Một phần của vấn đề có phải là con trai thì dễ tiếp cận hơn không?
Đúng, tất nhiên, như tôi đã nói, chúng ta thấy giai đoạn được điều tra trong tất cả các báo cáo này là vào khoảng năm 1945, 1950 đến 2010, hoặc Ủy ban Hoàng gia năm 2018, và cho đến 20, 25 năm trước, các linh mục giảng dạy trong các trường nam, chỉ có các con trai mới được giúp lễ..v.v.
Vấn đề độc thân bắt buộc là một trong các vấn đề được Ủy ban Hoàng gia đưa ra. Cha nghĩ gì có những người nghĩ rằng độc thân bắt buộc là một yếu tố góp phần vào cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục và cần được bãi bỏ?
Không có ảnh hưởng nhân quả giữa độc thân và ấu dâm và chính Ủy ban Hoàng gia đã tuyên bố như vậy, rằng sự độc thân không dẫn đến hành vi lạm dụng theo nghĩa đơn phương. Nó có thể trở thành một yếu tố nguy cơ khi qua năm tháng, người linh mục không sống tốt tình trạng độc thân, khi đó có thể dẫn họ đến tình trạng nghiện rượu, lạm dụng hình ảnh khiêu dâm trên Internet, lạm dụng người lớn hoặc trẻ vị thành niên. Độc thân bắt buộc không phải là giáo điều nên nó có thể thay đổi.
Vấn đề là 99,9% của tất cả những kẻ đi lạm dụng là họ không sống một cuộc sống độc thân. Vì vậy, câu hỏi trước hết là làm thế nào để đối phó với thực tế đó? Thứ hai là, 95% tất cả các linh mục không phải là người đi lạm dụng, vì thế độc thân rõ ràng không dẫn đến hành vi lạm dụng, nhưng theo thời gian và thời gian khá dài, các linh mục lạm dụng lần đầu tiên lúc 39 tuổi, đây là một dữ kiện khoa học đã được chứng minh. Lớn tuổi hơn nhiều so với một huấn luyện viên, một giáo viên, hoặc một nhà tâm lý khi họ lạm dụng lần đầu tiên ở tuổi 25. Vì vậy, độc thân trở thành một vấn đề nếu nó không được sống, không được hội nhập vào trong một lối sống lành mạnh.
Giáo hội tại Úc ở đây đã bị các phương tiện truyền thông chỉ trích là đã từ chối đề nghị của Ủy ban Hoàng gia bỏ Ấn tòa trong các trường hợp ấu dâm. Người ta cho rằng nếu Giáo hội thực sự muốn minh bạch thì phải ngăn chặn tất cả các bí mật kể cả Ấn tòa. Câu trả lời của cha là gì?
Họ không nghe những gì đã được lặp đi lặp lại nhiều lần. Làm cách nào để biết ai đang xưng tội với tôi? Tôi không biết tên của họ, đó là một phần của việc xưng tội. Hoặc chúng ta bỏ đi mọi xưng tội và không còn xưng tội nữa, hoặc chúng ta có lời xưng tội của một người mà mình không biết. Vậy làm cách nào tôi biết tên và có thể báo cáo người đó? Và nếu chúng ta lấy đi yếu tố này, yếu tố tôi không biết ai là người đến xưng tội, thì chắc chắn sẽ không ai đi xưng tội. Và họ đã phóng đại con số người đi xưng tội. Họ nghĩ hàng tuần mỗi giáo dân, mỗi người công giáo đều đi xưng tội sao. Thời buổi này ai còn đi xưng tội? Tôi nghe nhiều linh mục nói, và tôi có thể xác nhận, trong hàng chục năm làm linh mục, tôi chưa bao giờ nghe một người lạm dụng nào đi xưng tội.
Còn về vai trò của chủ nghĩa giáo quyền trong các vụ ấu dâm và việc bao che trong Giáo hội?
Chắc chắn ở đây có vấn đề của chủ nghĩa giáo quyền nếu chúng ta định nghĩa giáo quyền như cách mọi người định nghĩa và sống quá hơn vai trò và địa vị của mình, chứ không theo tính cách và năng lực cá nhân của mình. Tôi đã rất ngạc nhiên và được làm sáng tỏ qua các lời bình phẩm của các giáo dân tôi nghe trong những ngày gần đây, rằng chủ nghĩa giáo quyền không chỉ dành cho giáo sĩ. Các giáo dân cũng có thái độ giáo quyền, và đó cũng là vấn đề. Khi họ bám vào uy tín và họ lượng giá tầm quan trọng của họ qua số nhân viên họ có, qua loại xe họ lái, v.v.
Một lời chỉ trích khác của Giáo hội liên quan đến cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục là không có nhiều phụ nữ trong vai trò lãnh đạo. Cha có nghĩ rằng điều đó sẽ tạo khác biệt đáng kể liên quan đến ấu dâm không?
Tôi sẽ nói phụ nữ chắc chắn sẽ được và sẽ có nhiều chức vụ hơn trong các vị trí lãnh đạo. Chính Đức Giáo hoàng đã làm chuyện này trong những năm vừa qua. Điều này sẽ tiếp tục. Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe trong một cuộc hội thảo, một phụ nữ phát biểu đã làm việc nhiều cho bình đẳng nam nữ, nhưng bà cảnh báo, không phải để giải quyết vấn đề quyền lực mà thay thế phụ nữ vào công việc của đàn ông. Đó không phải là tình huống.
Trong các cuộc phỏng vấn khác, cha cho rằng cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục này không phải là vấn đề của người công giáo tiến bộ và bảo thủ. Cha nghĩ gì về việc này?
Tại Mỹ, trong một thời gian dài, chúng ta có một cuộc tranh luận rất mạnh mẽ, một cuộc thảo luận lớn và dữ dội giữa những người tự do và bảo thủ. Nhưng sau khi bức thư của giám mục Viganò đưa ra, thì đây là một vấn đề liên quan đến toàn Giáo hội. Để ra bên ngoài các đảng chính trị của Giáo hội, bởi vì chúng ta có các vụ lạm dụng ở bên này bên kia và chúng ta có những người bên này bên kia muốn cải thiện, vì vậy đây có thể là cây cầu có lợi cho việc tạo ra một Giáo hội an toàn hơn cho trẻ em.
Nếu những cáo buộc chống lại cựu hồng y McCarrick là đúng, thì cha có nghĩ có nhiều người trong hệ thống cao cấp đã biết và che đậy bằng cách không làm gì hết không?
Chúng ta cần biết có bao nhiêu người biết thực sự về những cáo buộc này. Tôi cho rằng sẽ rất ít vì rõ ràng cáo buộc chỉ được chuyển đến cho một số rất ít người. Nếu chúng ta nghe tin đồn, nếu chúng ta nghe một số người nói họ nghe nói, thì chúng ta không ở trong một bối cảnh đầy đủ và sẽ làm giảm trách nhiệm của chúng ta về điều này. Vì vậy, tôi không nghĩ rằng sẽ có nhiều người bị truy tố rõ ràng. Sẽ có rất ít người biết chính xác những cáo buộc đó là gì.
Cha có tín nhiệm vào lời chứng của Giám mục Viganò không? Cha có nghĩ cần phải điều tra vụ này không?
Có, tôi nghĩ cần phải điều tra. Trong những ngày gần đây, tôi thấy rất nhiều, rất nhiều các câu hỏi nổi lên về bằng chứng khả tín của lời tố cáo này. Ở nhiều khía cạnh, thời điểm lời tố cáo mở ra câu hỏi về các lợi ích chính trị dẫn đến việc công bố bức thư này, chính xác lúc Đức Phanxicô đi Ai Len chấm dứt cuộc viếng thăm của mình. Vì thế có rất nhiều câu hỏi được đặt ra.
Cha có nghĩ câu trả lời của Đức Phanxicô với các nhà báo rằng ngài sẽ không nói một lời về chuyện này và họ phải tự tìm hiểu, có đủ cho các tín hữu bị tổn thương và hoang mang vì cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục này không?
Tôi nghĩ ngài đã cố gắng nói, ngài nói theo nghĩa đen là “lúc này tôi không thể nói gì. Các nhà báo làm công việc của họ, sau đó tôi sẽ quay trở lại sau”. Chính xác ngài xin các nhà báo làm những gì nhiều người yêu cầu các nhà báo làm, và không cố thuyết phục họ bằng cách nói “tôi đã không làm điều gì sai cả ra”. Tôi nghĩ theo nghĩa đó, ngài kêu gọi tất cả chúng ta phải tỉnh táo và không đơn giản là tin vào những gì chúng ta đọc… Hãy đi và kiểm tra mọi thứ. Tôi thấy bây giờ có rất nhiều bài báo đã đặt vấn đề khả tín của cáo buộc của giám mục Viganò, có nhiều yếu tố sai lầm về các sự kiện, nhiều thiếu sót trong thư, có nhiều câu hỏi mở khác liên quan đến vấn đề và cũng như nhiều người khác trong chúng ta, tôi hy vọng Đức Phanxicô hay Tòa Thánh sẽ trả lời.
Đâu là chìa khóa để ngăn chặn cơn khủng hoảng tình dục này tái phát?
Điều quan trọng là mọi người ý thức được sự lạm dụng đang xảy ra, những gì họ nói ra, những gì họ thông báo cho người mà họ có thể báo cáo. Và sau đó là quá trình đúng đắn được tuân theo. Tôi muốn cảnh báo về suy nghĩ rằng nó sẽ kết thúc một lần và mãi mãi. Đây là quan điểm của tôi về một ảo tưởng nguy hiểm vì sự dữ sẽ xảy ra với chúng ta và chúng ta sẽ không thể loại trừ mọi lạm dụng, đơn giản chỉ vì chúng ta có các nguyên tắc mới. Đây là một bước cần thiết và rất quan trọng, nhưng không phải là một bước đầy đủ theo nghĩa chúng ta sẽ không bao giờ loại được người nào đó muốn đi lạm dụng người khác.
Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải tiếp tục học hỏi và phổ biến thông tin về báo cáo v.v và đó là công việc của Trung tâm Bảo vệ Trẻ em của Đại học Gregoria mà tôi là chủ tịch. Chúng tôi có các chương trình đào tạo trực tuyến, chúng tôi có các chương trình tại chỗ cho các nhân viên bảo vệ trong tương lai và đây là cách chúng tôi tin rằng sự thay đổi có thể xảy ra.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch






