TIN MỪNG CHO TOÀN DÂN
Lc 2,1-14
1.Khi đặt vòng hoa tại nghĩa trang lính Đức, tổng thống Reagan (1984-1992) kể lại câu truyện xẩy ra ngày lễ Noel 1944 như sau:
Một cuộc chiến ác liệt diễn ra giữa quân đội Hoa Kỳ và Đức gần một khu rừng. Ba người lính Mỹ, có một bị thương, đã chạy lạc vào khu rừng tối một căn nhà hẻo lánh của một bà góa có một đức con trai. Họ vào nhà xin ăn. Bà chủ chỉ còn đủ ăn một bữa, nhưng cũng nhường cho ba người lính Mỹ ăn. Họ vừa ngồi xuống, bên ngoài có tiếng gõ cửa. Bà chủ biết là lính Đức, bà can đảm la lớn: Xin các người đừng chém giết trong nhà tôi trong ngày lễ Noel. Rồi bà mở cửa. Bốn lính Đức để súng ngoài cửa, vào cùng ngồi ăn với ba lính Mỹ. Một anh lính Đức là sinh viên y khoa đã băng bó cho anh thương binh Mỹ. Họ đã quyết định sống hòa bình trong ngày lễ Noel và lính Đức đã chỉ đường cho lính Mỹ về doanh trại quân đội Mỹ. Câu truyện này được người con trai bà chủ kể lại khi anh lớn lên.
Noel đã biến đổi hận thù nên bạn hữu, chém giết thành cứu sống, chiến tranh thành hòa bình. Đó là Tin Mừng cho toàn thế giới. Tin Mừng này được diển tả qua 3 bài đọc Lời Chúa hôm nay. Mỗi bài nói lên một quang cảnh, một thực tai kỳ diệu.
Bài Phúc Âm đưa Tin mừng cho khắp thiên hạ đang lao đao cực khổ trong cảnh kiểm tra dân số. Dù nghèo khổ và ở tận cùng miền Bắc đất nước như Giuse cũng phải về quê quán tận cùng miền Nam. Dù thân liễu yếu mang nặng đẻ đau như Maria cũng phải bỏ nhà ra đi hàng trăm cây số. Dù trẻ sơ sinh còn nằm trong máng cỏ cũng phải bế bồng đi trình diện khai tên ghi sổ! Con Thiên Chúa đến đem tiếng hát Thiên Thần an ủi toàn dân. Người đến chia sẻ bao nỗi nhọc nhằn đắng cay của toàn dân, làm ấm áp bao cõi lòng tê tái giá buốt, và xoa dịu những tâm hồn thương đau (Lc 2,1-14).
Bài Sứ ngôn Isaia báo Tin Mừng cho toàn dân được thấy ánh sáng huy hoàng. Ánh sáng đến như một cố vấn kỳ diệu soi sáng muôn dân thấy sự sống vinh quang, giải thoát họ khỏi kiếp sống dưới ách đè lên cổ, cái gậy đập xuống họ, cái roi của kẻ hà hiếp. Tất cả chế độ nô lệ tăm tối đều bị bẻ gẫy.
Ánh sáng đó soi cho muôn dân chiêm ngắm một Thượng Đế oai phong lẫm liệt, ban cho họ chứa chan hồng phúc. Thiên hạ sẽ vui mừng hoan hỉ trong cảnh trời mới đất mới.
Ánh sáng đó dẫn họ trở về Người Cha muôn thuở yêu thương nồng nhiệt, ban tặng Người Con chí ái đến cứu độ ta, cho ta được làm con cái Thiên Chúa. Ánh sáng đó cho họ thấy hoàng tử Bình An đến đốt sạch những chiếc giầy lính lộp cộp, những chiến bào đẫm máu, nhưng vương trượng của kẻ áp bức, để thiết lập một nền hòa bình vô tận công minh chính trực từ nay cho đến muôn đời (Is. 9,2-7).
Tất cả những cảnh huy hoàng của Tin Mừng Giáng Sinh xưa kia cho chúng ta và tất cả thế giới hôm nay một nguồn vui vô tận trong tâm hồn cũng như ngoài thể xác. Bên ngoài, bao nhiêu cuộc vui Giáng Sinh như những cửa hàng chồng chất quà Giáng Sinh, những thiệp mừng chúc Noel mỹ thuật, những hang đá rực rỡ ánh đèn mầu, những cây thông phơi mầu xanh mát dịu, những bài thánh ca trong điệu nhạc du dương, những buổi lễ long trọng giữa rừng người vui tươi, những đoàn người trang phục thanh nhã đủ mầu nối đuôi nhau trên đường phố, những bữa tiệc thơm ngon, ấm cúng trong các gia đình v.v.. Tất cả đều biểu lộ niềm vui của ngày lễ Giáng Sinh. Bên trong nguồn vui vòn lớn lao vô cùng như thánh Phaolô đã nhấn mạnh cho chúng ta phải biết khắc sâu ân sủng của Thiên Chúa.
Ân sủng đó là gì? Thưa: “ Chính là Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa vĩ đại, và là Cứu Chúa vinh hiển của chúng ta” (Tt 2,11-14)
2. Vừa là Con Thiên Chúa, vừa là loài người, Đức Giêsu Kitô đã đến nối kết trời và đất. Người là Đấng Trung Hòa. Trong Người trời và đất không còn xa nhau, không còn khoảng cách. Tất cả đều nên một cho nên phải nói: Người thực sự là Đấng “ Chí Trung Hòa“, là Đấng “Thái Hòa” thực hiện đúng lý tưởng của văn hoá Đông Phương hằng mong ước. Người là Con Thiên Chúa. Người nên một với Thiên Chúa: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga10,30).
Một tình yêu: “ Chúa Cha yêu Con, và tỏ cho Con biết mọi điều Người làm. Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm, vì điều Chúa Cha làm, thì Con cũng làm“. “Chúa Cha làm cho kẻ chết sống lại, thì Con cũng ban sự sống cho họ như vậy” (Ga 5,19-21)
Đó là một sự hòa hợp “ Cha Con” trong một tình yêu, một sự sống, một hành động, một tri thức để “trong Chúa Con mà vạn vật được tạo thành và cứu chuộc” (Ga 1,3;3,17).
Hoà đồng nên một với Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô còn đồng hóa mình với loài người. Nhận mình là những người khốn khổ như Người nói: “ Ta đói, Ta khát, Ta là khách lạ, Ta trần truồng, Ta đau yếu, Ta ở trọ…” “Mỗi lần các ngươi làm cho anh chị em bé mọn nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,35).
Sao Người đã đồng hoá với mọi người đến cùng cực như thế? Thánh Phaolô đã giải thích: “ Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần gian. Người lại còn hạ mình vâng lời bằng lòng chịu chết trên thập giá” (Phil. 2,1-8). Người đồng hóa như vậy đó: “cho loài người tham dự với Người vào các mầu nhiệm Thiên Chúa. Biến đổi loài người nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Cầu bầu cho nhân loại, và cứu rỗi họ bằng sự chết của mình“(Thân văn Tường: Kitô Học tr. 136). Chính Đức Kitô còn nói rõ Người đồng hóa với ta như thế: “Ta là cây nho, anh em là cành nho” (Ga 15,5). Sự đồng hóa đó hoàn toàn nên một: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha… Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một” (Ga 7,21-23).
Đây mới là Tin Mừng thật sự cho loài người.
Theo Đông Phương, Đức Giêsu Kitô là Đấng “ Chí Trung Hòa“. Chữ Trung: O gồm nét sổ thẳng chính giữa tâm hình tròn. Hình tròn biểu tượng thái cực là Trời, là Thiên Chúa. Hình tròn viết thành chữ thì biến thành hình vuông, vuông chỉ đất là người. Nét sổ thẳng chính trung tâm vuông tròn không xê dịch, đó là Chí Trung, dấu chỉ Đức Giêsu Kitô là trung tâm trời đất. Còn Chí Hòa, chữ Hoà gồm chữ Hoà là lúa và chữ Khẫu là miệng : *P* cơm bánh là thực phẩm hợp khẩu vị nhất, là đồ ăn hoà đến cùng cực để trở nên sự sống của loài người. Đức Kitô đã biến bánh miến và rượu nho trở nên Thịt Máu mình để trở nên của ăn của uống ban cho chúng ta sự sống muôn đời. Một sự hoà đồng cùng cực: “Chí Hoà“. Thật Người là Đấng Chí Trung Hòa để cho tất cả nên một. Thiên Chúa và con người không còn xa cách, không còn khoảng không gian nào phân ly được nữa…”.
Đức Giêsu Kitô sinh là Đấng Chí Trung Hòa đem niềm vui trọn vẹn cho Thiên Chúa và cho nhân loại trong tình yêu hợp nhất, một sự sống vô tận. Không còn niềm vui nào lớn lao hơn nữa.
Lạy Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, vì thương yêu đã xuống thế làm người, ở giữa chúng con, ở trong chúng con, nên một với chúng con, để thăng tiến chúng con, thánh hiến chúng con, làm cho chúng con nên một trong nguồn sống vinh phúc của Thiên Chúa là Tình Yêu. Lạy Chúa! thật là tuyệt vời khi chúng con cảm nghiệm được tình yêu chan hòa vô tận đó. Amen.
Lm Vũ Khắc Nghiêm
Đêm Giáng sinh chìm trong lớp lớp bóng tối dày đặc.
Bóng tối tự nhiên của một đêm mùa đông ảm đạm. Bóng tối cay đắng của đêm dài nô lệ khi đất nước chìm trong ách thống trị ngoại bang. Bóng tối âm thầm nhẫn nhục của những kiếp người nghèo hèn lam lũ. Bóng tối âm u trong túp lều lúc nhúc súc vật hôi tanh. Bóng tối u mê của tội lỗi nhơ nhớp.
Giữa màn đêm dày đặc, Hài nhi Giêsu xuất hiện như một làn ánh sáng rực rỡ.
Đó là ánh sáng tình yêu.
Tình yêu vốn là một ngọn lửa vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm. Hài nhi Giêsu là kết tinh tình yêu của Thiên chúa dành cho nhân loại. Tình yêu đã đi đến tận cùng vì đã trao ban cho nhân loại món quà cao quí nhất không gì có thể so sánh được. Trao ban Đức Giêsu là cho tất cả, không còn có thể cho thêm gì nữa. Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu Thiên chúa đi tìm con người. Thiên chúa đã hạ mình thẳm sâu để xuống gặp con người. Thiên chúa đã tìm thấy con người trong những khốn cùng tột độ của nó. Thật lạ lùng, Thiên chúa quá yêu thương đến độ kết hợp với sự khốn cùng của nhân loại. Thiên chúa đã cưới lấy bản tính nhân loại. Bóng đêm nhân loại nhận được ánh sáng của Thiên chúa. Bóng đêm khổ đau nhận được ánh sáng yêu thương. Anh sáng Thiên chúa soi sáng kiếp người tăm tối. Ánh sáng Thiên chúa sưởi ấm cho nhân loại lạnh lẽo.
Đó là ánh sáng niềm tin.
Anh sáng Giáng sinh chiếu toả trên những tâm hồn thiện chí. Đêm nhân gian vẫn còn mê đắm. Nhưng vẫn có những tâm hồn thiện chí tỉnh thức. Đó là những tâm hồn bé nhỏ nghèo hèn. Đó là những cuộc đời khiêm tốn sống âm thầm trong bóng tối. Đó là những người nghèo của Thiên chúa. Đó là thánh Giuse, Đức Maria. Đó là Ba Vua. Đó là các mục đồng. Khiêm nhường nên các ngài sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên chúa. Tỉnh thức nên các ngài nhạy bén đón nhận những dấu chỉ Thiên chúa gửi đến. Thiện chí nên các ngài hăng hái lên đường ngay khi nhận được tín hiệu. Đơn sơ nên các ngài nhận được ánh sáng. Hê rô đê và Giê ru sa lem chìm trong mê đắm nên ngôi sao đã tắt. Trái lại “vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh các mục đồng”. Và ngôi sao xuất hiện dẫn đường cho Ba Vua. Anh sáng đã bao phủ các ngài. Anh sáng đã dẫn đưa các ngài đến bên máng cỏ. Anh sáng đã khiến các ngài nhìn thấy “một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” và các ngài đã tin.
Đó là ánh sáng hi vọng.
Hài nhi Giêsu là hạt giống bé bỏng Thiên Chúa gieo vào thế giới. Những tâm hồn thiện chí là mảnh đất phì nhiêu. Những người nghèo của Thiên chúa âm thầm kiên trì chờ đợi. Những tâm hồn thiện chí như Ba Vua ngước mắt lên trời tìm kiếm. Niềm khao khát đã được đáp ứng. Đã đến mùa Thiên chúa gieo hạt. Hạt mầm thần linh gieo vào xác phàm sẽ thần hoá cả nhân loại. Hạt giống Giêsu sẽ triển nở thành cây cao bóng cả cho muôn loài trú ngụ. Mặt trời bé nhỏ Giêsu sẽ trở thành mặt trời chính ngọ soi chiếu đêm tối nhân gian. Anh bình minh Giêsu hứa hẹn một ngày mới chan hoà ánh sáng. Với Hài nhi Giêsu, một thời đại mới khởi đầu : những người bé nhỏ được nâng lên, những người nghèo hèn được kính trọng. Giê su chính là hạt mầm hi vọng Thiên chúa gieo vào thế giới.
Đó là ánh sáng Tin mừng.
Được thắp lửa, những tâm hồn thiện chí trở thành những ngọn đuốc, không chỉ sáng lên niềm vui, niềm tin, niềm hi vọng, mà còn chia sẻ ánh sáng với những người chung quanh. “Họ kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này”. Tin mừng được loan đi. Niềm vui lan tới mọi tâm hồn. Anh sáng bừng lên phá tan đêm tối.
Hài nhi Giêsu như mầm cây vừa nhú. Mầm cây cần bàn tay ân cần chăm bón để vươn thành cổ thụ cành lá xum xuê. Hài nhi Giêsu như ngọn nến đem ánh sáng vào đêm tối. Ngọn nến cần được nhiều bàn tay liên đới chuyền nhau cho ánh sáng lan rộng.
Xin cho con được trái tim của các mục đồng biết mở lòng ra đón nhận ánh sáng và biết đem ánh sáng của Chúa đi khắp nơi, để đêm tối trần gian được ngập tràn ánh sáng huy hoàng của Chúa .
Ðức Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt
Hằng năm, cứ vào dịp trước Lễ Giáng Sinh, chúng ta thường gửi các thiệp chúc mừng cho những người thân quen hay chúng ta thường nhận được các thiệp chúc mừng của những người khác. Dù là những lời cầu chúc nào thì nội dung vẫn là : “Chúc mừng một lễ Nô-en, một lễ Giáng Sinh tràn đầy niềm vui”. Lời chúc mừng mà chúng ta cầu chúc cho nhau như thế, không phải là một câu khách sáo, xã giao hay chỉ là một sự biểu lộ tình cảm rất thông thường, nhưng là một lời cầu chúc đầy ý nghĩa và đáng cho chúng ta suy nghĩ.
Long trọng mừng lễ Giáng Sinh là chúng ta nhắc lại một biến cố trọng đại : Chúa Kitô đến trần gian để cứu chuộc chúng ta. Sự kiện giáng sinh của Ngài đã chia lịch sử nhân loại ra làm hai phần. Ngày sinh ra của Ngài đã thành mục tiêu để tính thời gian và mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới. Năm nay là năm 2005 tức là Chúa Giêsu đã giáng sinh được 2005 năm. Và kỷ nguyên chúng ta đang sống là kỷ nguyên được sống, được hưởng ơn cứu độ của Ngài.
Quả thực, một đứa trẻ sinh ra vào một đêm đông giá rét, trong thôn xóm nhỏ bé Bê-lem, thuộc một nước ở vùng cận đông, dưới con mắt người đương thời, không những bình thường mà còn tầm thường hơn những hài nhi khác. Nhưng sự chào đời của Hài Nhi này lại là một niềm vui cao cả, trọng đại, đặc biệt. Một niềm vui là khởi điểm của tất cả các niềm vui và vượt lên trên hết các niềm vui. Bởi vì đây chính là Đấng Cứu Thế, chính ơn cứu độ mà nhân loại đã mòn mỏi chờ mong, trông đợi từ bao nhiêu thế kỷ, nay đã đến, Ngài đã giáng sinh.
Chúa Kitô đã giáng sinh. Đó là niềm vui to lớn, vĩ đại nhất, như lời sứ thần nói với các mục đồng : “Này tôi loan báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là niềm vui cho toàn dân : Hôm nay, Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít. Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa”. Quả thực, đó là tin vui mừng nhất mà thế giới có thể nhận được, đó là khởi điểm của mọi tin mừng, và các biến cố xảy ra sau tin vui này, không có biến cố nào quan trọng hơn.
Khoảng 30 năm sau, người ta lại thấy một thanh niên rảo khắp các nẻo đường nước Pa-lét-tin, rao giảng Tin Mừng và cuối cùng chết nhục nhã trên thập giá. Đó không phải là một con người bình thường nhưng là một nhân vật khác thường của thế giới và làm thay đổi cả thế giới.
Từ đó đến nay, không ai đã để lại dấu tích sâu đậm trong lịch sử bằng Ngài. Không nhà cách mạng nào đã biến đổi thế giới như Ngài. Không vị cứu tinh nào đã được nhân loại mong chờ hằng bao đời như Ngài. Không có tên ai năng được nhắc đến như tên Ngài. Không vua chúa nào có thể tự hào được thần dân tùng phục cách trung tín như Ngài. Không có vị ân nhân nào dám tưởng mình được người ta yêu mến, say mê cuồng nhiệt như Ngài. Cho nên, Chúa Giêsu không phải chỉ là một nhà cách mạng, một nhà hiền triết, một vị thủ lãnh hay bất cứ một thứ người quan trọng nào, nhưng Ngài là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa, làm một với Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu chuộc loài người.
Thực ra, muốn cứu chúng ta, Chúa Giêsu đâu có cần phải xuống thế, phải nghèo, phải khổ, phải nhục, phải chết. Nhưng tất cả những sự ấy, Ngài đã lãnh nhận chỉ vì Ngài yêu chúng ta, yêu đến tận cùng, yêu không bờ bến. Vì thế, trong các nhà thờ cũng như trong tất cả những gia đình tin kính Ngài, luôn có ảnh tượng Thánh Giá, để nhắc nhở mọi người nhớ đến tình yêu cao cả và trọn vẹn của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Lễ Giáng Sinh là đại lễ, là ngày hội vui của tình thân ái. Thiên Chúa là Đấng đã bắc lên nhịp cầu thứ nhất, nối kết trời với đất, Thiên Chúa với con người khi Con Một xuống thế làm người. Rồi chính Ngài cũng bắc một nhịp cầu thứ hai, nối kết những ai đến với Ngài lại với nhau. Nói rõ hơn, Chúa yêu thương mọi người, Chúa muốn mọi người đáp lại tình thương của Ngài bằng việc yêu mến Ngài và yêu thương nhau.
Hôm nay chúng ta hân hoan vui mừng nói lên, ca hát lên : “ Em-ma-nu-en” : Thiên Chúa ở cùng chúng ta“. Thiên Chúa yêu thương con người nên đã làm người. Ngài đã đến để chung sống, đồng hành, chia sẻ cuộc đời với chúng ta. Ngài là Thiên Chúa, nhưng đã trở thành anh em với chúng ta, Chúng ta hãy cảm tạ Chúa và xin Chúa hãy dùng chúng ta như những cánh cửa nhỏ luôn luôn mở rộng, để Chúa có thể bước qua gặp gỡ mọi người, để mọi người có thể kết thân, quen biết Chúa, quen biết nhau, yêu mên Chúa và yêu mến nhau.
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP.
Đêm nay là đêm mà muôn dân muôn đời chờ mong, đêm mà thánh Phaolô diễn tả trong thư gửi tín hữu Rôma ” Muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại đợi chờ ngày được cứu độ” (x.Rm 8,22). Vâng, đêm nay là đêm đất trời giao duyên, đêm đầy hoa và đầy ánh sáng và niềm hy vọng đang tuôn tràn “Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, một người Con đã ra đời vì chúng ta”(Is. 9,5). Nhìn vào hang đá Belem một chút hồi tưởng suy niệm:
Ba gương mặt thánh, Trẻ thơ yên nghỉ trong bình an, Đức Maria và Thánh Giuse, hai nhân vật mang hai trọng trách. Thế nhưng, hơn chín tháng trước đây với tình yêu Thiên Chúa Đức Maria đã mạnh dạn ” Xin Vâng” đầy nhiệt huyết và phó thác, nhưng sự việc xẩy ra làm Mẹ băn khoăn dằn vặt khi thấy Thánh Giuse lo lắng, bối rối nhận ra Đức Maria có thai. Tuy Thánh Giuse không nghi ngờ gì cho Đức Maria vì biết rõ Đức Maria đạo hạnh, nhưng sự kiện rành rành trước mắt làm cho Giuse hoang mang và không hiểu, và vì là người công chính nên không dám tố giác khi chưa biết rõ, nên chỉ còn cách là bỏ đi. Trong khi đó Đức Maria không thể trình bầy cho Giuse hiểu, vì nói cách nào đây? và nếu nói thì chưa chắc Thánh Giuse đã tin. Cho nên chỉ còn biết cầu nguyện và để Thiên Chúa làm, mặc dầu Đức Maria rất thương Giuse. Cuối cùng Thiên Chúa đã làm khi cần thiết ” Hãy nhận lấy Maria làm vợ, vì Người Con mà bà cưu mang là do Chúa Thánh Thần”(Mt.1,20).
Tại sao Thiên Chúa lại để cho Thánh Giuse đau khổ, lo toan trong thời gian lâu như thế ? Sao Ngài giải quyết cách muộn màng như vậy? – Có lẽ Thiên Chúa muốn giáo dục Giuse, vì trong đời làm cha của Thánh Nhân không chỉ có việc này khó hiểu, mà sau này với Chúa Giêsu còn rất nhiều cái khó hiểu hơn nữa, cho nên bây giờ Giuse phải tập tìm hiểu, suy nghĩ. Và trong suốt thời gian khó hiểu ấy Thánh giuse sẽ thấm, lúc ấy Thiên Chúa sẽ cho Người biết.
Thánh Giuse đã vâng lời mau mắn là rước Đức Maria về nhà, đó là cách thức Giuse nhận mình làm chồng của Đức Maria và Chúa Giêsu sẽ là con của Người. Lễ đặt tên cũng là cho thấy Chúa Giêsu là con của Giuse, nhưng Thánh Kinh lại diễn tả ” ông không ăn ở với bà” để cho độc giả thấy con trẻ không phải là con của Giuse. Qua tiếng Fiat của Thánh Giuse cho chúng ta thấy Ngài không nói tiếng nào, đấy là tiếng xin vâng đầy dũng mạnh, can đảm và tin tưởng. Còn tiếng Fiat của Đức Maria rất dễ thương và hoàn toàn trông cậy, niềm tin của Mẹ không bị dằn vặt vì đã được giải thích, còn niềm tin của Thánh Giuse bị dằn vặt lâu dài rồi mới được thuyết minh.
Rõ ràng bản văn nhằm giới thiệu Chúa Giêsu chứ không phải nhắm thánh Giuse, nhưng chúng ta có thể đọc rõ thái độ của Giuse trước mệnh lệnh : Người không nói nhưng hành động và xem ra Người không biết lên án ai, hoàn toàn tuân phục Thánh Ý Chúa, hoàn toàn tin tưởng phó thác dù biết sẽ vô cùng gian nan vất vả và thử thách. Như thế, trong đêm Chúa Giáng Sinh chúng ta suy tư về thái độ của thánh Giuse để Ngài chỉ cho chúng ta cách đón tiếp Chúa hài Nhi kể cũng tốt.
Trong cuộc đời chúng ta chắc chắn cũng sẽ có nhiều điều chúng ta không hiểu, thì cũng đừng vội vàng đá tung nó đi, nhưng hãy bắt chước thánh Giuse phó thác, cầu nguyện để lắng nghe Chúa nói cũng như để Ngài giải quyết và dần dần dạy ta.
Phải luôn có con mắt Chúa để nhìn tha nhân với lòng bao dung, không lên án, ngắm nhìn anh chị em bằng đôi mắt yêu thương, kiên nhẫn, cảm thông, hiền hòa như chính Chúa nhìn họ, vượt lên trên những dáng vẻ bề ngoài và như thế chỉ nhìn thấy sự tốt lành nơi tha nhân như thánh Giuse.
Biết đóng kín đôi tai trước những lời vu khống và nhớ giữ miệng lưỡi khỏi nói những lời nói thâm độc để trong tâm trí chỉ là những ý nghĩ lành thánh, để những người chúng ta gặp gỡ họ sẽ nhìn thấy sự hiện diện của Chúa mà thôi.
Và biết đem Chúa đến cho mọi người như món quà tặng trong dịp lễ Giáng Sinh, cụ thể nhất là trao tặng những người nghèo đói, hèn kém lòng yêu mến, trân trọng như trao tặng Hài Nhi bé nhỏ Giêsu vậy.
Lạy Chúa, trong đêm đầy ân sủng và tình thương, xin Chúa thương đến những người đang sống trong kiếp sống lầm than, đau khổ mà nâng đỡ họ, giúp họ can đảm chấp nhận đời mình để thánh hóa những đau khổ như món quà dâng lên Chúa Hài Nhi trong ngày Ngài giáng trần.
Sr Mai An Linh, OP (Nguồn vietcatholic.org)






