào cuối thế kỷ thứ tư đã hiểu và giảng dạy rằng nhân đức khiêm nhường đích thực được gặp thấy trong bài ca Linh Hồn tôi ngợi khen Chúa, Magnificat, của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Đức Maria là mẫu gương nhân đức khiêm nhường đích thực.

Thánh giám mục Ambrosio đã gặp thấy nơi những lời kinh thánh vừa trích một định nghĩa đúng đắn cho nhân đức khiêm nhường. Nhân đức khiêm nhường trước hết đòi hỏi con người biết quý trọng, biết đánh giá tốt tất cả những hồng ân Thiên Chúa ban cho. Và từ đó, yếu tố thứ hai của nhân đức khiêm nhường làlòng biết ơn nhìn nhận rằng tất cả những hồng ân Thiên Chúa ban cho mình, là thuần túy những hồng ân nhưng không từ tình thương của Thiên Chúa đối với mình, chớ không do công nghiệp gì riêng. Không ai trong chúng ta có quyền đòi buộc Thiên Chúa phải làm điều này điều nọ cho mình. Vậy, biết đánh giá những điều tốt nơi mình như là hồng ân của Thiên Chúa, và dâng lời chúc tụng cảm tạ Thiên Chúa vì những hồng ân đó, đó là nhân đức khiêm nhường. Và một khi hiểu như vậy, ta nhận thấy rằng nhân đức khiêm nhường, không có gì nghịch lại với việc mỗi người chúng ta cần biết rõ tất cả những điều tốt nơi chính bản thân.

Kết thúc những chia sẻ về thái độ đối với chính bản thân, nhất là đối với những điều tích cực, những điểm tốt nơi con người mình, chúng ta cần lưu ý một nguy hiểm khác mà chúng ta có thể rơi vào, đó là quên mất những giới hạn của chính thực thể mình. Nhìn về những điều tốt nơi bản thân, không có nghĩa là không nhìn nhận những lỗi lầm, những thiếu sót, những giới hạn nơi chính bản thân. Không phải như vậy. Chúng ta nhìn đến những điều tích cực để được khuyến khích tiến lên mãi, nhưng đồng thời cũng cần ý thức về những bất toàn của mình, mặc dù ta không được để cho những bất toàn đó cản trở, kéo ta trở lui lại với những điểm tiêu cực, nhưng khơi day sự cố gắng vươn lên mãi, noi gương Thiên Chúa Cha chúng ta “Chúng con hãy nên trọn lành như Cha chúng con trên trời là Đấng trọn lành”.

Thiên Chúa Cha chúng ta, chấp nhận chúng ta với trọn cả thực thể tốt xấu. Ngài giúp ta chừa bỏ tật xấu và phát triển tính tốt. Những gì tốt ta có là từ Ngài và nhờ Ngài. Chính vì thế mà ta cần sống luôn trong niềm tri ân Ngài. Càng ý thức về điều tốt nơi mình, ta càng phải tri ân Thiên Chúa nhiều hơn nữa. Và đừng quên xin Thiên Chúa giúp chúng ta biến đổi, vượt thắng được những gì tiêu cực trong đời.

Khi chia sẻ với nhau về thái độ của mình đới với anh chị em, chúng ta cần phân biệt hai thái độ:

–         một là thái độ tự nhiên bộc phát, và

–         -hai là thái độ có huấn luyện.

Chúng ta không thể nào chỉ có thái độ tự nhiên bộc  phát đới với anh chị em mà thôi, mà cần phải có một thái độ “được huấn luyện” đối với anh chị em xung quanh. Chúng ta cần luôn luôn huấn luyện thái độ của mình đối với anh chị em. Và kết luận của bài chia sẻ lần trước là: Chúng ta huấn luyện thái độ của mình đối với anh chị em, dựa theo mẫu gương và lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Hôm nay, chúng ta chia sẻ tiếp về điểm nầy.

Trước khi nhắc đến lời dạy của Chúa Giêsu Kitô và mẫu gương sống của Ngài cho chúng ta noi theo, trong thái độ sống đối với anh chị em xung quanh, chúng ta cần biết rằng: có một sự thật mạc khải bao trùm trọn cả đời sống chúng ta;  đó là sự thật rằng: mỗi người chúng ta được tạo dựng bằng một hành động tràn đầy yêu thương của Thiên Chúa, được tạo dựng giống hình ảnh Ngài, Đấng là tình thương. Do đó, mỗi người chúng ta, để thực hiện ơn gọi căn bản của mình, cần phải sống yêu thương, và cần trở nên phương thế giúp anh chị em xung quanh sống yêu thương.

Mỗi người chúng ta được Thiên Chúa Tình Yêu tạo dựng giống hình ảnh Ngài, vì thế mỗi người chúng ta đều có thể sống ơn gọi của mình, sống yêu thương anh chị em xung quanh. Mỗi người chúng ta đều có thể được huấn luyện để sống yêu thương anh chị em xung quanh. Mẫu gương và lời dạy của Chúa Giêsu Kitô có thể được tóm gọn trong những câu Phúc Am sau đây:

“Con hãy yêu mến Thiên Chúa là Chúa con, với hết tâm hồn, hết trí khôn. Đây là giới răn cao cả nhất và quan trọng nhất. Nhưng mệnh lệnh thứ hai cũng quan trọng như vậy: Hãy yêu thương người lân cận như chính mình con. Trọn cả lề luật của Môsê và các lời giảng dạy của các tiên tri đều được tóm gọn trong hai mệnh lệnh vừa nói.”

Là những đồ đệ của Chúa, chúng ta biết rõ rằng Chúa Giêsu thống nhất hai khía cạnh của mệnh lệnh vừa kể. Một người không thể nào nói mình yêu mến Thiên Chúa, mà không yêu mến anh chị em . Một thi sĩ người Pháp, ông Charles Péguy đã có một lần quả quyết rằng: Nếu chúng ta cố gắng đến với Chúa một mình, thì Ngài sẽ hỏi chúng ta những câu hỏi có thể làm ta lúng túng như sau: đâu là anh chị em của con, anh chị em con đâu mất cả rồi, con có dẫn đưa họ đến đây chung với con hay không? Đối với Charles Péguy, không ai có thể đến với Chúa một mình.

Nhìn về chính mình, ta có thể nhận thấy dường  như  ta có hai bộ mặt, một dễ thương và một đáng ghét, với những tật xấu của mình. Và con người đáng ghét này lại càng trở nên đáng ghét hơn nữa, khi bị kẻ khác công kích, khinh dể. Ngược lại, lòng tốt của kẻ khác đối với ta, có thể khơi dậy nơi ta những gì tốt lành, có thể làm cho con người tốt của ta được xuất hiện. Đôi khi, chính ta không biết được những gì tốt lành được tích chứa nơi chính con người mình. Phải nhờ đến sự thông cảm, hay lòng tốt của anh chị em xung quanh, để biết điều gì tốt nơi chính ta, và để thể hiện được điều tốt đó.

Ap dụng điều này vào trong việc huấn luyện nhân cách mình, huấn luyện thái độ  của ta đối với anh chị em, thì chúng ta có thể nói rằng: Mỗi người chúng ta cần sống như thế nào để giúp anh chị em phát triển được điều tốt nơi họ. Chính Chúa Giêsu đã sống, đã thực hiện điều này trước hết nêu gương cho chúng ta. Ngài yêu thương hết mọi người, Ngài đến với mọi người với tình thương và sự thông cảm của Ngài, để rồi từ đó Ngài khơi dậy điều tốt nơi chính kẻ Ngài gặp. Chúa Giêsu có khả năng khơi dậy điều tốt bị chôn vùi trong thâm tâm con người. Và Ngài muốn chúng ta noi theo gương Ngài mà làm như vậy: Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con.

Chúng ta nhìn thấy thái độ của Chúa trong biến cố Chúa đến với ông Giakêu. Kẻ khác khinh dể ông, nên đã không cải hóa được ông. Nhưng Chúa Giêsu đến với ông, thông cảm yêu thương ông, nên đã cải hóa được ông, đã khơi dậy lòng tốt của ông đã bị chôn vùi từ lâu, không được phát triển. Sau khi gặp Chúa, ông Giakêu đã được biến đổi hoàn toàn. Chúng ta được mời gọi sống như Chúa, được mời gọi có thái độ đối với anh chị em giống như Chúa đã nêu gương. Chúng ta hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương chúng con. Chúng ta được mời gọi sống như thế nào đối với anh chị em xung quanh, để có thể khơi dậy điều tốt nơi họ, giúp họ phát triển khả năng tốt lành của họ.

Trên bình diện tâm lý, thì trước hết, trước khi có thái độ thông cảm yêu thương anh chị em, thì chúng ta cần có thái độ đầu tiên, được gọi là “empathy”, là thái độ hướng đến anh chị em trong tình thương mến. Empathy chưa phải là sympathy. “Sympathy” là có thiện cảm rồi. Nhưng empathy, mới là bước đầu, là mới có thiện chí hòa đồng, thiện chí chấp nhận, hòa theo nhịp điệu sống của anh chị em, đặt mình vào trong hoàn cảnh của anh chị em, là tìm thông cảm với họ trước.

Để thực hiện bước đầu này, thì ta cần phải bước ra khỏi cái tôi của mình, bước ra khỏi những suy tư chủ quan của mình. Khi tôi có thái độ empathy, muốn hòa đồng với kẻ khác, thì tôi phải từ bỏ cái tôi, để cùng đồng hành với kẻ khác. Một khi thực hiện được bước thứ nhất rồi, từ bỏ chính mình, để đến với anh em, ta cần thực hiện bước thứ hai (sympathy), sống thiện cảm với anh chị em, sống biết tơn trọng phẩm giá của người khác, là biết đánh giá điều tốt nơi kẻ khác. Chỉ khi nào biết quên mình và kính trọng kẻ khác, thì ta mới thương yêu kẻ khác, mới TRUYỀN THƠNG hữu hiệu với Anh chị em. (NVT gợi ý )

Kính Mời đọc thm cc số của CHƯƠNG HAI 76-101: Những cm dỗ của những người lm mục vụ.

Ngồi ra, chng ta cần ý thức về những hồn cảnh cụ thể của truyền thơng trong việc mục vụ.

Cĩ ba loại hồn cảnh chính:

1. Tuỳ theo tâm tính người mà chủ chăn gặp.

2. Tuỳ theo mức độ cảm nhận của mối tương quan được thiết lập.

3. Tuỳ theo mục tiêu được đề ra.

Trong cả ba hoàn cảnh cụ thể, vấn đề căn bản nhất tiềm ẩn trong cả ba hoàn cảnh là : đâu là những điều kiện tâm lý nơi chính vị mục tử khi phải tiếp xúc với những hoàn cảnh trên?

Từ phía con người đến thông truyền với vị mục tử, chúng ta có thể xét đến những thái độ như sau:

1. Người sẳn sàng và đáp ứng mau mắn ( Gn 1, 35-39).

2. Người ít được chuẩn bị (x. trường hợp Nicôđêmô đến với Chúa Giêsu).

3. Người không để mình được hướng dẫn ( x. người thanh niên giàu bỏ đi, Mc 10,17-22).

4. Người không tìm kiếm nhưng sẳn sàng để mình được hướng dẫn ( x. trường hợp ông Zakêô ,lc 19, 1tt).

5. Người không tìm, v khĩ để mình nhập cuộc nhưng sau đó thì sẳn sng ( x. người nữ samaritana , Gn 4).

6. Người không tìm v khơng để mình thuận theo điều gì cả, nhưng có thái độ chống lại và từ chối (x. kẻ trộm dữ trên thập giá).

Phải hành xử như thế nào đây?????

Xin đọc thêm Chương BA của tơng huấn EG: Việc công bố tin mừng, nhất là nơi các số  112 – 117.

Chia sẻ MXH:
CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031