MỚI

11:23
13/05/2026
HDGMVN_LogoNamMucVu2026-03
giaophanvinhlong-bantruyenthong
Giáo Phận Vĩnh LongBlogCần BiếtMa quỷ, phân định và sự thánh thiện theo Tông huấn Gaudete et Exultate – 1

Ma quỷ, phân định và sự thánh thiện theo Tông huấn Gaudete et Exultate – 1

2.2. Như một giác quan thiêng liêng

Làm sao để chúng ta có thể hòa mình vào trong tư tưởng của Thiên Chúa? Suy nghĩ hiện đại có thể gặp thấy những khó khăn khi nhận ra các kiểu nhận thức ngoài tri thức khoa học. Tuy nhiên, theo Đức Thánh Cha, phân định, có lẽ giống như nhận thức đạo đức hay thẩm mỹ, “nó không loại trừ những đóng góp của những kiến thức nhân bản, hiện sinh, tâm lý, xã hội học hay luân lý”[32], nhưng là một loại tri thức vượt ra ngoài nhận thức lý trí:

“Để chia sẻ tình thương nhiệm mầu của mình, Thiên Chúa ban cho toàn thể các tín hữu một bản năng đức tin—sensus fidei—là khả năng giúp họ phân định rõ cái gì thực sự là của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Thần Khí ban cho người Kitô hữu một sự đồng bản tính nào đó với các thực tại của Thiên Chúa, và một sự khôn ngoan giúp họ nắm bắt các thực tại ấy bằng trực giác, cả khi họ không có đủ phương tiện cần thiết để diễn tả nó một cách chính xác.”[33]

Ở đây Đức Giáo hoàng diễn tả phân định như là sự khôn ngoan, bản năng, trực giác. Là những người đã chịu phép rửa, chúng ta trải nghiệm được “sự kết nối” – một mối tương quan – cộng hưởng – với tâm linh. Chúng ta có kinh nghiệm tri thức về những gì là của Thiên Chúa, và điều gì đi ngược lại, bằng cách cảm nhận những điều thuận hay nghịch với cuộc sống của Thần Khí trong chúng ta. Do đó phân định có thể được diễn tả như một loại giác quan thiêng liêng. Lớn lên trong sự phân định giống như là phát triển “thính giác” thiêng liêng đối với “âm nhạc của Thần Khí”.[34] Các giác quan khác cũng cung cấp những ẩn dụ hữu ích: phân định như là khứu giác “ngửi” được sự hiện diện của Thiên Chúa; như “thị giác” sắc bén để nhìn thấy những dấu ấn của Thiên Chúa; như xúc giác để cảm nhận những điều đến từ thần khí tốt; và như “vị giác” để nếm được mọi hương vị Thánh Thần.

Với tất cả các khả năng giác quan này, phân định không chỉ là một phần của bộ máy giác quan, nhưng còn là điều kiện thuận lợi để được nuôi dưỡng. Một người không sành rượu vang không có khả năng nói về sự khác biệt giữa rượu lâu năm với một chai rượu rẻ tiền. Tuy nhiên điều đó không khó đối với người nếm rượu chuyên nghiệp, đã được học qua cách nếm mùi và phân biệt các hương vị cũng như thành phần làm nên rượu. Tương tự như vậy, qua việc chú tâm, chúng ta có thể tinh chỉnh được các giác quan thiêng liêng, khả năng của chúng ta để nói lên sự khác biệt giữa thần khí tốt và thần khí xấu trong kinh nghiệm của chúng ta. Cảm tính được rèn luyện này thật quý giá, bởi vì nó cảnh báo cho biết những gì sẽ phá hủy các tiến bộ của chúng ta và giúp chúng ta lên dây đàn đời mình để truyền sức sống cho âm nhạc của Thần Khí.

2.3. Phân định là tặng phẩm

Như đã nói rằng khả năng phân định có thể được mài dũa. Chúng ta có thể bị cám dỗ để suy tưởng rằng nó là kỹ năng chuyên biệt có thể làm chủ được. Mặc dù chắc chắn rằng chúng ta có thể phát triển khả năng nhận thức, nhưng cần lưu ý rằng, với Đức Giáo hoàng việc phân định không phải hệ tại ở vấn đề kỹ thuật. Ngay cả những quy tắc của thánh Inhaxiô cũng không phải là những công thức đem lại những kết quả cách tự động. Đức Giáo hoàng nhắc chúng ta rằng, phân định trước hết và trên hết đó là một tặng phẩm, là một ơn Chúa ban. Cho nên, “sự phân định không đòi hỏi những khả năng đặc biệt, cũng không chỉ dành cho những người thông minh hơn hoặc có học thức cao, và Chúa Cha đã vui lòng tỏ mình ra cho những người bé nhỏ (x. Mt 11,25).”[35]

Chúng ta nhớ đến lời cầu nguyện rất tuyệt vời của Salomon, tại Gibon ông xin Chúa cho ông có khả năng phân định: “Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế? Chúa hài lòng vì vua Sa-lô-môn đã xin điều đó….” (1V 3,5-12).

2.4. Ơn của Thánh Thần

Chúng ta biết rằng khả năng phân định hay chọn lựa được ban cách riêng cho con người hiện hữu trong thế gian: đó là sự phân định xuất phát từ lý trí và khôn ngoan của con người. Nhưng phân định thiêng liêng không đến từ “máu huyết và xác thịt” (x. Ga 1,14), nó là hoạt động đến từ vai trò của Thánh Thần.“Phân định không chỉ đòi hỏi một khả năng tốt để lý luận và khả năng cảm nhận thông thường, mà còn là một ơn cần phải cầu xin. Nếu chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần với lòng tin tưởng, và đồng thời cố gắng trau dồi nó bằng lời cầu nguyện, suy ngắm, đọc sách và khuyên bảo điều tốt, chắc chắc chúng ta sẽ lớn lên trong khả năng thiêng liêng này.”[36]

Thật vậy, phân định là ơn của Chúa Thánh Thần, Ngài đóng vai trò quyết định trong toàn bộ tiến trình phân định. Chính Thánh Thần là Đấng làm cho chúng ta nhìn thấy sự thật. Chúng ta có thể học toàn bộ lịch sử ơn cứu độ, có thể học toàn bộ thần học, nhưng nếu không có Chúa Thánh Thần, chúng ta vẫn không thể hiểu được. Chính Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nhận biết sự thật; chính Ngài làm cho chúng ta nhận ra tiếng nói của Chúa Giêsu: “Chiên ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.[37] Nhờ Thánh Thần mà chúng ta nhận lãnh qua phép rửa, cho phép ta nhận biết được những gì đến từ Thiên Chúa, mà theo bản năng con người có thể xem như chuyện điên khùng hay gương xấu, nhưng dưới ánh sáng của Thánh Thần chúng xuất hiện như sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa (x. 1Cor 1,22-25). Thánh Phaolô khẳng định: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người. Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa…. Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1Cor 2,9-10.12).

Theo cách này, Thánh Thần ngự vào trong tâm hồn các tín hữu, và cho phép họ mang tâm thức và tư tưởng của Chúa Kitô (x. 1Cor 2,16). Nhờ việc xức dầu của Ngài (1Ga 2,20.27) ta có được khả năng phân biệt ý muốn của Thiên Chúa, là điều đẹp lòng Chúa, phân biệt được kế hoạch của Ngài trên chúng ta và có khả năng nhận biết tình yêu nhưng không của Ngài, một tình yêu được đón nhận nhờ ơn của Thánh Thần chứ không vì ta xứng đáng.

2.5. Để Thiên Chúa dẫn dắt chúng ta.

Đến đây chúng ta có thể biết được cái nhìn của Đức Giáo hoàng về phân định. Ngài diễn tả phân định như một kiểu khôn ngoan giữa những màu đen trắng của cuộc sống, một khả năng phân biệt lúa mì giữa cỏ dại.[38] Hoặc ngài nhìn thấy phân định như là việc cấp bách và thúc dục chúng ta dọc theo con đường không hệ tại ở sự hoàn hảo nhưng tiến bộ dần dần[39]. Ngài cũng nói về một Giáo hội phân định như là một Giáo hội biết lắng nghe nhau, một Giáo hội mà trong đó mỗi người lắng nghe nhau cách khiêm nhường để có thể lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần.[40]

Đối với Đức Giáo hoàng phân định là một quan điểm mới, một ý nghĩa thiêng liêng, một ân sủng. Cầu nguyện để trở nên sáng suốt hơn, vì thế chúng ta có thể xin Chúa giúp chúng ta nắm chắc được cách nhìn sự vật của Ngài, xin Ngài ban cho chúng ta đôi tai dành cho âm nhạc của Thần Khí, và giữ lòng chúng ta luôn rộng mở, trong những hạnh phúc dễ đổi thay, để sự thúc đẩy của Thần Khí như một ơn ban. Đức Giáo hoàng khuyến khích tất cả chúng ta lớn lên trong cách thực hành đời sống kitô hữu này: “Mỗi người tín hữu và mọi cộng đoàn phải biết phân định con đường mà Thiên Chúa đã chỉ cho chúng ta”.[41] Đức Giáo hoàng mời gọi chúng ta sáng suốt để tìm hiểu sự tiếp cận tích cực với Thánh Thần, để cho Ngài khai sáng, hướng dẫn và dẫn dắt chúng ta đến bất cứ nơi nào Ngài muốn.

3. Phân định mục vụ

Trong vòng 5 năm sau khi được bầu chọn làm Giáo hoàng, qua các bài giảng, những buổi tiếp kiến cũng như trong các tông huấn, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rất nhiều đến phân định. Qua đó có thể hiểu được rằng phạm trù phân định này rất rộng lớn, nó bao trùm trên tất cả những hoạt động từ đời sống thiêng liêng cho đến những hoạt động mục vụ khác của Giáo hội.

Phân định mục vụ là một tiến trình thực hiện qua đối thoại, trong bầu khí tin tưởng và cầu nguyện, giữa người mục tử và người tín hữu – khi là cá nhân – có khi là cộng đồng. Mục tiêu của nó là chân thành và cân bằng sự hiểu biết về thực tại của mình từ phần của người tín hữu, để tăng trưởng tốt và trưởng thành hơn trong đời sống kitô hữu. Vì thế, không phải người mục tử phải chỉ ra hay đề nghị các giải pháp, nhưng là chính người tín hữu tự định hướng để đưa ra quyết định có ý thức và trách nhiệm, phù hợp với những đòi hỏi của Tin mừng được Giáo hội gìn giữ.[42]

Tuy nhiên, trong các tông huấn, các bài giảng và những cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục và giáo dân trên thế giới, trước hết và trên hết, Đức Giáo hoàng Phanxicô luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phân định đối với người mục tử trong vai trò là người hướng dẫn cộng đoàn. Vì “người mục tử cần phải “sáng suốt phân định” trong phán đoán của mình, cần phải có “cái nhìn riêng biệt” tuỳ vào “mỗi trường hợp khác nhau”. Chúng ta hẳn biết, chẳng có “liều thuốc toàn hảo” nào cho các hoàn cảnh đó cả.”[43]

3.1. Trách nhiệm của người mục tử.

Vị mục tử đích thực thì biết cách phân đinh, cảnh giác về cơn cám dỗ của ma quỷ. Cha đẻ của sự gian dối là một tên cám dỗ. Vị Mục Tử thì không. Vị mục tử thì yêu thương […] Do đó, tính cách đầu tiên của Vị Mục Tử “là đầy đam mê, nhiệt thành”. Tính cách thứ hai là “một người biết cách phân định: phân định mối nguy nằm ở đâu, ân sủng ở đâu … con đường thật ở đâu”. Điều này có nghĩa là người mục tử luôn đồng hành với đoàn chiên của mình: trong những thời khắc tuyệt vời và thậm chí là trong những thời khắc tồi tệ; ngaycả trong những thời điểm cám dỗ, với lòng nhẫn nại mà vị mục tử đưa chúng về ràn”.[44] Đây là con đường đồng hành và phân định, nhằm giúp những tín hữu ý thức được hoàn cảnh của họ trước mặt Thiên Chúa, góp phần vào việc hình thành những phán đoán đúng về những gì đang gây trở ngại.[45]

Với các giám mục, Đức Giáo hoàng mời gọi các ngài “liên tục khẩn cầu ơn phân định như điều kiện tiên quyết để soi sáng mọi sự khôn ngoan của con người, sự khôn ngoan về cuộc sống, tâm lý, xã hội, luân lý, qua đó chúng ta dùng để phân định những con đường của Thiên Chúa, để cứu độ những người được ủy thác cho chúng ta.”[46]

Và trong cuộc đối thoại với các tu sĩ Dòng Tên, nhân chuyến tông du đến Ba Lan, ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 31 tại Krakow vào năm 2016, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh: “Ngày nay, Giáo hội cần lớn lên trong sự phân định, trong khả năng phân biệt. Và hơn bao giờ hết nó thực sự cần cho sứ vụ của các linh mục. Vì vậy chúng ta cần phải dạy cho các chủng sinh và cho các linh mục trong việc đào tạo: vì thông thường, các ngài là những người đón nhận những giải bày lương tâm của các tín hữu. Linh hướng không phải chỉ là một đặc sủng của linh mục, mà cũng còn là ơn của giáo dân, đó là sự thật. Vì thế, trước hết cần phải dạy cho các linh mục, giúp họ dưới ánh sáng của các bài tập năng động trong phân định mục vụ, tôn trọng luật lệ nhưng phải biết đi xa hơn. Và chúng ta cần phải huấn luyện các linh mục tương lai không để ý đến những ý tưởng chung chung và trừu tượng, những cái rõ ràng, chi li và riêng biệt[47], nhưng để ý sâu sắc đến việc phân định tinh thần, để họ có thể giúp mọi người trong cuộc sống cụ thể của họ. Chúng ta cần biết rằng: trong cuộc sống không phải tất cả đều có màu đen trên nền trắng, hoặc trắng trên nền đen. Không! Còn có những màu xám đang lấn át trong cuộc sống. Chúng ta phải dạy cho họ biết phân biệt màu xám này.”[48]

3.2. Đối với người tín hữu

Chúng ta đang sống trong một thế giới chất đầy những khủng hoảng về đời sống đức tin và luân lý, cùng với những học thuyết lọc lừa, dối trá, khiến lắm người ngây ngất trong lầm lạc, đặc biệt “nhiều người trẻ có những nỗi lo sợ và có cảm tưởng mình phải sống khác với những gì trong thực tế, vì thế họ thấy cần phải thích ứng với kiểu mẫu giả tạo, sửa sang hình ảnh của mình, nấp sau những mặt nạ và căn tính giả tạo”.[49]Đối mặt với những cám dỗ của “chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy linh, khép mình trong vỏ sò, nghiện ngập, cố chấp, rập khuôn, giáo điều, sống trong quá khứ, bi quan, nấp dưới các luật lệ và quy tắc”[50]; đối mặt với “một cảm thức hoang mang, đôi khi bạo lực, gây phân tán và suy nhược; tính chất tiêu cực và bi lụy; tính tự mãn sinh ra từ chủ nghĩa tiêu thụ; xu hướng cá nhân chủ nghĩa; và tất cả những hình thức linh đạo thay thế chẳng liên quan gì tới Thiên Chúa và đang chi phối khung cảnh tôn giáo hiện nay”[51], Đức Giáo hoàng muốn mọi kitô hữu phải biết phân định và bảo vệ tâm hồn mình để phân biệt đâu là những gì đến từ Thiên Chúa và đâu là những gì xuất phát từ các tiên tri giả. Thật vậy, phân định là phương tiện nhằm giúp họ tìm ra những cách thế vốn có để đáp trả Thiên Chúa và lớn lên giữa các giới hạn của họ.[52]

Để đạt được điều đó điều cần thiết nơi mỗi người tín hữu là biết ở lại trong Chúa Giêsu bằng cách mở cửa lòng mình cho Ngài: để “lắng nghe Chúa, lắng nghe người khác, và lắng nghe chính thực tại vẫn hằng thách thức chúng ta bằng những cách thế mới. Chỉ những ai sẵn sàng lắng nghe mới có được tự do nội tâm để từ bỏ những ý tưởng chủ quan hoặc phiến diện của mình, cũng như những thói quen cố hữu và những định kiến của mình. Có thế, ta mới thực sự mở lòng đón nhận cái tiếng gọi có thể phá vỡ sự an toàn của ta, nhưng lại dẫn đến một cuộc sống tốt đẹp hơn”.[53] Và “đừng quên thưa chuyện với Chúa là Đấng yêu thương ta để thành tâm xét mình mỗi ngày. Sự phân định cũng giúp ta nhận ra những phương thế cụ thể Chúa xếp đặt trong kế hoạch mầu nhiệm đầy yêu thương của Ngài, để giúp ta không chỉ ngừng lại với những ý định tốt lành.”[54]

Sau cùng, “ta cần xin Chúa Thánh Thần giải thoát ta và xua tan sợ hãi, là điều khiến ta ngăn cản không cho Ngài bước vào một số lãnh vực nào đó của đời ta. Ngài đòi hỏi ta mọi sự, nhưng cũng ban cho ta mọi sự. Ngài không muốn bước vào đời ta để khiến nó thành què cụt hoặc bị yếu đi, nhưng để đưa nó đến chỗ viên mãn.”[55]

III. THÁNH THIỆN

Sự thánh thiện là trung tâm của triều đại Giáo hoàng Phanxicô, được cụ thể hóa qua lời kêu gọi “nên thánh cách thực tế cho thời đại chúng ta, với tất cả những rủi ro, thách đố và thuận lợi.”[56] Đối với Đức Thánh Cha, sự thánh thiện có thể được tìm thấy trong đời sống thường ngày và trong số những người gần với chúng ta chứ không phải nơi những mẫu người siêu phàm, trừu tượng và hoàn hảo. Mỗi người có một con đường nên thánh của mình, con đường do Thiên Chúa vạch ra, cho dù “không phải lúc nào cũng hoàn hảo, nhưng ngay cả giữa những khi lỗi lầm và thất bại, ta vẫn tiến về phía trước và sống đẹp lòng Chúa.”[57]

Phần sau đây cho phép chúng ta tiếp cận được cái nhìn của Đức Giáo hoàng về sự thánh thiện. Thánh thiện là gì? Ai được mời gọi sống thánh thiện? Phải chăng sự thánh thiện chỉ dành cho một số ít người mà thôi? Làm sao chúng ta có thể tiến bước trên con đường thánh thiện?

1. Thánh thiện là gì?

“Thánh thiện” một từ có thể bị xem như lỗi thời trong thế giới hôm nay. Văn hóa ngày nay khiến chúng ta cảm nhận sự thánh thiện như thể một điều gì đó nằm ngoài cuộc sống bình thường và là một điều không thể đạt đến được. Tuy nhiên, theo Đức Giáo hoàng, sự thánh thiện mà con người có thể đạt tới được không nằm ở đỉnh cao chót vót của cuộc sống, không hệ tại ở chỗ làm những chuyện phi thường, nhưng trong sự hiệp nhất với Chúa Giêsu, sống với Ngài và nên giống như Ngài trong tư tưởng, lời nói và việc làm trong từng giây phút hiện tại.

Thánh Agustinô đã viết: “Con sẽ sống cuộc sống của con, bằng cuộc sống tràn đầy Chúa” (Confessioni, 10,28). Hoặc như Đức Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận đã viết : “Tôi sẽ sống giây phút hiện tại, làm cho nó tràn đầy tình yêu”. Chính từ cái nhìn này, Đức Giáo hoàng nhắc đến những hình ảnh ngài đã gặp thấy trong cuộc sống và gọi đó là “sự thánh thiện thường nhật”; họ là “những người sát ngay bên nhà chúng ta, những người đang sống giữa chúng ta, đang phản ảnh sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng ta có thể gọi họ là “tầng lớp trung lưu của sự thánh thiện.”[58]

“Tôi thấy sự thánh thiện nơi dân Chúa, sự thánh thiện thường nhật”. Và cách bao quát hơn: “Tôi thấy sự thánh thiện nơi lòng kiên nhẫn của dân Chúa: người phụ nữ nuôi nấng con cái mình, người đàn ông làm việc để kiếm miếng cơm manh áo, những linh mục cao niên đau bệnh mang nhiều thương tích nhưng vẫn luôn nở nụ cười vì mình đã phục vụ Thiên Chúa, những nữ tu làm việc nhọc nhằn và sống sự thánh thiện kín đáo. Đối với tôi, đó là sự thánh thiện thường nhật.

Tôi thường gắn kết sự thánh thiện với lòng kiên nhẫn: không chỉ là sự kiên nhẫn như là hypomoné, nhận lấy những gánh nặng của các biến cố và hoàn cảnh trong cuộc sống, mà còn là kiên vững trước áp lực của mỗi ngày qua. Đây là sự kiên nhẫn của Giáo hội chiến đấu mà Thánh Inhaxiô đã nói đến. Đây là sự kiên nhẫn của bà con tôi: của cha tôi, mẹ tôi, bà nội Rosa, người rất tốt với tôi. Trong cuốn kinh nhật tụng tôi vẫn còn giữ ước nguyện cuối cùng của bà nội Rosa và đọc nó thường xuyên: đối với tôi nó giống như một lời kinh. Bà là một vị thánh đã chịu nhiều đau khổ, cả về tinh thần, và bà luôn tiến bước với lòng can đảm.”[59]

2. Thánh thiện là ơn gọi và sứ mệnh của chúng ta

Sống một cuộc sống thánh thiện là ơn gọi căn bản của chúng ta. Công đồng Vatican II đã minh định rất rõ: “Được trao ban nhiều phương tiện cứu độ dồi dào và cao quý như thế, tất cả mọi tín hữu, dù trong hoàn cảnh hay bậc sống nào, cũng đều được Chúa mời gọi, để mỗi người một cách, vươn tới sự thánh thiện trọn lành như lời thánh Tông đồ dạy: “Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3; x. ep 1,4).[60] Tuy nhiên, trước tiên chúng ta phải ý thức rõ rằng sự thánh thiện không phải là cái gì chúng ta thủ đắc được nhờ những đức tính và khả năng của mình. Sự thánh thiện là một hồng ân, là ơn huệ mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta như thánh Phaolô đã khẳng định: “Chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, để có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,25.27).

Khi Chúa mời gọi chúng ta nên thánh, Ngài không mời gọi chúng ta trở nên nặng nề và buồn phiền hơn. Đây là một lời mời gọi để chia sẻ cho chúng ta niềm vui của Ngài, để sống và trao ban niềm vui trong từng khoảnh khắc của cuộc sống, đồng thời làm cho nó trở nên một món quà tình yêu dành cho những ai đang ở bên chúng ta.

Sống một cuộc sống thánh thiện không phải là sống cho một lý tưởng trừu tượng, nhưng đó là một sứ mệnh không thể tách rời của chúng ta. “Sứ mệnh của tôi giữa lòng dân không chỉ là một phần của đời tôi hay một cái phù hiệu mà tôi có thể gỡ bỏ; nó không phải một cái gì “phụ thêm” hay chỉ là một khoảnh khắc khác trong cuộc đời. Trái lại, nó là một cái gì tôi không thể dứt bỏ khỏi mình nếu không muốn tiêu diệt chính mình. Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này; đó là lý do tại sao tôi có mặt trên trái đất này.”[61]
Cho nên “là Kitô hữu, hễ nghĩ đến sứ mệnh của mình trên trần gian, ta phải thấy nó như một nẻo đường để nên thánh, vì “ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3). Chúa Cha muốn sắp đặt để mỗi vị thánh là một sứ mệnh, phản ánh và tiêu biểu một khía cạnh nào đó của Tin mừng, vào một thời điểm cụ thể trong lịch sử.”[62]

Chia sẻ MXH:

CÁC NỘI DUNG KHÁC

CN T2T3T4T5T6 T7
12345678910111213141516171819202122232425262728293031