LỜI CHỦ CHĂN

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

LỜI NGUYỆN CHUNG

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

TRANG LINH MỤC

TRANG TU SĨ

TRANG SỐNG ƠN GỌI

TRANG THIẾU NHI

TRANG GIỚI TRẺ

TRANG GIA ĐÌNH

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

TRANG QUỚI CHỨC

SỐNG ĐẸP

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

SỐNG LỜI CHÚA

THẦN HỌC KINH THÁNH

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

 

 

LỜI CHỦ CHĂN

Vĩnh Long ngày 25.04.2015

Kính gửi: Quý Cha

              Quý Tu sĩ nam nữ

              Và tất cả anh chị em Gp. Vĩnh Long

 

THÁNG HOA

Chúng ta có thói quen gọi tháng năm là “tháng hoa”. Vì sao?

Cuối tháng ba là bắt đầu mùa xuân ở Tây phương, nên tháng năm là giữa mùa xuân, hoa đủ loại đủ màu đã nở rộ ở Tây phương.

Người ta sẽ hái hoa, đủ loại hoa đẹp, có hương sắc để dâng cho Đức Mẹ; do đó người ta có thói quen gọi tháng năm dương lịch là tháng hoa. Người ta tổ chức “dâng hoa”, chưng nhiều bông hoa nơi bàn thờ Đức Mẹ.

Ngoài việc tôn kính Đức Mẹ bằng cách dâng nhiều bông hoa đẹp, người ta cũng thường đọc kinh cầu Đức Bà, kể ra những đặc điểm tốt lành thánh thiện của Đức Mẹ, những nhân đức của Mẹ để tôn kính Mẹ và cố gắng bắt chước sống như Mẹ.

Như vậy, có hai loại hoa, hoa thiên nhiên và hoa nhân đức, để tôn kính Mẹ. Mong cho tháng hoa năm nay, chúng ta yêu mến Chúa nhiều hơn theo gương Mẹ và tôn kính Mẹ theo thói quen trong Hội Thánh.

Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh

Giám Quản GP. Vĩnh Long

 

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Tháng 05/2015

GIÁO XỨ: CỘNG ĐOÀN HỘI THÁNH TÔNG TRUYỀN

ĐƯỢC DƯỠNG NUÔI BẰNG LỜI

“Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy” (Cv 2,42).

Hội Thánh (Ecclesia) là một sự tập hợp những người được Lời Chúa triệu tập, hợp thành Dân Thiên Chúa và được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể Chúa Kitô; chính họ cũng trở thành Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Kitô[1]. Giáo xứ, cách cụ thể, là cộng đoàn hội thánh hiệp thông trong thờ phượng, nơi mọi tín hữu được tập họp để cử hành bí tích Thánh Thể, để nghe ‘những người lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa’[2] (tức là các giám mục những người kế vị “các Tông đồ” với sự trợ giúp của các linh mục hợp nhất với Đấng kế nhiệm thánh Phêrô) giảng dạy Lời Chúa, giáo lí cứu độ của Đức Kitô.[3]

1. Là cộng đoàn hội thánh tông truyền

- Toàn thể Hội Thánh có đặc tính tông truyền vì, nhờ các vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Tông Đồ, Hội Thánh vẫn giữ nguyên nguồn gốc của mình trong sự hiệp thông đức tin và sự sống. “Sứ vụ thần linh mà Đức Kitô ủy thác cho các Tông Đồ, sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng, được truyền lại bởi các ngài, phải luôn luôn là nguyên lý của toàn bộ sự sống đối với Hội Thánh. Chính vì vậy các Tông Đồ … đã cẩn thận thiết đặt những người kế nhiệm […] Để sứ vụ đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các Tông Đồ đã trao cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, như trao một di chúc, nhiệm vụ phải hoàn thành và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khuyên họ lưu ý đến hết đoàn chiên mà trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. Các ngài đã thiết đặt những người như vậy và qui định rằng sau đó, khi những người này qua đời, thì những nam nhân khác đã được thử thách sẽ lãnh nhận thừa tác vụ của họ”[4]. “Cũng như nhiệm vụ được ủy thác cho một mình ông Phêrô, người đứng đầu các Tông Đồ, phải được lưu truyền cho các vị kế nhiệm ông, là một nhiệm vụ trường tồn, thì cũng vậy, nhiệm vụ của các Tông Đồ là phải chăn dắt Hội Thánh, và được thực thi liên tục bởi việc truyền chức thánh cho các Giám mục, nhiệm vụ đó cũng trường tồn” (ibid.). Vì vậy, Hội Thánh dạy rằng: “Chính Chúa đã thiết đặt các Giám mục kế nhiệm các Tông Đồ làm các mục tử của Hội Thánh, nên ai nghe các ngài là nghe Đức Kitô” (ibid.).

- Hội Thánh còn có đặc tính tông truyền vì “được sai đi” khắp thế gian, đến với muôn dân, ngỏ lời với mọi người, bao trùm mọi thời đại (đặc tính công giáo). Hội Thánh tự bản chất có đặc tính truyền giáo (Ad gentes, 2). Tất cả các thành phần của Hội Thánh, bằng những cách khác nhau, đều tham dự vào tính chất “được sai đi” này. Ơn gọi Kitô hữu, tự bản chất, cũng là ơn gọi làm ‘việc tông đồ’, tức là mọi hoạt động của Nhiệm Thể vốn làm cho Nước Chúa ở mọi nơi trên trần thế được rộng mở.[5]

- Như là thuộc Hội thánh địa phương, giáo xứ cũng mang tính tông truyền. Chúa Kitô đã hứa với các Tông đồ rằng Người sẽ ở lại với các ngài cho đến tận thế. Mọi việc thuộc sứ vụ truyền giáo cho lương dân hay việc tông đồ có sinh hoa kết quả hay không đều tùy thuộc vào sự kết hợp với Đức Kitô. Đức ái, được múc nguồn từ bí tích Thánh Thể, luôn là linh hồn của mọi sứ vụ tông đồ và truyền giáo.

2. Tập trung vào Lời Chúa

- Đời sống của các thành viên và cộng đoàn của giáo xứ cần được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Thánh Thể, vốn không thể tách biệt. Khi cầu nguyện cũng như khi loan báo Tin mừng, hội thánh luôn luôn dựa trên Lời. Phải lắng nghe, suy niệm, cử hành, sống và làm chứng cho Lời ấy. Vì thế, Kitô hữu cần không ngừng được huấn luyện lắng nghe Lời Chúa. Hội Thánh không loan báo Tin mừng nếu chính mình không được nghe Tin mừng. Đức Giáo hoàng Bênêđictô nói: “Lời Chúa thiết yếu phải không ngừng được đặt vào tâm điểm của mọi hoạt động của Hội Thánh”[6]. Lời Chúa trước hết trong Thánh Thể, một khi được lắng nghe và cử hành, sẽ nuôi dưỡng và củng cố tâm hồn các tín hữu, giúp họ cống hiến một chứng tá đích thực cho Tin mừng trong đời sống hằng ngày. Lời sống động và hiệu quả chuẩn bị cho bí tích, Lời sinh hiệu quả tối đa trong bí tích.[7]

- Bởi thế, trong các giáo xứ, việc học hỏi Thánh Kinh phải là cánh cửa rộng mở cho mọi tín hữu. Lời mạc khải nhất thiết phải là căn bản cho việc dạy giáo lí và giúp các nỗ lực truyền bá đức tin trở nên phong phú (cf. Dei Verbum 21-22). Đức thánh cha Phanxicô kêu gọi: công cuộc loan báo Tin mừng đòi hỏi một sự thấm nhập nên thân mật với Lời Chúa; việc ấy kêu gọi các giáo phận, giáo xứ và các hội đoàn Công giáo tổ chức các cuộc học hỏi nghiêm túc và thường xuyên về Thánh Kinh, đồng thời khuyến khích mỗi người và cộng đoàn đọc Thánh Kinh với tâm tình cầu nguyện.[8]

- Trên hết, cộng đoàn được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa trong phụng vụ, đặc biệt trong những cuộc tụ họp Thánh Thể, vì đó là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với Dân Người. “Bài giảng trong Thánh Lễ có tầm quan trọng đặc biệt vì bối cảnh Thánh Thể của nó. Nó vượt quá mọi hình thức huấn giáo vì là thời điểm tột đỉnh trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với dân Người, và dẫn tới việc hiệp thông bí tích”[9]. Đức thánh cha gợi ý: “một bài giảng tốt phải có một ý tưởng, một tâm tình , một hình ảnh.” Hình ảnh, tâm tình, ý tưởng đó trước hết xuất phát từ trong chính Lời Chúa trong các bài đọc thánh kinh của phụng vụ.[10] Lời khuyên từ sách Huấn ca: “Hãy nói cho gọn, ít lời, nhiều ý” (Hc 32,8).

Câu hỏi thảo luận

1. Giáo xứ liên kết với giáo phận như thế nào để giữ được đặc tính tông truyền?

2. Các cộng đoàn nhỏ trong giáo xứ của anh chị có chia sẻ, học hỏi Lời Chúa và cầu nguyện dựa trên Lời Chúa hay không? Và làm như thế nào?

3. Để có một bài giảng tốt hay chuẩn mực và hữu ích cần những điều kiện nào?

--------------------

[1] X. GLHTCG 777.

[2] Kinh Tiền Tụng Lễ Các Thánh Tông Đồ I: Sách Lễ Rôma.

[3] X. ibid., 2179.

[4] CĐ Vatican II, Hc. Lumen gentium, 20.

[5] CĐ Vatican II, sl. Apostolicam actuositatem, 2.

[6] Verbum Domini, 1.

[7] ĐGH Phanxicô, Evangelii Gaudium, 174.

[8] Ibid., 175.

[9] Ibid., 137.

[10] Ibid., 157.

Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn.

Nguồn: ubmvgiadinh.org

 

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,

Hội Thánh là cộng đoàn hiệp thông trong đức tin, được quy tụ, được khai sinh nhờ Lời Chúa, thì như vậy Hội Thánh cũng được sống, được phát triển và được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. Chúng ta cùng hiệp ýý cầu nguyện:

1.       Chúa phán: “Người ta sống không chỉ bằng cơm bánh, mà còn bởi Lời Chúa phán ra”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh luôn ý thức rằng mình được sống dồi dào nhờ Lời Chúa rao giảng.

2.       Phêrô đáp: “Bỏ Thầy con biết theo ai, Thầy mới có những lời ban sức sống đời đời”. Chúng ta cầu nguyện cho các giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, thường hợp nhau nghe đọc Lời Chúa, học hiểu và sống Lời Chúa.

3.       “Lời Chúa là ngọn đèn soi dẫn bước con đi”. Chúng ta cầu nguyện cho các giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, luôn vâng theo lời dạy của Chúa, luôn tuân giữ các giới răn Chúa và luôn làm đẹp lòng Chúa.

4.       “Lạy Chúa, xin Chúa phán một Lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh”. Chúng ta cầu nguyện cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta luôn quan tâm giúp đỡ nhau, để linh hồn được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể và bằng Lời Chúa.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa muốn mọi người được sống trong Chúa. Xin cho các cộng đoàn giáo xứ và cộng đoàn sống đời thánh hiến, được sự sống của Chúa nhờ bí tích Rửa tội, được nuôi dưỡng nhờ bí tích Thánh Thể và nhờ Lời Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

 

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

MỞ LÒNG RA VỚI LỜI CHÚA

Năm Tân Phúc Âm hóa gia đình đã qua gần nửa chặng đường, câu hỏi đặt ra lúc này là lời Chúa đã thấm nhập trong lòng người tín hữu ra sao? Thử cùng nhau chung sức cho lời Chúa được lan tràn, cho bước đường sứ vụ loan báo tin mừng của Hội Thánh Việt Nam hôm nay để mọi người chuyên cần lắng nghe lời Chúa và loan báo lời Chúa mọi lúc mọi nơi.

Kinh nghiệm của Hội Thánh sơ khai tường thuật trong Sách Tông Đồ Công Vụ, thì việc loan báo tin mưng được mở đầu bằng việc rao giảng lời Chúa : “các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy (Cv 2,42). Dĩ nhiên, có người nghe thì cũng phải có người miệt mài rao giảng, nhờ vậy, “lời Chúa cứ thế lan tràn” (Cv 6,7) giữa cộng đoàn các tín hữu, và khi cơn bách hại xảy ra, “các tín hữu phải tản mác đi khắp nơi loan báo lời Chúa” (Cv 8,4), từ các vùng quê miền Giuđê, Samaria cho tới tận Antiôkia.

Hội Thánh sơ khai gây ngỡ ngàng cho các thế hệ hôm nay, nhưng điều gây ngạc nhiên cho người tín hữu Kitô chúng ta, khi thử làm một chút so sánh giữa chữ “duyên” nơi cửa Phật và “tiếng Chúa” nơi nhà thờ, chắc phải thầm cảm phục khi nhìn Đức Phật Thích Ca hồn nhiên bước vào từng nhà và thậm chí có thể đi vào lòng của mọi người thành tâm thiện chí, trong khi Đấng được Chúa Cha sai đến trong Thánh Thần, nhập thể và nhập thế, thì cứ mãi yên vị trong ngôi giáo đường, các tu viện, và trong nhà của người tín hữu Kitô.

Có gì cuốn hút nơi bóng dáng từ bi hỷ xả đang lộ ra từ những tấm thân mang áo cà sa kia, và đối lại, bóng dáng hiền lành và khiêm tốn, êm ái và nhẹ nhàng nơi người môn đệ của thầy Giêsu cũng dễ thương lắm chứ. Hay tại chữ Chùa nghe nó rộng mở, nhìn ngôi chùa với những đường nét Á Đông mềm mại dễ gần, trong khi hai tiếng nhà thờ gây cho người ta cái cảm giác khép kín.

Ngoài ra, còn một việc gây tranh cãi từ lâu đó là chữ Hiếu.

Công giáo thì nói chúng tôi luôn nhớ và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, Giáo Hội dành trọn cả tháng 11 để nhớ và cầu nguyện cho những người đã khuất. Bước vào nhà của người công giáo ngày nay, nhà nào cũng có bàn thờ ông bà tổ tiên, và dĩ nhiên cũng có nhang đèn, hoa trái, nhưng mà…

Nơi tâm thức Việt thì đời người sống gởi thác về.

Về đâu, lá rụng về cội. Về với trời đất, trong cõi vĩnh hằng giữa đất trời này, ông bà tổ tiên gần gũi và có thể phù hộ độ trì cho con cháu, vì thế khi con cháu thắp nén nhang, hay dâng cúng hoa trái, là dâng với cả tấm lòng thành hiếu thảo.

Công giáo tuy không khác là mấy, cũng lá rụng về cội, nhưng phải đi qua ít là luyện ngục, người sống chẳng ai biết khi nào người chết mới được ra khỏi chốn này để về hưởng nhan thánh Chúa, và vì thế ơn nghĩa với thảo hiếu là nhớ và cầu nguyện mà thôi.

Những so sánh trên đây xuất phát từ cái nhìn thực tế, và nếu quả là như vậy thì phải làm sao đây? Đơn giản thôi, chỉ cần đi lại điểm xuất phát của cộng đoàn Giáo Hội sơ khai đó là lắng nghe và rao giảng Lời Chúa

Chuyên cần lắng nghe, miệt mài rao giảng, để nơi lòng của từng người tín hữu đầy tràn lời Chúa và lan tràn tới những vùng đất xung quanh.

Hiện nay trong các sinh hoạt nơi các họ đạo cũng đã lập các nhóm chia sẻ, nhưng phải chăng lời Chúa mới chỉ tạm đủ nuôi sống nhóm của mình chứ chưa tràn lan qua những người xung quanh. Cũng có thể đôi khi bàn tiệc lời Chúa được dọn ra không đúng khẩu vị người nhận, chưa được như cộng đoàn tín hữu sơ khai, chính lời Chúa đẩy người tín hữu lao mình về trước, lên đường. Đức giáo hoàng Phanxicô trong tông huấn niềm vui của tin mừng quả quyết: “một khi đã nhận được tình yêu phục hồi ý nghĩa cho cuộc đời mình, làm sao chúng ta có thể không chia sẻ tình yêu ấy với người khác? (E.G. số 8).

Một khi lòng tràn đầy niềm vui của Tin Mừng thì không thể ngồi yên, nhưng khao khát “muốn chia sẻ niềm vui của mình, chỉ ra một chân trời của cái đẹp, và mời gọi mọi người khác tới dự một bữa tiệc ngon. Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng “bằng sức thu hút” (E.G. số 14).

Cuộc sống của dân chúng hôm nay tất bật với công việc làm ăn sinh sống thật đấy, thế nhưng, bà con giáo dân vẫn hăng say đến nhà thờ để học hỏi và lắng nghe lời Chúa và xem ra cơn khát Lời Chúa của cộng đoàn dân Chúa rất lớn.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không mở ra một không gian cho lời Chúa với những bàn tiệc ngon, qua tranh ảnh, video, nhạc, những tấm bảng để tô vẽ…bàn tiệc lời Chúa với những món ăn hợp khẩu vị và được thay đổi hàng tuần, đặc biệt để cho các em thiếu nhi vui chơi và sáng tạo, một khu vườn mở cho tất cả những ai tò mò “để xem cho biết Đức Giêsu là ai” (Lc 19,3).

Cũng có thể tạo cho các gia đình một khoảng không gian và thời gian cho Lời Chúa ngay trong chính gia đình mình, để cha mẹ vợ chồng con cái đều luôn dựa cậy và bước đi trong quyền năng Lời Chúa.

Một khi mọi người biết mở lòng mình ra với Lời Chúa thì đây sẽ là điểm dừng ấm áp, chứa đầy lời mời gọi và chan hòa sức sống, ở đó những tâm hồn trống vắng, trơ trụi sẽ uống no thỏa nước hằng sống

Và vùng đất này, cuộc sống hôm nay đầy thử thách, Thiên Chúa cứ như thể ẩn mình đi, nhưng một khi không gian nội tâm của mỗi con người được gợi mở từ Lời Chúa  hằng ngày, Thiên Chúa có thể lên tiếng thật mạnh mẽ, nhờ Thần Khí của Đấng có Lời ban Sự Sống.

 

 

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TRONG GIÁO HỘI (TT)

IV. Các hình thức sống đời thánh hiến khác

Trong ba tháng vừa qua, chúng ta đã cùng tìm hiểu đời sống thánh hiến trong các Dòng tu, các Tu hội đời và các Tu đoàn tông đồ. Tuy rằng giữa ba loại đời sống tu đó có những đặc điểm khác nhau, nhưng tất cả đều diễn tả một lối sống “theo sát Đức Kitô hơn” (đ.573§1), và tất cả được gọi là sống đời thánh hiến. Đây là những hình thức thông thường mà những ai muốn dâng mình cho Thiên Chúa đều phải là thành viên của các đoàn thể trên.

Tuy nhiên, Giáo hội cũng nhìn nhận những hình thức tu trì trong đời tận hiến mà không thuộc ba loại trên. Đó là đời sống ẩn tu hay còn gọi là các Ẩn sĩ và các Trinh nữ được Giáo luật đề cập tới ở các điều 603 và 604. Chúng ta lần lượt tìm hiểu hai hình thức tu nầy.

1. Các Ẩn Sĩ

a. Quy định pháp lý về đời sống Ẩn sĩ :

Ngoài các tu hội thánh hiến, Giáo Hội còn  nhìn nhận nếp sống ẩn tu hay độc tu, qua đó các Kitô hữu hiến dâng đời mình để gợi khen Thiên Chúa và mưu cầu phần rỗi cho thế giới bằng việc sống cách biệt với thế gian hơn, trong sự thinh lặng đơn độc, trong việc chuyên cần cầu nguyện và trong việc sám hối (603§1).

Vị ẩn tu được luật nhìn nhận như là người dâng mình cho Thiên Chúa trong đời thánh hiến, nếu họ công khai tuyên giữ ba lời khuyên Phúc Âm , bằng một lời khấn hoặc một dây ràng buộc khác trong tay Giám Mục giáo phận và họ tuân giữ chương trình sống riêng của mình dưới sự hướng dẫn của ngài (603§2).

Từ khoản 1 của điều 603 cho chúng ta thấy ba đặc tính nỗi bật của đời sống Ẩn sĩ là:

-         sống tách biệt với thế gian;

-         thinh lặng cô tịnh (đơn độc);

-         chuyên cần cầu nguyện và sám hối.

Kế đến là khoản 2 đưa ra những điều kiện pháp lý để nếp sống ấy được nhìn nhận trước mặt Giáo hội. Những điều kiện đó là:

-         công khai tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm;

-         bằng lời khấn hoặc một dây ràng buộc khác (thề, hứa);

-         trong tay giám mục giáo phận;

-         chính giám mục giáo phận là người châu phê và hướng dẫn.

 

b. Đời sống Ẩn sĩ trong lịch sử của Gíao hội

Ngược dòng lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng đời sống ẩn sĩ đã xuất hiện trong Giáo hội từ thế kỷ III, khi mà nhiều tín hữu rời bỏ cộng đoàn lên sa mạc hay rừng vắng để tu hành. Vì vậy mà họ mang cái tên gắn liền với cách sống của họ là ẩn sĩ : trong tiếng Latinh ẩn sĩ được gọi là eremita hay anachoreta, bởi gốc của nó từ tiếng Hylạp eremia (sa mạc) và anakoreo (rút lui). Cho nên khi nói tới các ẩn sĩ là người ta hiểu ngay đến cách sống đơn độc trong sa mạc hay những nơi vắng vẽ khác.

Dẫu rằng các ẩn sĩ sống đơn độc nhưng không phải tuyệt đối hoàn toàn, nhất là vào những thế kỷ tiếp theo. Vì: họ cũng phải được đào tạo về đời sống đức tin và thiêng liêng. Nghĩa là tối thiểu họ phải được tiếp xúc với một vị linh hướng, và phải tham gia các buổi cử hành phụng vụ (thánh lễ và bí tích hoà giải). Dần dần về sau thánh Bruno lập dòng Chartreux vào năm 1084, các ẩn sĩ được họp thành một cộng đoàn dưới sự điều hành của một viện phụ. Mỗi đan sinh được trao cho một căn hộ (túp lều) riêng biệt, với nhà nguyện, nhà bếp, và một mãnh vườn. Nếp sống căn bản của ẩn sĩ (đúng hơn là bán ẩn sĩ) tại căn hộ của mình, tuyệt đối thinh lặng, không giao thiệp với ai khác. Mọi tiếp xúc chỉ diễn ra tại nhà thờ trong những giờ nguyện chính trong ngày mà thôi.

c. Đời sống ẩn sĩ theo Giáo luật ngày nay

Với bộ Giáo luật năm 1983 được ban hành, Giáo hội khôi phục hình thức ẩn tu cổ truyền. Tuy nhiên, có lẽ vì ít người dấn thân trong đời sống nầy và hoàn cảnh mỗi đất nước khác nhau, nên Giáo hội không có những quy định cụ thể nào cho cách sống nầy mà chỉ đưa ra những quy định có tính chất pháp lý của họ mà thôi (duy nhất một khoản luật mà thôi), mọi sự tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan của giám mục ở mỗi nơi đó. Vì vậy bản luật riêng cho những tín hữu sống đời ẩn tu tuyệt nhiên phải bao hàm việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm và những quy định chi tiết như: việc phân định ơn gọi, về đào tạo và điều kiện sinh sống cho phù hợp với từng vùng.

Ở Việt Nam của chúng ta hầu như không có hoặc rất hiếm các đan sinh sống đời ẩn tu nầy theo nghia đen cổ truyền. Nghĩa là những ai muốn sống đời ẩn sĩ phải tìm nơi cô tịch (sa mạc, rừng vắng), xa chốn thành thị náo nhiệt để tu. Nhưng thay vào đó, lối sống của thời đại hôm nay dể làm cho con người cảm thấy cô đơn hơn ngay khi sống ở các thành phố lớn, đông dân cư. Với nếp sống thành thị, trong những khu chung cư đông đúc, những toà nhà chọc trời, mỗi con người là một hoang đảo, không ai biết tới ai, kể cả những người ở trước hoặc ở ngay bên căn hộ của mình. Cảnh cô đơn nầy càng trở nên nặng nề hơn đối với những người không gia đình, những người mà gia đình tan vỡ (ly dị, mồ côi), những người già cả bệnh tật…

Trong bối cảnh xã hội như vậy, nhiều người chủ trương rằng ngày nay không cẩn phải lên sa mạc hay rừng sâu để thành ẩn sĩ, mà những ai muốn sống tinh thần nầy có thể thực hiện đời ẩn sĩ ngay tại “sa mạc” của đô thị, chia sẻ cảnh cô đơn đang đè nặng trên rất nhiều người, miễn sao giữ được tinh thần của đời ẩn sĩ : giữ sự thinh lặng là dấu chỉ của việc thoát ly khỏi thế giới; khỏi sự ràng buộc của tài sản, chức quyền, danh vọng và cả những tiện nghi văn minh. Tất cả nói lên sự từ bỏ tận căn, từ bỏ hết để chỉ sống cho Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và dùng sự khổ chế để chuyển cầu cho thế gian. 

 

TRANG LINH MỤC

Những Mệt Mỏi Của Đời Linh Mục

          VATICAN: Các linh mục phải biết học hỏi sống mệt mỏi một cách lành mạnh và thánh thiện, trong tâm tình tín thác nơi Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành tối cao.

ĐTC Phanxicô đã đưa ra lời mời gọi trên đây trong bài giảng thánh lễ làm phép Dầu cử hành lúc 9. 30 sáng Thứ Năm Tuần Thánh 2015, trong đền thờ thánh Phêrô.

Quảng diễn ý nghĩa các bài đọc ngài nói: Sự kiện Thiên Chúa xức dầu thánh hiến chúng ta là các linh mục, bạn hữu của Chúa Giêsu, Con của Ngài, để chúng ta cũng xức dầu cho dân Chúa dẫn đưa chúng ta tới sự mệt mỏi. Chúng ta sống bổn phận đó trong mọi hình thức: từ cái mệt mỏi bình thường của công tác tông đồ hằng ngày cho tới sự mệt mỏi của tật bệnh và cái chết, bao gồm cả việc bị tiêu hao trong sự tử đạo. Sự mệt mỏi đó của đời linh mục giống như hương trầm lặng lẽ bay lên Trời. Sự mệt mỏi của đời linh mục chúng ta bay thẳng tới con tim của Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, cũng xảy ra là sức nặng của công việc mục vụ khiến cho chúng ta bị cám dỗ nghỉ ngơi trong bất cứ cách nào. Sự mệt mỏi của chúng ta quý báu trước mắt Chúa Giêsu là Đấng tiếp đón và nâng chúng ta dậy: “Các con hãy đến cùng Thầy khi mệt mỏi và bị áp bức và Thầy sẽ bổ sức cho” (x, Mt 11,28). Khi mệt mỏi mà biết có thể quỳ thờ lậy và nói “Lạy Chúa, đủ rồi” và đầu hàng trước Thiên Chúa Cha, thì chúng ta không ngã gục, nhưng được canh tân và biến đổi. Một trong những chià khóa sự phong phú của đời linh mục là biết nghỉ ngơi khi mệt mỏi.

Tiếp tục bài giảng ĐTC đưa ra mấy câu hỏi giúp các linh mục xét mình: Tôi có biết nghỉ ngơi bằng cách tiếp nhận tình yêu, sự nhưng không và tất cả sự trìu mến mà dân Thiên Chúa ban tặng cho tôi không? Hay sau công việc mục vụ tôi tìm các nghỉ ngơi tinh vi hơn, không phải kiểu nghỉ ngơi của người nghèo, mà các kiểu nghỉ ngơi do xã hội tiêu thụ cống hiến? Chúa Thánh Thần có phải là “sự nghỉ ngơi trong lao nhọc” đối với tôi không, hay chỉ là Đấng khiến tôi làm việc? Tôi có biết xin sự trợ giúp của một linh mục khôn ngoan không? Tôi có biết nghỉ ngơi khỏi chính mình, khỏi việc tự đòi hỏi chính mình, khỏi việc lấy mình làm điểm tham chiếu không?

Nhiệm vụ của linh mục là đem Tin Mừng cho người nghèo khó, loan báo sự giải thoát cho người lao tù, việc chữa lành cho người mù, trả tự do cho người bị áp bức, và công bố năm hồng ân của Chúa. Tất cả các công việc bề ngoài cũng như các công việc đào tạo tín hữu không phải là dễ dàng. Chúng đòi hỏi sự cảm thương, vui với ngưòi vui, khóc với người khóc… vị linh mục là người bị xé nát thành hàng ngàn mảnh nhỏ, bị ngưởi ta ăn. Nhưng các lời “Hãy cầm lấy mà ăn, hãy cầm lấy mà uống” là những lời mà linh mục của Chúa Giêsu luôn thì thầm, khi săn sóc dân Chúa. Như thế đời linh mục của chúng ta đuợc cho đi trong phục vụ, trong việc gần gũi với dân Chúa khiến chúng ta mệt mỏi.

Tiếp đến ĐTC đề cập đến các mệt nhọc khác nhau trong đời linh mục. Có sự mệt nhọc tốt và lành mạnh, tràn đầy hoa trái và niềm vui, vì nó phát xuất từ công việc mục vụ, từ các sinh hoạt đa diện lo lắng cho dân Chúa. Nó là một ơn thánh nằm trong tầm tay của mọi linh mục. Đó là sự mệt nhọc của vị mục tử có mùi của chiên. Là bạn của Chúa Giêsu Phu Quân,  linh mục không thể có gương mặt chua như giấm, than van, hay tệ hại hơn chán ngán. Có sự mệt nhọc của các thù địch. Ma quỷ và những kẻ theo nó không ngủ, và vì tai chúng không chịu đựng được Lời Chúa nên chúng làm việc không mệt mỏi để dập tắt Lời Chúa và gây lẫn lộn. Ở đây sự mệt mỏi cam go hơn, vì linh mục phải bảo vệ đoàn chiên và tự bảo vệ khỏi sự dữ. Cần xin ơn để tập trung lập hóa sự dữ, không nhổ cỏ lùng, không yêu sách bảo vệ như siêu nhân điều Chúa phải bảo vệ. Tất cả những điều này giúp không xuôi tay trước sự gian ác và chế nhạo của những người gian ác.

Cũng có sự mệt mỏi với chính mình, là sự mệt mỏi nguy hiểm nhất. Hai sự mệt mỏi trước phát xuất từ việc ra khỏi chính mình để xức dầu và săn sóc dân Chúa. Trái lại sự mệt mỏi này có tính cách tự quy chiếu nhiều hơn: nó là sự thất vọng với chính mình, nó trao ban “ước muốn và không ước muốn”, nó liều chơi tất cả, nhưng lại tiếc nuối củ hành củ tỏi bên Ai Cập. Nó khiến cho chúng ta bỏ tình yêu ban đầu với Chúa. Sự kiện Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ cũng cho thấy Ngài thanh tẩy việc theo Ngài của các linh mục: rửa sạch bụi bặm nhơ nhớp của thế gian bám vào chúng ta trên con đường theo Chúa.

Linh Tiến Khải

 

TRANG TU SĨ

LỜI CHÚA LÀ CỦA ĂN

“Họ chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy” (Cv 2,42).

Có một người không Công giáo ngày ngày vẫn thấy anh hàng xóm của mình cứ phải dậy sớm, chuẩn bị tất cả mọi thứ hàng bán cho chị vợ ngày hôm ấy rồi lại đi đến Nhà Thờ cả hơn nửa giờ đồng hồ…sau đó về làm việc, tối tối anh lại đến Nhà Thờ làm gì đấy, ngạc nhiên và tò mò người không Công giáo hỏi anh ta:

-         Cậu làm cái quái gì mà sáng sáng, tối tối lại cứ phải đến Nhà Thờ vậy ?

 

Anh mỉm cười đáp:

-         Sáng sáng tôi đi xin Thiên Chúa của tôi của ăn còn tối thì tôi đi cám ơn Người vì đã lo lắng chăm sóc cho tôi và vợ con tôi suốt cả một ngày.

Người không Công giáo nghe thế thì ngạc nhiên hơn, ngày hôm sau anh ta theo chân người hàng xóm đến Nhà Thờ. Sau khi nhìn xem anh kia hết đứng lên, ngồi xuống lại quỳ nữa và khi ra về rồi mà vẫn chẳng thấy anh hàng xóm của mình được cho của ăn gì, người đó liền hỏi:

-         Này, thế hôm nay cậu không xin Thiên Chúa của cậu của gì ăn ư?

-         Ồ có chứ, tôi đã được no và giờ tôi đem đi chia sẻ cho nhiều người nữa đây.

-         Tôi ở đây xem anh cả buổi trời có thấy anh ăn gì đâu, có mỗi miếng bánh bé tí mỏng mảnh  thì sao mà no được?

-         Ố anh bạn của tôi, của ăn tôi nói đây là Lời Thiên Chúa mà tôi đã nghe trong Thánh Lễ, tôi nghe và thấy lòng no thỏa, không những thế tôi còn được những Lời đó nuôi dưỡng suốt cả một ngày sống nữa, giúp tôi sống vui và thanh thản, làm việc phấn khởi hơn, thấy yêu mọi người hơn, cuộc sống nhẹ nhàng hơn…và vì thế tôi thấy mình no đủ hạnh phúc nên khi hết một ngày tôi lại đến cảm ơn về tất cả những gì Thiên Chúa đã ban cho tôi.

Trong hàng thế kỷ trôi qua trên đất nước Nhật bản, người ta không thể có được một Linh mục nào để cử hành Bí tích Thánh Thể nhưng đạo Công giáo vẫn tồn tại và phát triển rất âm thầm mà hết sức mãnh liệt nhờ Lời Hằng Sống dưỡng nuôi. Nếu ở các giáo xứ mỗi người giáo dân, mỗi người tín hữu đều nhận ra tầm quan trọng của Lời Chúa, biết đặt câu hỏi cho cuộc đời mình và tìm câu trả lời qua Lời Chúa chắc hẳn họ cũng sẽ cảm nhận được những biến đổi thẳm sâu mà Lời mang đến cho cuộc sống của họ.

Đã nhiều lần trong cuộc sống tôi cảm nhận thật sự được Lời Thiên Chúa dưỡng nuôi, những lúc tôi thấy mình rã rời vì những bận rộn của cuộc sống thì có Lời nói với tôi: “ Hãy đến với ta hỡi những ai mang gánh nặng nề…”, những lúc tôi thấy mình chơi vơi và bất lực trong cái bản ngã yếu hèn tội lỗi thì có Lời nói với tôi: “Chính Thầy đây, đừng sợ…”.Đó không phải là một lý thuyết trừu tượng nhưng là một kinh nghiệm thật tuyệt vời cho những ai đang đói tình yêu thương, đói ý nghĩa sống và ngay cả đói ăn…

Tôi không biết những gì tôi viết đây khi tới tay của một người đang đói lả vì không có cơm bánh thì họ sẽ phản ứng thế nào, vì tôi chưa từng có kinh nghiệm cái đói của thân xác đến mức như thế, nhưng thường thấy dường như khi đói con người ta chỉ muốn có cái gì ăn vật chất rõ ràng, có chút gì đó dù là nhỏ bé thôi: một miếng snack của bọn trẻ con mẫu giáo, một vài hột cơm dính chút thức ăn vương vãi còn lại trong hộp ở trong sọt rác…chứ chẳng có ai đủ sức ngồi đấy mà nghe Lời của Chúa. Lúc ấy ai đó cho cái ăn thì ý nghĩa hơn là nghe giảng thuyết trình về tình yêu Thiên Chúa.

 

Nhưng nhìn lại sự thật về các công tác bác ái, những gì được mang danh hoạt động Từ Thiện đều là hình ảnh Ngôi Lời Nhập Thể đó mà thôi… khi ấy, Lời yêu thương và quan phòng gợi lên trong những tấm lòng trắc ẩn những sáng kiến thiết thực để hành động đem lại một chút no, một chút ấm cho những ai đang đói khổ…Lời nuôi dưỡng cả người cho và người được cho, như các môn đệ trong thời kỳ Giáo Hội sơ khai vãn luôn “chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy”, để “sau khi được Thiên Chúa nâng đỡ, ủi an họ cũng phải nâng đỡ ủi an những người lâm cảnh gian nan khốn khó”.

Và ngay cả những người sống đời thánh hiến cũng vậy, dù có làm trăm công nghìn chuyện tốt đẹp thì điều tuyệt hảo nhất vẫn phải là “Ăn cho no” Lời Thiên Chúa, không những thế còn phải lo liệu sao để cho mình hấp thụ đủ dưỡng chất của Lời để có một “nội công thâm hậu” mà phục vụ. Phục vụ mà thiếu Lời dưỡng nuôi thì như thể ngọn lửa rơm, như Mẹ Teresa Calcutta đã nói: “ Không vì Chúa KiTô bạn có thể làm việc bác ái trong một hay vài năm nhưng không thể làm suốt đời được…” vậy chính Lời nuôi dưỡng cả người phục vụ và người được phục vụ.

Tháng 5 nhắc cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời là Mẹ Maria Rất Thánh, Mẹ suốt cuộc đời chỉ sống cho một mình Thiên Chúa, Thánh Kinh đã ghi lại: “Maria hằng ghi nhớ tất cả những sự ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng”. Mẹ đã dạy chúng ta phương pháp “Nhai Lại” của những con vật ăn cỏ, nhai đi nhai lại Lời của Chúa, để Lời thấm nhập và trở nên chất bổ dưỡng cho chúng ta, thật ra tôi cũng chỉ là một người đang cố gắng mỗi ngày tập “nhai” Lời Chúa, để sống cho đẹp và sống cho nên ơn gọi của mình, bạn cũng hãy bắt đầu để Lời bước vào cuộc sống của mình nhé…

Lạy Chúa, chúng con là con của Chúa, chúng con nhận thấy rằng chúng con thật nghèo hèn, thật cùng khốn như đám đông đói lả trên cánh đồng hoang xưa, xin Chúa dùng Lời của Chúa để nuôi dưỡng chúng con, giúp chúng con đủ sức gánh vác cuộc đời mình và gánh đỡ cho nhau những gánh nặng trên đường về với Chúa…

  MTG Cái Nhum

 

LỜI TRẦN TÌNH KÍNH DÂNG NGƯỜI CHA ĐÃ RA ĐI

Cha kính yêu,

Khi con viết những dòng này thì Cha đã vĩnh viễn không còn trên cõi đời nữa. Có một chút tiếc nuối khi con không nói gì với Cha lúc Cha còn sinh thời, mặc dù thời gian được ở gần Cha thì rất dài... Nay Cha đã đi rồi! Con đang cố gắng đón nhận sự thật đau buồn này một cách có ý nghĩa, nên muốn viết ra một chút suy tư về cuộc đời âm thầm phục vụ của Cha, như một lời tri ân và cảm mến.

Xét theo định luật tự nhiên của vũ trụ, giờ đây Cha đang vô tư với tất cả những lo âu, khắc khoải, những dự tính tốt đẹp cho tương lai mà Cha đã bao ngày cưu mang, để giúp cho Giáo phận Vĩnh Long và cho nhiều ngườì, vì thân xác Cha giờ đây đang nằm sâu trong lòng đất mẹ Rạch Lọp thân thương của Cha. Nhưng con cảm nhận được Cha vẫn đang tiếp tục công việc của một người tôi tớ trung thành và khiêm tốn của Thiên Chúa, là hăng say rao giảng Tin Mừng Nước Chúa. Trước đây, qua Đài Phát thanh Chân lý Á Châu, nơi Cha thi hành sứ vụ Mục tử suốt 38 năm trời, Cha đã giảng Lời Chúa cho người Việt Nam trên toàn Châu Á này. Nhưng nay bên Chúa, Cha có thể nói về Chúa cho rất nhiều người, không giới hạn quốc gia hay dân tộc nữa.

Từ khi nhận lãnh tác vụ Linh mục, tuy không làm Cha Sở của một họ đạo nào, nhưng con chiên của Cha lại rất đông. Từ những anh chị em Việt Nam tị nạn, những cộng tác viên của Cha, số đông Linh mục và Tu sĩ – du học sinh đến từ Việt Nam, và nhất là những khán giả trung thành của Đài Chân lý Á Châu khắp nơi, trong đó có Chị Em Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn chúng con, đều đặn nghe tiếng Cha mỗi ngày. Cảm động nhất là vào lễ an táng của Cha, một người lương dân từ Cần Thơ đã tìm đến Rạch Lọp khi nghe tin buồn; người này cho biết bà thường xuyên nghe tiếng Cha qua Đài Phát thanh Chân Lý Á Châu!

Vậy đó, bất chấp mọi hoàn cảnh, thời cuộc... bằng chất giọng đặc sệt miền Nam, tiếng của Cha đã làm cho Lời Chúa vang dội cả bầu trời vùng Châu Á này, không sức mạnh nào có thể cản trở. Với dáng người thấp nhỏ, cuộc sống đơn sơ giản dị trong căn nhà nhỏ nơi một góc vườn của khu vực Đài Chân lý Á Châu, ít ai biết đến, thì đâu là động lực khiến cho lời rao giảng của Cha có ảnh hưởng mạnh đến như vậy?

Những ai có dịp tiếp xúc hay gần gũi Cha có thể trả lời một phần cho câu hỏi này. Và chính cuộc sống của Cha là câu trả lời chuẩn xác nhất. Với tính hiền hòa, vui vẻ và nụ cười đôn hậu, Cha luôn để lại trong lòng người một sự gần gũi và lòng trìu mến không giới hạn. Lòng nhân từ yêu thương của Cha được thể hiện rất rõ nét: không bao giờ trách cứ nặng lời hay để lòng giận ghét một ai, dù đối với những người cố tình lợi dụng lòng tốt của Cha. Cha lại rất chu đáo lo cho mọi người sống gần bên Cha từ những việc nhỏ nhất, từ vật chất đến tinh thần.  Cho nên chúng con, những người được diễm phúc đó thường hay nói với nhau: Đức Ông là Cha nhưng lại có tấm lòng của một người Mẹ. Bất cứ ai đến với Cha, đều nhận được sự tiếp đón và giúp đỡ chân tình như nhau, không phân biệt thành phần nào; ngay cả những người chưa tìm đến cũng được Cha quan tâm lo lắng khi biết được nhu cầu của họ. Điều này chính anh chị em tị nạn Việt Nam tại Phi Luật Tân trước đây là có cảm nghiệm sâu xa nhất; hầu như ai cũng yêu mến Cha và gọi bằng tiếng CHA rất thân thương.

Được du học tại Rôma và được sai đi phục vụ trong tư cách là một công dân và nhà truyền giáo của Tòa Thánh Vatican, với văn bằng Tiến sĩ Triết học, nhưng tính tình đơn sơ dễ mến, cuộc sống giản dị, chất phác của Cha đôi lúc đã làm cho vài người lầm tưởng và đôi khi tỏ ra thiếu kính trọng Cha. Điều này Cha cũng cảm nhận được và lấy làm vui mừng vì có cơ hội làm chứng cho Chúa Kitô nghèo khó và đau khổ. Nhưng đối với con, chính những đức tính tốt của Cha đã làm con thay đổi cái nhìn về hình ảnh một Linh mục.

Là người con của Giáo phận Vĩnh Long, Cha luôn ý thức mình có trách nhiệm với Giáo phận; dù ở nơi xứ người nhưng trái tim Cha luôn hướng về mọi sinh hoạt của Giáo phận, về những anh em Linh mục, tu sĩ, nhất là hai Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum và Cái Mơn. Cha chưa bao giờ từ chối khi Giáo phận có nhu cầu cần đến mình; bất chấp cơn bạo bệnh ung thư từng ngày hoành hành thân xác, Cha vẫn dành hết năng lực còn lại cho Giáo phận. Cụ thể nhất là cho đến những giờ phút sau cùng trước khi thân xác Cha về với lòng đất, thì công việc Cha dự định làm vẫn còn dở dang, đó là thánh lễ kính Lòng Chúa Thương Xót vào Chúa nhật II Phục Sinh tại Họ đạo Long Mỹ. Và còn biết bao dự tính tốt lành khác cho Chúa và các linh hồn. Thường thì người ta ham sống vì sợ phải chết, phải bỏ lại những gì là yêu mến nhất; còn Cha, Cha muốn sống chỉ vì muốn cống hiến cả con người và tình yêu cho Chúa và Hội Thánh Người, và đã vui lòng đón nhận cái chết như đón nhận thánh ý Chúa lần cuối trong cuộc đời. Cha đã sống triệt để lời thánh Phaolô: “Không ai trong chúng ta được sống cho mình, cũng không ai chết cho mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa.” (Rm 14, 7 - 8)

Sống hết mình cho Chúa và tha nhân; sống những gì mình đã rao giảng và rao giảng những gì mình đã sống. Đó chính là chất liệu làm cho lời rao giảng của Cha có sức thu hút và giúp ích cho nhiều tâm hồn.

Cha kính mến,

Còn rất nhiều điều tốt lành để nói về Cha nhưng con không thể nói hết ở đây. Con chỉ muốn thêm rằng: con rất hãnh diện về Cha, một Linh mục tốt lành của Linh Mục Đoàn Giáo phận Vĩnh Long, không phải vì hôm nay Cha được nổi danh, nhưng vì trái tim của Cha rất giống Trái Tim Chúa Giêsu, vị Mục Tử Nhân lành và mẫu mực.

Tạ ơn Chúa đã cho Cha đến trong trần gian, tại Giáo phận Vĩnh Long này. Cám ơn Cha đã một đời hiến thân phục vụ, xứng danh là một chiến sĩ kiên cường, chiến đấu không ngơi nghỉ cho đến giờ phút cuối cùng trong công cuộc loan báo Tin Mừng Nước Trời. Giáo phận sẽ mãi mãi nhớ về Cha như một người Thầy, một chứng tá của lòng nhiệt thành, tận tụy hy sinh cho Nước Trời. Riêng đối với con, Cha luôn là một người Cha tốt lành và thánh thiện, một người Cha âm thầm, đau khổ mà vẫn trung kiên. Nay Cha đã về bên Chúa, xin Cha hãy tiếp tục cầu nguyện cho Giáo phận Vĩnh Long mình đang vắng bóng Chủ Chăn. Xin Cha hãy yên nghỉ!

MTG Cái Mơn

 

TRANG SỐNG ƠN GỌI

 SỨ ĐIỆP ĐTC PHANXICÔ

NHÂN NGÀY THẾ GIỚI CẦU CHO ƠN GỌI

 

VATICAN. Chúa nhật thứ tư Phục Sinh 26-4-2015, Chúa nhật Chúa Chiên Lành, cũng là Ngày Thế Giới cầu cho ơn gọi lần thứ 52.

Trong ngày này, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô để truyền chức linh mục cho 19 Phó Tế, như một cử chỉ khích lệ ơn gọi.

Tình hình ơn gọi trong Giáo Hội trên thế giới hiện nay không khả quan lắm. Theo thống kê mới nhất của Tòa Thánh, số tín hữu Công Giáo trong năm 2013 gia tăng và có 1 tỷ 253 triệu người, tức là tăng thêm 25 triệu, tương đương với 2%, so với năm 2012 trước đó. Số LM triều và dòng tăng thêm 1035 vị, và hiện có 415.348 vị: số LM giáo phận liên tục gia tăng tại Phi châu, Á châu và Mỹ châu. Tuy nhiên tại Âu Châu, số LM tiếp tục giảm. Đặc biệt số nữ tu trong Giáo Hội tiếp tục giảm sút trầm trọng và năm 2013 còn 639.575 chị, tức là giảm 1,2% so với năm trước đó, và giảm 6,1% so với tình trạng năm 2008. Bắc Mỹ có số nữ tu giảm nhiều nhất: 16.6% trong vòng 5 năm qua, tiếp đến là Âu Châu: giảm 12,6% trong cùng khoảng thời gian đó.

Một điều đáng lo nữa, đó là số đại chủng sinh triều và dòng trên thế giới liên tục giảm sút trong 2 năm qua, và còn 118.251 thầy tính đến cuối năm 2013, tức là giảm mất 2.365 thầy kể từ cuối năm 2011.

Những sự kiện đó càng thúc đẩy các tín hữu quan tâm, gia tăng cầu nguyện cho ơn gọi và góp phần vào việc khơi dậy, nuôi dưỡng và hỗ trợ việc mục vụ ơn gọi.     

Như mọi năm, nhân dịp Ngày Thế Giới cầu cho ơn gọi, ĐTC đã công bố sứ điệp để nhắn nhủ các tín hữu về ngày này. Năm nay Sứ điệp có chủ đề là ”Xuất hành, kinh nghiệm cơ bản về ơn gọi”. Chúng tôi xin gửi đến quí vị toàn văn sứ điệp của ĐTC.

 

TOÀN VĂN SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA

Anh chị em thân mến,

Chúa nhật thứ 4 mùa Phục Sinh trình bày cho chúng ta hình ảnh vị Mục Tử nhân lành biết rõ các chiên của mình, kêu gọi, nuôi dưỡng và dẫn dắt chúng. Trong chúa nhật này, từ hơn 50 năm nay, chúng ta cử hành Ngày Thế giới cầu cho ơn gọi. Mỗi lần Ngày này đều nhắc nhớ chúng ta về tầm quan trọng của việc cầu nguyện, để, - như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ, - ”xin chủ mùa gặt sai nhiều thợ đến làm việc trong mùa gặt của Người” (Lc 10,2). Chúa Giêsu diễn tả mệnh lệnh này trong bối cảnh một cuộc sai đi truyền giáo: ngoài 12 tông đồ, Chúa còn gọi 72 môn đệ và sai họ đi từng hai người một để thi hành sứ vụ (Lc 10,1-16). Thực vậy, nếu Giáo Hội ”tự bản chất là truyền giáo” (Ad Gentes 2), thì ơn gọi Kitô chỉ có thể nảy sinh giữa lòng kinh nghiệm truyền giáo. Như thế, lắng nghe và theo tiếng Chúa Kitô Vị Mục Tử nhân lành, để cho mình được Chúa thu hút và dẫn dắt, dâng hiến chính cuộc sống của mình cho Chúa, có nghĩa là để cho Chúa Thánh Linh dẫn đưa chúng ta vào trong năng động truyền giáo, khơi dậy nơi chúng ta ước muốn và lòng can đảm vui mừng hiến dâng cuộc sống chúng ta, dành cuộc sống để phục vụ chính nghĩa Nước Thiên Chúa”.

Sự hiến dâng cuộc sống của mình trong thái độ truyền giáo chỉ có thể thực hiện được nếu chúng ta có khả năng ra khỏi chính mình. Vì thế, trong Ngày Thế giới cầu cho ơn gọi lần thứ 52 này, tôi muốn suy tư về sự 'xuất hành' đặc biệt, tức là ơn gọi, hay đúng hơn, là lời đáp trả của chúng ta đối với tiếng gọi của Thiên Chúa gửi đến chúng ta. Khi chúng ta nghe từ ”xuất hành”, chúng ta nghĩ ngay đến khởi đầu lịch sử tuyệt vời của tình yêu giữa Thiên Chúa và dân tộc con cái ngài, một lịch sử tiến qua những ngày thê thảm, làm nô lệ ở Ai Cập, việc Chúa gọi ông Môisê, biến cố giải thoát và hành trình tiến về đất hứa. Sách Xuất Hành, cuốn thứ hai trong bộ Kinh Thánh, kể lại lịch sử ấy, trình bày một dụ ngôn về toàn thể lịch sử cứu độ, và năng động cơ bản của niềm tin Kitô. Thực vậy, tiến từ trình trạng nô lệ của con người cũ tới cuộc sống mới trong Chúa Kitô chính là công trình cứu độ diễn ra nơi chúng ta nhờ đức tin (Ep 4,22-24). Tiến trình này thực sự là một ”cuộc xuất hành”, là hành trình của tâm hồn Kitô và của toàn thể Giáo Hội, là hướng đi quyết định của cuộc sống hướng về Chúa Cha”.

Nơi căn cội của mỗi ơn gọi Kitô có một chuyển động cơ bản của kinh nghiệm đức tin: tin có nghĩa là rời bỏ chính mình, ra khỏi tiện nghi thoải mái và sự cứng nhắc của cái tôi để tập trung cuộc sống của chúng ta vào Chúa Giêsu Kitô; giống như Tổ Phụ Abraham rời bỏ quê hương, lên đường trong niềm tín thác, vì biết rằng Thiên Chúa sẽ chỉ đường cho để tiến về đất mới. Không được hiểu sự ”ra đi” này là sự coi rẻ cuộc sống, coi nhẹ tâm tình và nhân tính của mình, trái lại, ai lên đường theo Chúa Kitô thì sẽ tìm được cuộc sống sung mãn, đặt trọn bản thân phụng sự Thiên Chúa và Vương Quốc của Ngài. Chúa Giêsu đã nói: ”Ai từ bỏ gia cư, hoặc anh em, chị em, cha mẹ, hay con cái, đồng ruộng, vì danh Thầy, thì sẽ nhận được gấp trăm và sẽ được sự sống đời đời làm gia sản” (Mt 19,29). Tất cả những điều ấy có ăn cội sâu xa nơi tình yêu. Thực vậy, ơn gọi Kitô trước tiên là một lời mời gọi yêu thương, thu hút và gửi chúng ta đi xa hơn bản thân mình, giải tỏa sự tập trung vào mình, khơi lên một ”cuộc xuất hành trường kỳ ra khỏi cái tôi bị khép kín để giải thoát nó qua sự hiến thân, và nhờ đó tiến về sự tìm lại bản thân, hay đúng hơn là sự khám phá Thiên Chúa” (Deus Caritas est, 6).

ĐTC viết tiếp: ”Kinh nghiệm xuất hành chính là mô hình của đời sống Kitô, nhất là những người đón nhận ơn gọi đặc biệt tận hiến phục vụ Tin Mừng. Kinh nghiệm ấy hệ tại thái độ luôn tái hoán cải và biến đổi, luôn luôn tiến bước, đi từ sự chết đến sự sống như chúng ta cử hành trong toàn thể mục vụ: đó là một năng động vượt qua. Xét cho chúng, từ việc Chúa gọi Abraham tới việc kêu gọi Môisê, từ hành trình của Israel trong sa mạc cho đến cuộc hoán cải như các ngôn sứ rao giảng, cho đến hành trình thừa sai của Chúa Kitô, với tột đỉnh là cái chết và sự sống lại của Ngài, ơn gọi luôn luôn là một hoạt động của Thiên Chúa làm cho chúng ta ra khỏi tình trạng ban đầu của mình, giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ, kéo chúng ta ra khỏi tập quán và sự dửng dưng, phóng chúng ta hướng về niềm vui hiệp thông với Thiên chúa và anh chị em. Vì thế, đáp lại tiếng gọi của Chúa chính là để cho Chúa làm cho chúng ta ra khỏi tình trạng ổn định giả tạo của mình để lên đường tiến về Chúa Giêsu Kitô là đích điểm đầu tiên và cuối cùng của đời ta, và là hạnh phúc của chúng ta”.

Năng động xuất hành không chỉ liên quan tới mỗi ơn gọi riêng, nhưng còn tới hoạt động truyền giáo và loan báo Tin Mừng của toàn thể Giáo Hội nữa. Giáo Hội thực sự trung thành với Thầy Thánh theo mức độ đó là một Giáo Hội ”đi ra ngoài”, không bận tâm về chính mình, về những cơ cấu và những chinh phục của mình, nhưng có khả năng ra đi, chuyển động, gặp gỡ các con cái Thiên Chúa trong hoàn cảnh thực tế của họ và đồng cảm với những vết thương của họ. Thiên Chúa ra khỏi chính mình, trong tác động yêu thương của Ba Ngôi, lắng nghe lầm than của dân Ngài và can thiệp để giải thoát họ (Xh 3,7). Cả Giáo Hội cũng được mời gọi sống và hành động như vậy: Giáo Hội loan báo Tin Mừng, đi ra ngoài gặp gỡ con người, loan báo lời giải thoát của Tin Mừng, chữa trị những vết thương của các linh hồn và thể xác bằng ơn thánh của Húa, nâng đỡ người nghèo và những người túng thiếu.

Anh chị em thân mến, sự xuất hành có đặc tính giải thoát, hướng về Chúa Kitô và những người anh em, cũng chính là con đường để hiểu trọn vẹn con người và làm tăng trưởng về mặt nhân bản và xã hội trong lịch sử. Lắng nghe và đón nhận tiếng gọi Chúa không phải là một vấn đề riêng tư và duy nội tâm, có thể bị lẫn lộn với cảm xúc nhất thời; trái lại đó là một dấn thân cụ thể, thực tế và trọn vẹn, bao trùm trọn cuộc sống của chúng ta, đặt cuộc sống ấy phục vụ cho việc xây dựng Nước Chúa trên trái đất này. Vì thế, ơn gọi Kitô, được ăn rễ sâu nơi sự chiêm ngắm trái tim của Chúa Cha, đồng thời thúc đẩy dấn thân liên đới giải thoát những người anh chị em, nhất là những người nghèo khổ nhất. Người môn đệ của Chúa Giêsu có con tim rộng mở đối với chân trời vô tận của Chúa và sống thân mật với Chúa, không bao giờ họ trốn chạy cuộc sống và thế giới, nhưng trái lại, ”họ sống theo tình hiệp thông truyền giáo” (E.G. 23).

ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Tiến trình xuất hành hướng về Thiên Chúa và tha nhân như thế làm cho đời sống chúng ta đầy vui mừng và ý nghĩa”. Tôi muốn nói điều đó nhất là với các bạn trẻ là những người do tuổi và quan niệm của họ về tương lai đang mở ra trước mắt họ, họ biết sẵn sàng và quảng đại. Nhiều khi những điều bất định và lo âu về tương lai và không chắc chắn về cuộc sống thường nhật có nguy cơ làm tê liệt đà tiến của họ, cản trở những giấc mơ của họ, đến độ họ nghĩ là không bõ dấn thân, và Thiên Chúa của đức tin Kitô giới hạn tự do của họ. Trái lại, hỡi bạn trẻ thân mến, các bạn đừng sợ ra khỏi chính mình và lên đường! Tin Mừng là Lời giải thoát chúng ta, biến đổi và làm cho đời sống chúng ta trở nên tươi đẹp hơn. Thật là đẹp dường nào khi để cho tiếng gọi của Chúa làm cho chúng ta ngạc nhiên, đón nhận Lời Chúa và bước theo vết của Chúa Giêsu, trong sự thờ lạy mầu nhiệm Thiên Chúa và quảng đại hiến thân cho tha nhân! Cuộc sống của các bạn ngày càng trở nên phong phú và vui tươi hơn!

”Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương của mọi ơn gọi, đã không sợ thưa ”Xin vâng” đối với tiếng gọi của Chúa. Mẹ tháp tùng và hướng dẫn chúng ta. Với lòng can đảm quảng đại, Mẹ Maria đã hát lên niềm vui ra khỏi chính mình và phó thác những dự phóng cuộc sống của Mẹ cho Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Mẹ để hoàn toàn sẵn sàng đón nhận ý định của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta; để chúng ta gia tăng ước muốn ra đi và ân cần hướng về người khác (Xc Lc 1,39). Xin Mẹ Maria bảo vệ và chuyển cầu cho tất cả chúng ta.

Vatican ngày 29-3-2015, Chúa nhật lễ lá.

Phanxicô Giáo Hoàng

G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

 

TRANG THIẾU NHI

CHỦ NGHĨA “MAC-KE-NO”

Không biết từ “mac-ke-no” đã được sáng chế tự bao giờ. Nhưng dường như nó là sự "kết tinh" của lối sống vô cảm của con người khi đối xử với nhau. Lối sống vô cảm có muôn hình vạn trạng và xuất hiện ở khắp nơi, từ trong gia đình đến ngoài xã hội thậm chí hiện diện trong cả các tôn giáo.

Ngày nay, mối quan tâm của nhiều người, trong đó có không ít người trẻ là làm giàu - có  thể bằng bất cứ cách gì, và học cách hưởng thụ. Những chuyện khác dường như không còn là mối quan tâm của người trẻ nữa, dù có lúc họ cũng muốn quan tâm. Vì sao?

Vì dường như mọi chuyện trong xã hội hiện tại đều được giải quyết bằng tiền? Xin việc: Tiền, vào bệnh viện: Tiền, đến trường học: Tiền, lên chức: Tiền, ... chỉ thấy đâu cũng hỏi tiền và tiền.

Sự vô cảm vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của tính ích kỷ, tính chai lì. Không ít người đã thờ ơ với thời cuộc, chạy theo thói "phong trào" giả dối. Dần dần, những hành động tốt bị coi là việc làm lạc lõng, người làm việc tốt có khi lại thấy ngượng vì bị người ta cho rằng mình là người không bình thường. Ví dụ:

Ngày nay, đối với các người trí thức cũng không thoát khỏi chủ nghĩa mac-ke-no. Họ co lại và lo chuyện vinh thân phì gia, lo tích góp để khi về hưu được an nhàn, thoải mái…

Chủ nghĩa “mac-ke-no” làm cho những người có lương tâm bén nhạy dần dần cũng bị chai lì và xem việc quan tâm đến người khác là chuyện dư thừa, không cần thiết nữa.

Điều đáng buồn là lối sống vô cảm không chỉ hiển hiện trong đời sống xã hội mà đã len lỏi vào đời sống nhiều gia đình khiến cha mẹ và con cái tuy gần về thể lý nhưng tâm lý thì cách xa nhau vời vợi. Nhiều cha mẹ dồn hết sức lực và thời gian để lo cho công ăn việc làm để mặc con cái sống sao thì sống, ăn gì thì ăn, ở với ai thì ở… mặc kệ nó!

Ngược lại, nhiều người con cũng đã mặc kệ cha mẹ có lo lắng, nhắc nhở, dạy bảo, buồn sầu… Họ không cần quan tâm, miễn sao họ được tự do đi chơi với bạn bè, thoát khỏi vòng tay của cha mẹ càng sớm càng tốt.

Điều đáng buồn hơn nữa là chủ nghĩa “mac-ke-no” đã làm cho nhiều kitô hữu đóng lòng lại trước những nỗi khổ, lời van xin giúp đỡ, ủi an của tha nhân… Nhiều người còn nói rằng: việc giúp đỡ người nghèo, thăm viếng người đau yếu… đó là việc của các cha, các tu sĩ… không phải là việc của mình nên không cần quan tâm.

Những điều trên đây làm tôi nhớ đến câu chuyện ông phú hộ giàu có và Lagiarô nghèo khổ mà Phúc Âm Thánh Luca (Lc 16, 19-26) đã diễn tả. Điều khiến ông phú hộ bị trầm luân trong hỏa ngục không phải vì ông có quá nhiều của cải vật chất, không phải vì ông ăn uống cao lương mỹ vị, yến tiệc linh đình, nhưng chính cái vô tâm đã làm cho mắt ông không thấy một Lagiarô nghèo khổ đang đói khát bên cạnh ông, hay nói cách khác, Lagiarô đói khát mặc kệ Lagiarô, việc ông ăn uống linh đình là việc của ông. Số phận của ông phú hộ giàu có và Lagiarô nghèo khổ thì chúng ta đã rõ rồi.

Tóm lại, nguyên nhân sâu xa của lối sống theo chủ nghĩa “mac-ke-no” là vì con người dửng dưng với Thiên Chúa, nên họ cũng dửng dưng, vô cảm với anh em. Một khi con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình thì chắc chắn sự dữ và sự ác sẽ đến trong tâm hồn. Một khi trái tim con người đóng kín trước lời mời gọi của Thiên Chúa thì cũng sẽ đóng kín trước những nhu cầu của anh chị em.

Xin Chúa cho mỗi người chúng con trở nên mềm lòng trước tình yêu của Chúa. Xin cho chúng con có một trái tim thật mềm để biết chạnh thương, rung động trước những đau khổ của anh em, và có một tâm hồn thật nhạy bén để biết quan tâm và cảm thông với nhau hơn.

 

CỘNG ĐOÀN TÍN HỮU ĐƯỢC  NUÔI DƯỠNG BẰNG LỜI

Câu trả lời đầu tiên của Chúa Giêsu khi để cho ma quỷ cám dỗ: "Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra." (Mt 4, 4b). Đây là lời nhắc nhở của Chúa dành cho người kitô hữu.  Lời nhắc nhở ấy là ta có một kho tàng quý báu được các Tông đồ truyền lại là LỜI CHÚA.

Con người vừa là vật chất vừa tinh thần. Nếu ta chỉ tập trung lo bồi dưỡng cho thân xác mà không lo cho tinh thần thì sự sống của ta sẽ mất cân đối. Cha mẹ thương con không những chỉ lo cho con được no cơm ấm áo mà còn phải lo cho con được giáo dục. Giáo dục bằng lời, giáo dục bằng gương sống.

 

Chúa Giêsu chính là LỜI của Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại. Chỉ vỏn vẹn trong ba năm sống công khai mà Chúa Giêsu đã nói và đã làm rất nhiều. Tất cả những điều đó được các Thánh sử ghi lại. Dầu vậy kết thúc Tin mừng theo thánh Gioan có lời như sau: "Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra" (Ga 21, 25). Không những vậy, còn nhiều sách được công nhận là Lời Chúa chứa đựng bao nhiều điều tốt đẹp.

Như vậy, kho tàng LỜI CHÚA được các Tông đồ truyền lại là thức ăn rất bổ dưỡng cho đời sống của người kitô hữu.

Thời Giáo hội sơ khai các tín hữu đã chuyên cần cầu nguyện và đọc Lời Chúa nhờ các Tông đồ hướng dẫn (Cv 2, 42).  Ngày nay, người kitô hữu có thể tự mình đọc Lời Chúa để cầu nguyện. Tốt nhất là họ cùng đọc và cầu nguyện chung với nhau dưới sự hướng dẫn của người có trách nhiệm trong Giáo Hội.

Bất cứ lời nào trong kho tàng Lời Chúa nhất là nơi các quyển Tin mừng đều là thức ăn bổ dưỡng rất tốt cho phần rỗi đời đời của người kitô hữu. Chúa Giê su đã nói: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.  Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành" (Mt 5, 17 - 18). Điều quan trọng nhất trong kho tàng Lời Chúa là Chúa muốn người kitô hữu nhận ra là Người yêu thương từng người một. Khi nhận ra được điều đó Chúa muốn người kitô hữu hãy biết thể hiện tình thương đó cho nhau. Đó chính là điều mà Chúa muốn kiện toàn.

Như thế, một ngày một tháng hay một năm người kitô hữu không thể đón nhận sự kiện toàn này mà là phải cả đời sống trên trần gian này. Ước gì các ki tô hữu biết quý trọng những giờ phút được cùng nhau đọc, lắng nghe và cầu nguyện với kho tàng Lời Chúa. 

 

TRANG GIỚI TRẺ

Bài Giáo Lý XV Về Kinh Tin Kính Của ĐTC Phanxicô

Hội Thánh Thánh Thiện

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 2 tháng 10 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ngài tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về kinh Tin Kính và Năm Đức Tin và nói về Hội Thánh Thánh Thiện.

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong “Kinh Tin Kính”, sau khi đã tuyên xưng: “Tôi tin Hội Thánh duy nhất”, chúng ta thêm tĩnh từ “thánh thiện”; chúng ta xác nhận sự thánh thiện của Hội Thánh, và đó là một đặc tính đã hiện diện ngay từ thủa ban đầu trong tâm thức của các Kitô hữu tiên khởi, là những người đơn thuần được gọi là “các thánh” (x. Cv 9:13.32.41, Romans 8:27 ; 1 Corinthians 6:1), vì họ xác tín rằng chính hành động của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, là Đấng thánh hóa Hội Thánh.

Nhưng Hội Thánh thánh thiện theo nghĩa nào khi chúng ta thấy rằng Hội Thánh lịch sử, trên cuộc hành trình của nó trải qua nhiều kỷ nguyên, đã có nhiều khó khăn, nhiều vấn đề và nhiều giây phút đen tối? Làm sao một Hội Thánh được hợp thành bởi những con người, những kể tội lỗi, có thể là một Hội Thánh thánh thiện?  Những người nam nữ tội lỗi, các linh mục và nữ tu tội lỗi, các Giám Mục và Hồng Y tội lỗi, các Giáo Hoàng tội lỗi?  Tất cả, tất cả mọi mọi người đều như thế.  Như vậy làm sao một Hội Thánh như thế có thể thánh thiện?

1. Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn mình được hướng dẫn bởi một đoạn trong thư thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô.  Thánh Tông Đồ, dùng thí dụ về những mối liên hệ gia đình, quả quyết rằng: “Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mạng sống Mình để thánh hóa Hội Thánh” (5:25-26). Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, bằng cách hiến trọn thân mình trên thập giá.  Điều này có nghĩa gì?  Điều này có nghĩa là Hội Thánh thánh thiện bởi vì xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng thánh thiện, là Đấng trung tín và không bỏ mặc Hội Thánh cho quyền năng sự chết và sự dữ (x. Matthew 16:18).  Hội Thánh thánh thiện vì Đức Chúa Giêsu Kitô, Đấng Thánh của Thiên Chúa (Mc 1:24), đã kết hợp một cách bất khả phân ly với Hội Thánh (x. Mt 28;20);  Hội Thánh được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần là Đấng thanh lọc, biến đổi và canh tân Hội Thánh.  Hội Thánh thánh thiện không phải vì công lao của chúng ta,  nhưng vì Thiên Chúa làm cho nó nên thánh, nó là hoa quả của Chúa Thánh Thần và hồng ân của Ngài.  Không phải chúng ta làm cho Hội Thánh thành thánh thiện.  Chính Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, là Đấng trong tình yêu của Ngài làm cho Hội Thánh nên thánh.

2. Anh chị em có thể nói với tôi: nhưng Hội Thánh được cấu thành bởi những người tội lỗi, chúng tôi thấy họ mỗi ngày.  Và điều này đúng: chúng ta là một Hội Thánh của những người tội lỗi; và chúng ta, những người tội lỗi, được mời gọi để cho mình được Thiên Chúa biến đổi, đổi mới và thánh hóa.  Trong lịch sử đã có cám dỗ của một số người khi họ xác quyết rằng: Hội Thánh chỉ là Hội Thánh của những người trong sạch, hoàn toàn trước sau như một, còn những người khác thì phải loại ra.  Điều này không đúng!  Đó là lạc giáo!  Không!  Hội Thánh là thánh, nhưng không chối từ những người tội lỗi; không chối từ chúng ta, tất cả chúng ta; Hội Thánh không chối từ vì Hội Thánh mời gọi và đón chào tất cả chúng ta, Hội Thánh cũng mở cửa ra cho những người xa cách nhất, mời gọi tất cả mọi người hãy để cho mình được bao bọc bởi lòng thương xót, sự ân cần và tha thứ của Chúa Cha, là Đấng ban cho tất cả mọi người cơ hội gặp gỡ Ngài và tiến về sự thánh thiện.  “Nhưng! Lạy Cha, con là kẻ có tội, con đã phạm những trọng tội, làm sao con có thể là một phần tử của Hội Thánh?”  Anh em thân mến, chị em thân mến, chính vì điều này mà Chúa muốn anh chị em thưa với Người: “Lạy Chúa con đây, với các tội lỗi của con.”  Có ai trong anh chị em ở đây không có tội không?  Có một người nào trong anh chị em không?  Không ai cả, không có ai trong chúng ta, tất cả chúng ta đều mang tội lỗi trong người, nhưng Chúa muốn nghe chúng ta nói: “Xin tha thứ cho con, xin giúp con bước đi, xin biến đổi tâm hồn con.”  Và Chúa có thể biến đổi các tâm hồn.

Thiên Chúa mà chúng ta gặp trong Hội Thánh không phải là một quan tòa nhẫn tâm, nhưng như Người Cha của dụ ngôn trong Tin Mừng.  Anh chị em có thể như người con hoang đàng bỏ nhà ra đi, đã chìm đến tận đáy của việc xa cách Thiên Chúa.  Khi anh chị em có sức mà nói: Tôi muốn về nhà, anh chị em sẽ thấy cánh cửa mở ra.  Thiên Chúa đến với anh chị em vì Ngài luôn luôn chờ đợi, Thiên Chúa luôn luôn chờ đón anh chị em, Thiên Chúa ôm lấy anh chị em, hôn anh chị em và ăn mừng.  Chúa là như thế, sự âu yếm của Cha chúng ta là như thế.  Chúa muốn chúng ta là phần tử của một Hội Thánh biết cách mở rộng vòng tay chào đón tất cả mọi người, đó không phải nhà của một số ít người, nhưng nhà của tất cả mọi người, nơi mọi người có thể được đổi mới, biến đổi, thánh hóa bởi tình yêu của Ngài, những người mạnh nhất và những người yếu nhất, những người tội lỗi, những người thờ ơ, những người cảm thấy chán nản và lạc đường.  Hội Thánh cống hiến cho tất cả mọi người khả năng để theo đuổi con đường nên thánh, đó là con đường của Kitô hữu: làm cho chúng ta gặp Đức Chúa Giêsu Kitô trong các Bí Tích, nhất là Bí Tích Hòa Giải và Thánh Thể; truyền thông cho chúng ta Lời Chúa, làm cho chúng ta sống trong đức mến, trong tình yêu của Thiên Chúa dành cho mọi người.  Như thế, chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta có để cho mình được thánh hóa không?  Chúng ta là một Hội Thánh mời gọi và chào đón những người tội lỗi bằng vòng tay rộng mở, đem lại cho họ can đảm và hy vọng, hay chúng ta là một Hội Thánh đóng kín?  Chúng ta có phải là một Hội Thánh mà trong đó người ta sống tình yêu của Thiên Chúa, trong đó người ta để tâm đến tha nhân, trong đó người ta cầu nguyện cho nhau không?

3. Một câu hỏi cuối cùng: tôi, một người cảm thấy mệt mỏi, yếu đuối và tội lỗi, có thể làm gì?  Thiên Chúa nói với anh chị em: đừng sợ sự thánh thiện, đừng sợ nhắm đến mục tiêu cao, để cho mình được Thiên Chúa yêu thương và thanh tẩy, đừng sợ để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình.  Chúng ta hãy để cho mình bị lây sự thánh thiện của Thiên Chúa.  Mọi Kitô hữu được mời gọi nên thánh (x. Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, 39-42); và sự thánh thiện không hệ tại chính yếu ở việc làm những sự phi thường, nhưng ở việc để Thiên Chúa hoạt động.  Đó là cuộc gặp gỡ giữa sự yếu đuối của chúng ta với sức mạnh của ân sủng của Ngài, đó là tin tưởng vào hành động của Ngài, là Đấng giúp chúng ta sống trong đức ái, để làm tất cả mọi sự với niềm vui và khiêm nhường, vì vinh quang Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.  Có một câu nói thời danh của nhà văn Pháp Léon Bloy, trong những giây phút cuối của cuộc đời ông, ông đã nói: “Chỉ có một nỗi buồn trong cuộc sống, đó là không nên thánh.”  Chúng ta đừng mất hy vọng vào sự thánh thiện, tất cả chúng ta hãy theo con đường này.  Chúng ta có muốn là thánh không?  Chúa đang chờ đợi tất cả chúng ta với vòng tay rộng mở, chờ đợi để cùng đồng hành với chúng ta trên con đường này của sự thánh thiện.  Chúng ta hãy sống đức tin của mình với niềm vui, hãy để cho mình được Chúa yêu thương… chúng ta hãy xin Thiên Chúa hồng ân này trong lời cầu nguyện cho chính mình và cho tha nhân.

Phaolô Phạm Xuân Khôi  chuyển ngữ

Nguồn: giaoly.org

 

TRANG GIA ĐÌNH

NHỮNG BÀI HỌC VỀ HÀNH VI

Là những người làm cha làm mẹ, công cụ dạy con số một chính là bản thân mình.

Muốn dạy con không nên nói xấu? Đừng ngồi lê đôi mách. Muốn dạy con bạn cầu nguyện? Hãy cầu nguyện! Muốn dạy con bạn đối xử tốt với tha nhân? Hãy đối xử tốt với chúng và những người bạn gặp gỡ. Muốn dạy con giữ bình tĩnh? Chính bạn phải điềm tĩnh. Đáng buồn thay, không có gì khó khăn khi bạn cố gắng, nhưng đôi khi bạn không dạy con theo cách này.

Đôi lúc mọi thứ đang đi sai hướng và tất cả mọi thứ làm bạn bực mình cho đến khi... Người mẹ la hét và vùng vẫy. Đây sẽ là thời điểm con bạn nhớ, chứ không phải hàng trăm lần bạn thể hiện vẻ dịu hiền và nhẫn nại. Đây sẽ là hình ảnh lâu dài của bạn như là một người mẹ. Bạn dạy có cách cư xử được không khi bạn không thể cư xử với bản thân? Bạn không thể quay ngược thời gian, tất nhiên đó là lý do tại sao bạn cần phải tránh sai lầm. Chúng ta muốn dạy con cái bằng gương tốt của chính mình. Nhưng trong giây phút yên tĩnh của sự xấu hổ và ký ức thất bại, đó chưa phải là thất bại. Đó vẫn là thời khắc để dạy dỗ.

Vẫn có một mẫu gương tốt chúng ta có thể dạy con cái mình khi chúng ta đã mắc phải sai lầm và đó là một trong những điều quan trọng nhất. Làm thế nào để nói Xin lỗi. Làm thế nào để thừa nhận bạn sai lầm. Vì vậy, không thể bị thất bại ngay! Đây là thời điểm quan trọng để bạn toả sáng. Hãy lấy cảm giác xấu hổ và thất vọng biến nó thành chiến thắng. "Mẹ xin lỗi. Mẹ không nên làm điều đó". Đừng nói lời bào chữa. Có thể giải thích những gì đang xảy ra dẫn đến sai lầm để thấy rằng bạn có thể làm khác Hãy nói về cách mọi người dành toàn bộ đời sống của mình để làm điều tốt hơn và luôn có nhiều việc phải làm. Hãy thể hiện sự khiêm tốn đối với con bạn.

Sau đó, hãy bắt đầu với việc ôm con. Và bạn sẽ thấy rằng con cái cũng có thể dạy những bài học tốt đẹp: Làm thế nào để tha thứ.

Nguồn: CAITLIN MARCHAND, Catholic Education Resource Center

Tạ Ân Phúc

 

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

25 Bài Giáo Lý Về Thánh Phaolô

Bài 15.  Thánh Phaolô được xem là người thành lập nhiều cộng đoàn Kitô hữu, vậy Ngài đi rao giảng và thành lập những cộng đoàn ấy thế nào?

Sách Công Vụ Tông đồ (Cvtd) và những thư thánh Phaolô cho ta ấn tượng Phaolô là một nhà thuyết giảng di động và một người xây dựng nhiều cộng đoàn trên đường Ngài đi truyền giáo. Ngài cũng thường xuyên liên lạc, lo lắng đến đời sống mục vụ và tinh thần những cộng đoàn này bằng những thư từ hay gởi lời hỏi thăm khi có điều kiện, nhất là sau khi Ngài rời khỏi những cộng đoàn này.

Về địa lý, thường thì thánh Phaolô tập trung rao giảng tin mừng ở những thành phố lớn vùng Tiểu Á và Hi Lạp như Antiokia, Cilicia, Athens, Corintô, Galata, Thessalonica… Về thời gian, có nơi Ngài ở lại chừng vài tuần lễ, có nơi Ngài ở lại lâu hơn như hơn 2 năm ở Ephêsô và chừng 18 tháng ở Corintô. Về mục vụ, thánh Phaolô quan tâm đến những cộng đoàn Ngài thành lập (như Corintô, Galata…) cũng như cộng đoàn Ngài không thành lập (như Roma).

Khi nói đến những cộng đoàn thánh Phaolô thành lập, chúng ta cũng không bỏ qua những cộng đoàn nhỏ, bắt đầu với vài ba gia đình họp nhau, việc thờ phượng và giảng dạy được tiến hành trong các nhà ở của họ.

Các nhà Kinh Thánh cho rằng những cộng đoàn tiên khởi sinh hoạt trong hai hình thức. Vì một số những Kitô hữu đầu tiên là người Do Thái nên họ họp nhau với những tín hữu Do Thái giáo mộ đạo khác trong các Hội Đường để nghe các thầy Rabbi đọc và nghe giải thích Thánh Kinh (thường là Ngũ Kinh hay Luật Môisê). Sách Công Vụ Tông Đồ cũng kể chuyện Phaolô đến giảng ở các Hội Đường (Cvtđ 14:1; 17:1-2).

Sau đó, họ về nhà riêng để cử hành Bữa Ăn Của Chúa, mà chúng ta hiểu là Thánh Lễ ngày nay. Trong thư thứ nhất Corintô, thánh Phaolô miêu tả cho ta thấy Bữa Ăn (Thánh Lễ) trong nhà có những chia rẽ của người giàu kẻ nghèo, và thánh Phaolô quở trách như thế là làm nhục Hội Thánh Chúa, không xứng đáng để ăn Bánh và uống Chén của Chúa (1 Cor 11:17-22; xem thêm Cvtđ 18:7-8).

Thường những nhà này là của những người khá giả, rộng lớn đủ để dung nạp chừng 50-60 người. Trong thư gởi Roma, Phaolô gởi thư từ nhà của “anh Gaiô, người tiếp rước tôi và tiếp rước cả Hội Thánh trong nhà của anh” (Rom 16:23). Trong thư thứ nhất Corintô, Phaolô viết: “ Aquila và Priscilla cùng với Hội Thánh họp tại nhà họ gửi lời chào anh em trong Chúa” (1 Cor 16:19; xem thêm 16:5). Khi viết thư trong tù để gởi đến thăm Philêmon, thánh Phaolô nhắc đến “Hội Thánh họp tại nhà anh” (Phile 1:2). Cuối cùng, trong thư gởi tín hữu Côlôsê mà có lẽ Phaolô viết trước khi chịu chết, Ngài “gửi lời chào các anh em ở Laođikia, chị Nympha và Hội Thánh vẫn họp tại nhà chị ấy” ( Col 4:15).

Nhiều nhà Kinh Thánh cho rằng thánh Phaolô thành lập nhiều cộng đoàn Kitô hữu, nhưng không thành lập những “Hội Thánh họp trong nhà” tại vùng Colôsê và Laodicea, kể cả “Hội Thánh họp trong nhà” của Philêmon và Nympha. Còn hai vợ chồng Priscilla và Aquila ở Roma có “Hội Thánh họp trong nhà” họ thời gian khá lâu trưóc khi Phaolô đến Roma.

Tóm lại, chúng ta khó nói chính xác con số bao nhiêu cộng đoàn Phaolô đã thành lập hay đã thăm viếng, một phần vì hình thái thành lập của các cộng đoàn tiên khởi thường có tính cách gia đình, một phần ta không có những tài liệu chính xác để làm việc này.

Mt. Nguyễn khắc Hy, S.S.

Nguồn: liendoanconggiao.net

 

TRANG QUỚI CHỨC

NGƯỜI TA SỐNG BẰNG GÌ ?

Hẳn là nhiều người trong chúng ta đã rất thờ ơ với câu nói của Chúa Giêsu: Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Người ta nói: ăn để sống chứ có ai nói: nghe để sống đâu? Đúng là ăn để sống, nhưng chữ ăn trong tiếng Việt có nghĩa rất rộng: ăn uống, ăn nhậu, ăn gian, ăn cướp, ăn hối lộ…

Xem ra có những thứ ăn vào không giúp chúng ta sống, ngược lại con đưa chúng ta đến cái chết !

Đã đành sự sống của chúng ta cần phải được nuôi dưỡng bằng cơm bánh, thịt cá… thế nhưng nếu chỉ biết ăn cơm, uống nước thôi liệu có thể giúp chúng ta sống không? Chúng ta có thể sống mà không cần kiến thức? Một đứa bé mới lọt lòng mẹ, tại sao người ta chỉ cho nó bú mà không cho nó ăn cơm ?

Các nhà khoa học nói rằng các con vật có thể biết trước được động đất sắp xảy ra trong khi con người thì không và phải nhờ vào những cái máy dự báo mới biết được. Những cái máy đó là do con người tích tụ kiến thức lâu dài mới chế tạo ra được. Loài người đã phải nhìn, phải nghe, phải tìm hiểu những hiện tượng, những dấu chỉ, tín hiệu từ trong lòng đất, còn con vật ai đã dạy cho chúng, ai đã thông báo để chúng biết để di tản tìm nơi an toàn mà tồn tại? Người ta gọi đó là bản năng sinh tồn, mà bản năng sinh tồn là gì? Đó là một thứ mà Tạo Hóa đã đặt để trong mỗi tạo vật để giúp chúng tồn tại khi chúng sống đúng như những gì đã được phú bẩm, còn nếu như chúng không tuân theo quy luật đó hay không thể làm theo thì chúng không thể tồn tại.

Khi nghe lời Chúa Giêsu nói, chúng ta cũng có thể nghĩ như người Do Thái, cho rằng Chúa Giêsu nói chuyện mông lung, xa vời quá. Chẳng lẽ mỗi ngày cứ đem quyển Kinh Thánh ra đọc rồi sẽ no, sẽ trường sinh bất tử à?

Chúa Giêsu đâu có cấm không cho chúng ta ăn, nhưng Ngài muốn chúng ta ăn đúng thứ cần phải ăn, ăn đúng cách.

Hơn bao giờ hết, ở thời đại chúng ta, chúng ta mới quan tâm tới việc phải ăn gì và ăn thế nào.

Đâu phải khi đói thì chúng ta có thế ăn bất cứ thứ gì, ăn bất cứ lúc nào. Ngày này người ta hay nói đến những thực phẩm có mang những hóa chất làm cho chúng thêm hấp dẫn nhưng khi ăn vào dần dần sẽ gây bệnh dẫn đến tử vong. Người ta cũng khuyên không nên ăn uống vào buổi tổi không bổ dưỡng, trái lại hại gan, thận…..

Đó là những kiến thức chúng ta cần phải có nếu không muốn đưa mình vào chổ chết, mà những kiến thức đó từ đâu mà có? đó là những kinh nghiệm góp nhặt từ trong tự nhiên, nơi đặc tính của mỗi sinh vật, mỗi loại hóa chất…..Nói cách khác, đó là những chỉ dẫn sử dụng được Tạo thành (Thiên Chúa) ghi nơi mỗi tạo vật mà loài người chúng ta dần dần đã đọc được. Và sự thật chúng ta thấy cái gì hợp với tự nhiên thì tốt cho con người, cái gì trái với tự nhiên thì sẽ mang đến tác hại cho con người. Mà cái tự nhiên đó là gì? Đó là Lời đã được ghi vào trong mỗi tạo vật là quy luật mà con người, là thụ tạo được Thiên Chúa đặt lên cai quản các tạo vật cần phải sử dụng.

Như vậy khi chúng ta nuốt từng Lời của Thiên Chúa nghĩa là khi chúng ta lắng nghe và thực hành đúng như Lời Chúa dạy qua luât tự nhiên, qua các giới răn, qua Phúc âm, chúng ta sẽ biết cách sử dụng các tạo vật cách đúng đắn mà không bị tác tác hại nhưng sẽ giúp chúng ta sống hạnh phúc. Ngược lại nếu chúng ta không sử dụng theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa mà sử dụng chúng theo ý của chúng ta thì mọi sự sẽ chống lại chúng ta.

Là một tín hữu chúng ta cũng tin rằng, khi chúng ta sống theo Lời Chúa dạy thì chúng ta sẽ biết sử dụng mọi vật đúng mục đích của nó, biết ứng xử các mối quan hệ của chúng ta với Đấng tạo thành, với thế giới, vũ trụ đúng chuẩn mực và như thế sẽ không có sự ác, không có tội lỗi, mọi người sẽ là anh em, mọi loài sẽ chung sống hòa bình và như thế người ta sẽ sống và được sống.

 

SỐNG ĐẸP

Biết Sao Cho Vừa Lòng

Có một sự thật là trong mọi hành xử, ta thường có xu hướng muốn làm vui lòng người khác, đặc biệt là những người ta quan tâm. Lòng với lòng hòa hợp với nhau, ta mới thấy an vui và hạnh phúc. Mọi người đồng lòng với nhau, thì sẽ chẳng có hiềm khích, ganh tị, hãm hại nhau. Bởi thế, sống làm sao để vừa lòng nhau là một nỗ lực mà ta không ngừng cố gắng. Đó thực sự là một lý tưởng, nhưng cũng là một điều khó thực thi vô cùng! Bởi lẽ, thế giới này có biết bao con người. Số lượng con người mà ta gặp gỡ trong một ngày thôi đã không thể đếm hết được. Mỗi con người lại là một huyền nhiệm khôn tả. Họ có lối nghĩ, quan điểm, cách hành xử khác nhau. Bản thân ta cũng chẳng giống họ. Làm sao để có thể làm vừa lòng nhau trong tất cả mọi sự, mọi tình huống, mọi hoàn cảnh được? Hay đặt một câu hỏi thiết thực hơn: liệu đó có là điều khả thi?

Lòng người, miệng lưỡi con người, chẳng ai có thể kiểm soát nỗi! Khi ta làm điều xấu, chắc chắn là ta sẽ không được lòng nhiều người rồi. Nhưng cả khi ta sống tốt, ta cũng chưa chắc được “yên thân” trước xét đoán của người khác. Ta sống ngay thẳng thì họ bảo ta giả hình. Ta làm việc lành thì họ bảo là phô trương. Ta trung thực thì bị cho là ngu dại. Ta cứng rắn thì bị nói là bảo thủ. Ta mềm mỏng cũng bị đánh giá là thiếu lập trường. Ta mạnh mẽ thì bị cho là khô khan. Ta lãng mạn lại bị chê là ướt át… Những đánh giá của họ có thể đúng, có thể sai. Trong một số trường hợp, những nhận xét ấy có thể được kiểm chứng, nhưng phần lớn chỉ là quan điểm cá nhân. Trước hàng loạt những ý kiến đa chiều và phức tạp của người dưng, làm sao để có thể sống mà làm hài lòng được hết tất cả mọi người.

Lần dở lại các trang sử từ cổ chí kim đến nay, ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy một nhân vật nào, dù vĩ đại đến mấy, có thể làm hài lòng tất cả mọi người. Ngay cả những nhà sáng lập tôn giáo, hay các hiền triết khôn ngoan, các bậc tôn sư… dù đời sống của họ được cho là sáng như gương và không hề có tí tì vết nào, cũng bị người này người nọ chê trách. Chỉ nghĩ đến điều này thôi cũng đủ cho chúng ta thấy được sự phong phú trong cái nhìn và lối nghĩ của con người. Quả vậy, các vị thánh nhân ấy bị chê trách hay thậm chí là bị ghét bỏ, không phải là do họ, nhưng là do những ganh tị và hiềm khích của người đời. Bóng tối có bao giờ ưa ánh sáng? Sự xấu sao có thể hài hòa với sự lành? Họ càng sống tốt, càng đạo đức, càng làm nhiều việc có ích, họ càng bị những người đối nghịch xem là cái gai cần nhổ bỏ. Có rất nhiều người trong số các anh hùng này đã phải trả giá cho sự công chính của mình bằng cái chết vô cùng thương đau.

Nhưng những mẫu gương ấy nói cho chúng ta biết rằng điều quan trọng nhất để có được sự bình an trong tâm hồn không phải đến từ những cái bên ngoài, nhưng xuất phát từ chính nội tâm. Ta cần những đánh giá của người khác để giúp phản tỉnh và soi lại chính mình, nhưng ta cũng phải biết sàng lọc và làm chủ những lời ấy, chứ không hùa theo mọi điều người ta nói. Ta sẽ cảm thấy bình an, khi lương tâm ta không hề cảm thấy hỗ thẹn về bất cứ điều gì mình làm. Lương tâm nhắc bảo ta phải làm lành lánh dữ. Bất cứ khi nào ta làm ngược lại, ta sẽ cảm thấy có chút áy náy trong lòng. Cứ sự thường, khi ta làm điều lành, những người khác sẽ đồng tình với ta, và hành vi ấy của ta sẽ làm “vừa lòng” họ. Giả như có người bất mãn điều gì đó với ta, họ nói điều chống lại ta, nhưng lương tâm và lý trí ta không cảm thấy cắn rứt gì, thì ta chẳng cần bận tâm đến những chống đối ấy. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi một lương tâm đã được huấn luyện, thuận theo những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp được người đời chứng thực.

Thường thì người khác sẽ hài lòng khi ta làm theo ý họ, nhưng đâu phải lúc nào ta cũng có thể chiều lòng hết tất cả mọi người. Có đôi khi ta làm người này vui thì lại khiến cho người khác buồn. Hay cũng có lúc ta làm mích lòng người này lại giúp cho người nọ vui. Đã đành là trong cách hành xử, ta phải khéo léo, tế nhị và khôn ngoan. Nhưng ngay cả khi ta rất giỏi trong việc lấy lòng người khác đi chăng nữa, ta cũng có thể bị đánh giá là ba phải hay lươn lẹo. Chính vì vậy, dù rằng có được tương quan tốt với người khác sẽ giúp ta hạnh phúc, nhưng không phải là ta bất chấp mọi thứ để làm người khác hài lòng. Cứ mãi chạy theo những đòi hỏi của người khác sẽ vô tình khiến chúng ta trở thành kẻ quỵ lụy và lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, nặng nề. Đó là chưa nói đến việc trong một số trường hợp, ta phải luồn cúi, chạy chọt, nịnh nọt để được ưu đãi.

Đúng ra mà nói, đích điểm trong mọi hành vi của chúng ta không phải là cố lấy lòng người khác nhưng khuôn theo chân lý và thể hiện giới luật yêu thương. Ta sẽ an vui khi lương tâm ta thấy thanh thản, chứ không phải khi được người khác tán dương. Dĩ nhiên là nếu ta có thể làm hài lòng được nhiều người thì ta cũng sẽ thấy hạnh phúc, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất, bởi lẽ đó là những cái ở bên ngoài ta, không dính chặt với ta. Lương tâm là cái ở ngay trong ta. Nó sẽ luôn đi theo ta trên mọi nẻo đường, trong mọi khoảnh khắc, chẳng bao giờ xa rời. Nó là tiếng nói giúp ta biết phải làm sao, phải hành xử thế nào. Chính nó cũng là thẩm phán, chất vấn ta về những gì ta nghĩ ta làm ta nói. Vì lương tâm mọi con người đều hướng người ta đến sự lành, nên chỉ cần làm theo tiếng lương tâm, ta tự khắc sẽ thấy an vui và làm nhiều người hài lòng yêu mến.

Các bậc thánh nhân đã cho chúng ta thấy điều đó. Trong từng tư tưởng, lời nói hay hành động, các vị ấy luôn dựa vào chân lý và tình yêu. Chân thì cũng là Thiện, mà Thiện thì cũng có nét Mỹ. Bước đi trên con đường Chân-Thiện-Mỹ ấy, các vị luôn thấy lòng bình an, dù có khi bị một số người đối nghịch thù ghét. Người ta có quyền đối xử với mình thế nào tùy người ta. Còn mình, nếu muốn có hạnh phúc, mình phải trao ban cho họ tình yêu mến, không ghét bỏ, không kỳ thị, không loại trừ. Dĩ nhiên, để có thể hoàn thiện hơn, ta cần được người khác góp ý, dạy dỗ. Nhưng hãy lắng nghe và đón nhận những góp ý của người khác với một sự nhận định và suy xét thấu đáo, chứ đừng vội vàng hùa theo, cốt chỉ để làm hài lòng họ. Mình sống mà “vừa lòng” mình, nghĩa là không làm điều gì trái với lương tâm thì tự khắc hương thơm nhân đức sẽ lập tức lan tỏa và cảm hóa người khác, làm “vừa lòng” họ. Còn những ai vì ganh ghét hay đố kỵ mà không ưa mình, hãy cứ để họ ra bên ngoài tầm chú ý. Thời gian sẽ làm chứng cho ta, sự công chính sẽ biện hộ cho ta, lịch sử sẽ lên tiếng thay cho ta.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nguồn: dongten.net

 

 

HỎI ĐÁP MỤC VỤ

CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI VỚI CHÚA MÀ KHÔNG CẦN

QUA TRUNG GIAN CỦA LINH MỤC KHÔNG ?

Hỏi: Xin cha giải thích  rõ:

Các mục sư Tin Lành cũng dạy phải ăn năn tội rồi xin Chúa tha thứ. Như vậy Chúa có tha mà không cần phải xưng tội qua một linh mục như  Giáo Hội dạy hay không ?

Trả lời: Như tôi đã có đôi lần nói rõ là chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) mới  có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.

Liên quan đến Bí Tích hòa giải (penance=reconciliation)  Chúa Kitô đã ban quyền tha tội cho các Tông Đồ và cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :

Anh  em tha cho ai, thì người ấy được tha, Anh  em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20: 23)

Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung  gian  thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông  Đồ ngày nay    các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại ban quyền tha tội  này  cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận  trực thuộc  cũng  được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. (Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).

Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây sau khi Người từ cõi chết sống  lại và hiện ra với các ông, cũng như  trước đó  đã không phán bảo Phêrô những lời  sau đây:

“Thầy sẽ  trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy.” (Mt 16: 19)

Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha-  có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông (ex-communication) và tháo gỡ vạ này.

Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa,  thì  buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự (validly) và đang có năng quyền (priestly Facultíe) được tha tội trong cương vị Chúa Kitô (in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút năng quyền  - hay gọi nôm na là bị treo chén (suspension. x. Giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ. (Trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị “treo chén” vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. X. Giáo luật số 976).

Giáo lý và giáo luật  của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:

“Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà  mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ.”( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).

Như thế chắc chắn  không thể nói như anh  em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục  thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay.

Nghĩa là  khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người  nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa, là xưng tội  với một linh mục  để  nhận lãnh   ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và  linh mục. Đây là điều các anh  em Tin Lành không  đồng ý với  chúng ta nên họ dạy  các tín đồ của họ  chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.

Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu   khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy  sau đây:

“Ai nghe anh  em là nghe Thầy. Ai khước từ anh  em là khước từ Thầy. Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy.” (Lc 10: 16)

Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng  mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì  ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong  tâm hồn, một cảm giác mới lạ của an vui sung sướng,    khác hẳn với  tâm tình sẵn  có trước khi xưng tội. Điều này chứng  minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng  hay nhẹ  mà chỉ xin Chúa tha thứ  nhưng  không đi xưng tội,  thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ (absolution).

Các anh  em Tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót  của Chúa, có sám hối nội tâm và  xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.

Vả lại, tất cả  các nhánh Tin Lành và Anh Giáo (Anglican Communion) đều không có nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession)  nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải,  Xức dầu bệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và  tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao  họ  giảng dạy  chỉ  cần xưng tội trực tiếp với Chúa vì họ cho rằng  các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..

Tóm lại, là người Công giáo,  chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.

Lm. Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn

Nguồn: conggiaovietnam.net

 

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

TÔI XIN CHỌN NGƯỜI (KỲ 8):

BẤT TRUNG CỦA CON NGƯỜI

Các bạn thân mến, khi bị đọa đày trong kiếp sống nô lệ ở Ai Cập, được tự do và hồi hương có lẽ là mong mỏi lớn nhất của dân Do Thái. Tuyệt vọng với thân phận tôi đòi, dân chỉ còn biết than khóc với Thiên Chúa của tổ phụ để mong Ngài biểu dương uy lực và vương quyền. Những tưởng họ phải hết mực tín trung vào Thiên Chúa vì Người chưa bao giờ rời mắt khỏi dân. Tuy nhiên, giao ước giữa các tổ phụ và Thiên Chúa chỉ vẫn mãi là một khế ước đơn phương vì Thiên Chúa càng tín trung thì dân Chúa ngày càng bội phản. Sự tín trung của Thiên Chúa và lòng trung thành của dân mà Ngài tuyển chọn hệt như hai đường thẳng song song chẳng bao giờ có thể cắt nhau.

Sách Xuất Hành thuật lại cho chúng ta công cuộc giải phóng thần kỳ và ngoạn mục mà Thiên Chúa đã ra tay để đưa dân lên từ Ai Cập. Mỗi lần Pha-ra-ôn cứng lòng cương quyết không để dân ra đi và quyết định đàn áp dân tàn bạo hơn là bấy nhiêu lần dân kêu trách Chúa. Họ không tin Thiên Chúa đang tiến hành công cuộc giải phóng họ. Dân Do Thái có nằm mơ chắc cũng chẳng dám nghĩ có ngày họ sẽ được tự do. Thiên Chúa để dân đi qua lòng biển Đỏ cạn khô đến khi quân Ai-cập đuổi đến nơi thì bức tường nước của hai bên lòng biển đã đổ ụp xuống chôn vùi tất cả quân Ai-cập. Trước phép lạ thần thánh mà Thiên Chúa đã thực hiện, dân đã ca vang bài ca chúc tụng Thiên Chúa. Nhưng niềm tin vào quyền năng của Thiên Chúa chẳng kéo dài được bao lâu, cổ họng khát khô, cái bụng trống rỗng đã khiến môi miệng họ chỉ bập bẽ những lời oán than Thiên Chúa. Trong cơn đói khát, họ hoài niệm và mơ về nồi thịt với củ hành của tỏi của nô lệ ngày nào ở Ai Cập. Nước từ tảng đá chảy ra cho họ uống, mana và chim cút làm lương thực nuôi dân trên đường lữ hành là dấu chỉ sự trung thành của Thiên Chúa. Chúa họ thờ là cái bụng nên khi các yêu cầu của dân được đáp ứng họ đã hăm hở ca tụng Thiên Chúa. Tại núi Xi-nai, họ đã xin Thiên Chúa cho được ký kết với Ngài một giao ước. Họ hứa rằng từ nay chỉ tôn thờ một mình Ngài, Thiên Chúa duy nhất và độc tôn của họ, Đấng đã tín trung giải thoát họ khỏi cảnh tôi đòi. Họ cũng cam kết sẽ vâng nghe mọi lời Ngài răn dạy, nhất là tuân giữ mười điều răn. Tiếc thay, giao ước vừa ký kết giữa đôi bên chưa kịp ráo mực, họ đã đúc bò vàng để sụp lạy như Thiên Chúa. Họ vui chơi nhảy múa và chúc tụng Thiên Chúa “bò vàng” của họ. Họ đã bội phản ngay khi giao ước vừa  được ký.

Các bạn thân mến

Sự bất tín của dân Do Thái ngày xưa vẫn còn tiếp tục nơi thời đại chúng ta. Ta chẳng mấy trung thành với Thiên Chúa khi tương quan giữa ta với Ngài cũng tùy thuộc vào mức độ hào phóng của ân ban. Chỉ khi gặp khó khăn và thử thách, chúng ta mới chạy đến với Ngài để xin ơn, để đòi hỏi, để than thân trách phận. Có lúc, ta xem những việc bổn phận khi chịu phép rửa tội và gia nhập Hội Thánh như điều kiện để kỳ kèo mặc cả về ơn xin. Khi xin ơn và để được nhận lời thì ta cũng hứa hẹn đủ điều. Tiếc thay, khi được ơn, ta quá vui mà quên mất tạ ơn và lại càng không thực thi những lời mình hứa. Một khi xin hoài chẳng được, ta cũng chao đảo niềm tin, rằng Thiên chúa chẳng thương xót gì ta cả. Khi đó, Thiên Chúa sẽ bị dẹp qua một bên vì xem ra Ngài chẳng còn thần thiêng gì nữa. Đáng lẽ phải thờ phượng Thiên Chúa, ta đã bắt ép Thiên Chúa phải thờ phượng mình với những đòi hỏi ngang ngược và khó chiều. Ta giữ đạo và theo Chúa bao lâu Thiên Chúa còn giá trị lợi dụng cho chính mình.

Dân Do Thái ngày xưa đã tạc bò vàng làm Thiên Chúa với mong muốn có thể điều khiển Ngài theo ý mình. Làm thế, họ có thể đặt để Ngài ở đâu tùy ý họ, họ đặt đâu Thiên Chúa phải ngồi đấy, họ muốn gì Thiên Chúa phải nhất quyết vâng theo. Như thế, họ đã tự mình hoán đổi vai cho Thiên Chúa thay vì họ phải lệ thuộc Thiên Chúa thì họ lại muốn Thiên Chúa phục tùng mình. Trong khó khăn và thử thách, họ kêu cầu Thiên Chúa là việc chính đáng nhưng họ không thể than vãn và kêu ca như thể Thiên Chúa luôn thiếu họ một món nợ khó đòi.

Thực ra, chẳng phải Thiên Chúa không biết con người chỉ trung thành với Ngài vì tư lợi. Nhưng Ngài đã yêu thương con người quá đỗi đến độ nhắm mắt làm ngơ trước sự bội phản, bất trung và trục lợi của con người. Ước mong của Thiên Chúa là sẽ có ngày sự tín trung của con người vào chính Ngài thoát khỏi sự lệ thuộc vào ân ban. Sẽ có ngày, con người nhận ra tình thương của Thiên Chúa dành cho mình để đáp trả bằng một tình yêu tinh ròng không chút vẩn đục bởi bóng dáng của lòng tham và vị lợi. Ước mơ của Thiên Chúa giản đơn chỉ là thế, các bạn có mong muốn hiện thực hóa giấc mơ ấy cho Thiên Chúa không?

Jos. Nguyễn Huy Mai, SJ

Nguồn: vietvatican.net

 

SỐNG LỜI CHÚA

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

ĐỂ THUỘC VỀ CHÚA, YÊU THƯƠNG NHAU

Ga 15, 9 – 17

Có thể nói, gia sản quý nhất Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội, cho thế giới chính là nghĩa cử hy sinh chính mạng sống mình vì tình yêu thương nhân loại. Hôm nay Giáo hội mời gọi con cái mình suy niệm đề tài về Tình yêu- đề tài mà Chúa Giêsu đã dùng trong diễn từ ly biệt được xem như những “di ngôn bảo bối” để giáo huấn các tông đồ sau bài giảng về Cây nho và cành nho ở Chúa nhật trước. Đây là bài giáo huấn vô cùng quan trọng của Chúa và cũng là chủ đề rất riêng của thánh sử Gioan- ngợi ca tình yêu Thiên Chúa cách đặc biệt.        

Tin mừng cho chúng ta biết, một trong những lý do để Chúa Giêsu đưa ra lời nhắn nhủ các tông đồ “hãy yêu thương nhau” là vì “Chúa Cha đã yêu mến Thầy” và “Thầy đã yêu mến anh em”. Như thế, tình yêu rõ ràng xuất phát từ chính Ba Ngôi Thiên Chúa, và, một trong những biểu hiện cho tình yêu ấy được triển nở giữa lòng nhân loại là con người cũng hãy yêu thương nhau. Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Thiên Chúa ngự trị. Đây là chân lý thật hiển nhiên. Bởi nơi nào không có tình yêu Thiên Chúa ngự trị thì nơi đó ngập tràn màn đêm tối, ngập ngụa sự thù hận và chia rẽ.

Biểu lộ của tình yêu ấy được minh chứng bằng chính hành động nào? Chúng ta tìm thấy câu trả lời của Chúa Giêsu. Đó là “tuân giữa các điều răn của Thầy”. Điều này thật dễ hiểu bởi như thánh Gioan từng nói: “Căn cứ vào điều này chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ cá điều răn của Người. ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở trong người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2, 3 - 5).

Không dừng lại ở đó, tình yêu của Thiên Chúa trao ban cho con người vượt qua mọi tính toán đôi khi rất logic của con người. Bởi, cứ theo lẽ tự nhiên, con người – vốn là loài hữu hạn, tương đối, không thể nào sánh ví với Thiên Chúa – Đấng vô cùng, tuyệt đối. Thế mà giờ đây, vì Tình yêu, chính Chúa Giêsu đã “san bằng” giới hạn ấy khi tuyên bố rằng, Người không gọi chúng ta là “tôi tớ”, thay vào đó, Người gọi chúng ta là “bạn hữu” nghĩa thiết với Người – một lời tâm sự tuyệt vời làm sao mà Thiên Chúa dành cho loài người. Chúng ta có cảm nghiệm hết tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta trước lời tâm sự này không?

Chính vì xem chúng ta là bạn hữu thân tình mà Chúa Giêsu chả giấu chúng ta điều gì. Vì đã là bạn hữu nghĩa thiết thì có gì mà phải che giấu, rào đón. “Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. Đúng là tận cùng, là tuyệt đỉnh của tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta. Còn chúng ta thì sao?

Giới răn cao quý nhất Chúa để lại cho chúng ta đó là giới răn yêu thương. Thế nhưng yêu thương là gì? Phải chăng đó là nhìn nhận địa vị và tôn trọng địa vị của người khác, giúp họ phát triển tài năng? Phải chăng là việc cho người ta cơm bánh nhưng lại chà đạp giá trị nhân phẩm của họ? Phải chăng vì tôn trọng người khác nên cứ để họ lầm lạc mà không lên tiếng căn ngăn? Giới răn yêu thương của Chúa đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, đòi hỏi phải quên mình vì người khác, đòi hỏi phải nhìn nhận hình ảnh Chúa nơi tha nhân để chúng ta tôn trọng và yêu mến họ.

Thực thi giới răn yêu thương – điều ước mong của Chúa Giêsu, không phải là điều dễ dàng, đôi khi đó là một thách đố với đời sống đức tin của người Kytô. Thế nhưng, chỉ có cách thế này, chúng ta mới trở nên bạn hữu với Chúa và được Chúa yêu thương. Xin cho Lời Chúa hôm nay thêm sức mạnh cho chúng ta, để, tuỳ vào khả năng, tuỳ vào bậc sống của mỗi người, Chúa cho chúng ta có những phương cách để làm bạn với Chúa thông qua con đường Tình yêu. Lý do là vì chỉ nhờ con đường này, chúng ta mới thuộc trọn về Chúa mà thôi.

 

CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

LÊN TRỜI LÀ LÊN ĐƯỜNG

Mc 16, 15 - 20

Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời hay lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Thăng Thiên có một ý nghĩa rất quan trọng trong dòng lịch sử Giáo hội. Lý do là vì Thăng Thiên vừa kết thúc mùa Phục Sinh, vừa là một mạc khải cuối cùng nói về vinh quang của Chúa Phục Sinh. Tuy nhiên Thăng Thiên vẫn chưa là biến cố sau cùng mà là một khai mở cho biến cố mới: biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống như Chúa Giêsu đã hứa.

Chúa lên trời, cũng có nghĩa là từ nay Người không còn hiện diện cách hữu hình, cách khả giác nữa mà là một sự hiện diện khác – hiện diện bằng chính quyền năng của Chúa Thánh Thần, hiện diện qua chính Giáo hội. Hiểu được như thế chúng ta sẽ thấy rằng, việc Chúa lên trời quả là một niềm vui cho chúng ta. Vì nhờ đó, chúng ta cũng sẽ hướng về quê trời – nơi chúng ta sẽ được hưởng sự sống Thần linh với Ba Ngôi Thiên Chúa.        Khi suy niệm Lời Chúa hôm nay, chúng ta có cảm giác dường như thánh sử Máccô muốn diễn tả sự kiện Thăng Thiên diễn ra một cách chóng vánh để cho các Tông đồ bắt tay ngay vào việc lên đường truyền giáo. “Lên trời là lên đường”, phải chăng đó là thông điệp mà thánh sử muốn gửi đến cho chúng ta? Dù sao, lệnh truyền của Chúa cho các tông đồ và cho cả chúng ta nữa cần được chúng ta suy chiêm và đem vào cuộc sống.

Lần hiện ra sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu trao cho các ông một sứ mệnh, là ra đi loan báo Tin mừng. “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Đây chính là một lời mời gọi của Chúa và Người muốn các môn đệ đáp lại mời gọi này với sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Lời mời gọi đó đòi buộc các môn đệ rời bỏ quê hương – nơi chôn rau cắt rốn, thậm chí rời bỏ luôn dân tộc Israel để hướng về lương dân, công bố Tin mừng Phục sinh cho hết mọi người. Truyền thống Tân ước cho biết lời rao giảng đầu tiên của các Tông đồ là công bố việc Thiên Chúa cứu nhân loại khỏi chết, khỏi mọi tội lỗi nhờ cái chết, sự phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu. Vâng lời Thầy, các môn đệ ra đi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa và với sự hiện diện cách vô hình của Thầy Chí Thánh.

Sau khi Chúa về trời, và nhất là sau ngày lễ Ngũ tuần – ngày các môn đệ đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, sứ mệnh loan báo Tin mừng Phục sinh của các môn đệ mới lớn mạnh và ngày một lớn mạnh không ngừng. Tuy nhiên, chúng ta thấy, Tin mừng được loan đi, nhưng thái độ đáp trả của con người vẫn còn là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Bởi bên cạnh những người đón nhận lời rao giảng của các môn đệ và tin tưởng bước theo Chúa Kytô Phục sinh, thì vẫn còn đó không ít người không tin, thậm chí còn mỉa mai chê cười. Chính vì thế, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ về hiệu quả của việc đón nhận hay từ chối lời loan báo Tin mừng Phục sinh của Giáo hội. Đó là, “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” và, “Ai không tin, thì sẽ bị kết án”.

Chúng ta biết, đức tin - một hành động được diễn tả như là quá trình xuất phát từ chính trong tâm hồn để rồi biểu lộ ra bên ngoài bằng việc chịu phép rửa. Như vậy, tin và chịu phép rửa là đáp lại sứ điệp của Tin mừng và như thế sẽ nhận được ơn cứu độ, được thứ tha tội lỗi và huởng sự sống đời đời. Ngược lại, nghĩa là bị án phạt. Đây chính là án phạt trong ngày tận thế, ngày Chúa Kytô trở lại để khánh thành công trình cứu độ. Ai không tin Chúa, từ chối lời rao giảng tức là khước từ sự sống và như thế, bị luận phạt đời đời chính là hậu quả mà họ sẽ đón nhận. Ở đây cần phân biệt người chưa nghe lời Chúa với người nghe lời Chúa mà chối từ. Người chưa nghe lời Chúa không thể gọi họ là kẻ khước từ. Họ sống theo lương tâm ngay thẳng thì không thể kể họ là kẻ không tin.

Giai đoạn đầu của sứ mệnh rao giảng Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều dấu lạ đi kèm theo lời rao giảng của các môn đệ. Điều này được nói đến trong đoạn kết của Tin mừng Máccô cũng như được minh hoạ trong sách Công vụ tông đồ. Tất cả những dấu lạ như trừ quỷ (x. Cv 5, 12-16; 8,9; 16,16-18); nói tiếng lạ (x. Cv 2, 4-13; 10, 44-46); cầm được rắn (x. Cv 28, 3-6); đặt tay chữa bệnh (x. Cv 4, 30; 9, 10-17),v.v… phải chăng là những ma thuật để khuyến dụ những người thích phù phép hay những người kém hiểu biết? Hoàn toàn không phải như vậy. Tất cả chỉ để diễn tả quyền năng tất yếu của Đấng Phục sinh chiến thắng những thế lực sự ác và sự chết. Đấng ấy, nay thông qua các dấu lạ kèm theo lời rao giảng của các môn đệ, để minh chứng rằng rằng những ai tin và bước theo Người cũng sẽ chiến thắng mọi thế lực của ác thần.

Mừng lễ Thăng Thiên, xin cho mỗi người chúng ta biết hướng về trời cao, tiến bước lên đường rao giảng Tin mừng Phục sinh và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho khắp nhân trần. “Lên trời là lên đường”, đó là thông điệp, và cũng là sứ mệnh Giáo hội muốn nhắn gửi cho con cái mình trong thời đại hôm nay.

 

CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

ANH EM HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN

Ga 20, 19 - 23

Chính trong ngày thứ năm mươi sau biến cố Phục sinh, Chúa Giêsu trao ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ, đánh dấu một trang sử mới trong công trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Giáo hội được khai sinh. Kể từ đây, hành trình của Giáo hội tiến về nhà Cha được tràn đầy ơn thánh Chúa và rộng mở dưới sự dạy dỗ và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần là nguồn cảm hứng, sự bình an, lòng hân hoan và sự mạnh mẽ làm cho các môn đệ cũng như cho Giáo hội thời sơ khai can đảm ra đi loan báo Tin mừng cho mọi dân tộc.

Sách Công vụ Tông đồ ghi lại biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống nhằm vào ngày lễ Ngũ tuần của người Dothái. Có thể nói biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống cách nào đó đã làm mờ đi ý nghĩa của ngày lễ ngũ tuần vốn xuất phát từ ngày lễ truyền thống của nhà nông cũng như sau này dùng để kỷ niệm ngày Giavê ban Lề luật và thiết lập Giao ước Xinai với dân. Bởi biến cố hôm nay chính là ngày lễ Ngũ Tuần mới, ngày mà sách Công vụ Tông đồ ghi lại rất nhiều dấu lạ do Chúa Thánh Thần mang đến.

Tiếng gió và hình lưỡi lửa là những hiện tượng khác thường trong ngày lễ Ngũ tuần. Tiếng gió hẳn gợi nhớ đến thời gian lúc khởi đầu công trình tạo dựng vũ trụ, khi mà “Thần Khí Giavê bay lượn trên mặt nước” (St 1,2b) để tác tạo muôn loài. Chúa Thánh Thần chính là làn gió, là hơi thở làm bừng lên sự sống như Ngôn sứ Edêkien xưa đã trông thấy chính Thần Khí đã làm hồi sinh cả một thung lũng xương khô và gầy đét (x. Ed 37, 1-14). Trong ngôn ngữ Hípri, từ ngữ Thần Khí thuộc giống cái, dường như có ngụ ý rằng Thần Khí của Thiên Chúa giống như người mẹ hiền sản sinh những người con trong tình yêu thương từ ái của mình.

Còn hình ảnh Lưỡi Lửa, chúng ta có thể hiểu lưỡi chính là lời nói, là lời ca của con người. Để con người nói lời của Thiên Chúa, truyền thông sứ điệp của Thiên Chúa, lưỡi đó cần phải được thanh luyện, cần thiết phải đi qua ngọn lửa Thánh Thần để có thể đi vào tâm trí người nghe những lời nói chân thật nhằm đốt nóng tâm hồn mọi người lòng yêu mến Thiên Chúa. Các môn đệ nhờ được tôi luyện bởi ngọn lửa tình yêu và lòng nhiệt thành của Chúa Thánh Thần, khiến các ông hăng hái ra đi, rao giảng Tin mừng và làm chứng cho tình yêu Chúa Giêsu.

Đồng thời với những dấu lạ chính là những ơn ích thiêng liêng do Chúa Thánh Thần mang đến. Một trong số đó chính là ơn nói “các thứ tiếng khác nhau”. Các thứ tiếng khác nhau ở đây cần phải hiểu thế nào? Thật thú vị là có nhiều cách giải thích khác nhau xung quanh vấn đề này. Có người cho rằng các môn đệ biết nói nhiều ngoại ngữ (Công vụ Tông đồ ghi lại 16 thứ tiếng khác nhau)! Có lẽ không đúng. Vì các môn đệ lúc bấy giờ đa số là dân biển, đánh bắt cá làm sao có thể “siêu quần bạt chúng” như vậy được. Ngôn ngữ mẹ đẻ của các ông chính là tiếng Aram, và cùng lắm thì các ông nói được tiếng Hylạp chứ làm gì có chuyện biết nói mười mấy ngoại ngữ trên.

Có người lại cho rằng các ông nói tiếng lạ. Thánh kinh có ghi lại ơn nói tiếng lạ này (x. Cv 2,3-4; 10, 44-46; 1 Cr 12, 10). Ơn nói tiếng lạ tức là một thứ ngôn ngữ chẳng ai có thể hiểu được bởi xuất phát từ nguồn cảm hứng của Chúa Thánh Thần và giống như tình trạng xuất thần. Vì là thứ tiếng “chẳng giống ai” nên cần phải có người thông dịch lại. Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho người hiểu được loại ngôn ngữ này để truyền đạt cho người nghe. Thế nhưng sách Công vụ Tông đồ không ghi lại có ai đứng ra để giải thích cho đám đông đang nghe các môn đệ nói. Đám đông hiểu trực tiếp tiếng nói của các môn đệ.

Có lẽ cách giải thích sau đây dễ chấp nhận hơn, vì nó liên quan đến câu chuyện về tháp Baben (x. St 11). Thời đó, con người nói cùng một thứ tiếng. Chính vì thế sinh ra lòng kiêu ngạo, phạm thượng đến Giavê Thiên Chúa. Họ muốn làm một ngọn tháp cao chọc trời và bất cần sự có mặt của Thiên Chúa. Chính vì thế, Thiên Chúa đã khiến cho tiếng nói của con cháu Nôe phải xáo trộn, chẳng còn ai hiểu ai. Nay nhờ biến cố Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã hàn gắn sự chia rẽ ngôn ngữ đó của loài người. Các môn đệ tuy nói tiếng mẹ đẻ của mình nhưng nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng khiến cho mọi dân tộc, tuy không cùng một ngôn ngữ, đều có thể hiểu được sứ điệp của Thiên Chúa.

Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, các môn đệ hăng hái ra đi, theo chân Thầy Chí Thánh rao giảng Tin mừng. Hoa trái của Chúa Thánh Thần chính là bình an và sự tha thứ. Tiếng nói của Chúa Thánh Thần chính là ngôn ngữ của tình yêu sẽ nối kết tất cả nên một. Từ nay, sứ mạng của Giáo hội chính là đi đến muôn dân để rao giảng về một Đức Kytô chịu đóng đinh, làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa lòng thế giới với sự trợ giúp cách đặc biệt của Chúa Thánh Thánh Thần.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến canh tân bộ mặt thế giới, Giáo hội và gia đình nhân loại hầu tất cả cùng chung một tiếng nói của Tình yêu, ơn an bình và sự hiệp nhất.

 

 

CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI

NHÂN DANH CHA và CON và THÁNH THẦN

Mt 28, 16 - 20

Kết thúc Tin mừng, thánh sử Mátthêu cho chúng ta thấy những công việc sau hết của Chúa Phục Sinh. Sau khi Phục Sinh, Chúa hiện ra với các phụ nữ vẫn hằng đi theo Chúa trước đây và sai các bà đi báo tin cho các môn đệ đến Galilê để gặp Người. Vấn đề là tại sao Chúa lại chọn Galilê chứ không phải là Giêrusalem để gặp các môn đệ của mình như trong Tin mừng Luca? Sở dĩ như vậy là vì Galilê vốn được xem là vùng đất của dân ngoại; đồng thời còn là nơi Chúa khai mở sứ vụ của Người (x. Mt 4, 12-17). Chính tại đây, Chúa muốn các môn đệ khai mở công cuộc rao giảng Tin mừng. Cũng chính tại miền đất ngoại giáo, miền đất bị khinh miệt này, Chúa mời gọi các môn đệ lên đường rao giảng Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Như thế, công việc rao giảng Tin mừng không còn co cụm trong một dân tộc mà được mở rộng trên khắp thế giới.

Tại Galilê, nơi một ngọn núi, khi các môn đệ đã tập trung đông đủ, Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các môn đệ mầu nhiệm ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta tự hỏi, tại sao Chúa Giêsu phải mạc khải trên núi mà không phải là đồng bằng, sa mạc hay một nơi nào khác? Chúng ta biết, trong Tin mừng Mátthêu, núi được xem là nơi Thiên Chúa mạc khải các mầu nhiệm cứu độ của Người. Chính Chúa Giêsu cũng đã công bố bản “Hiến chương Nước trời” trên núi (Mt 5, 1); tỏ vinh quang của Đấng Mêsia trên núi (Mt 17, 1-8) và bây giờ cũng chính trên núi, Người sai các môn đệ ra đi, tiếp tục công việc rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa.

Khi mạc khải các mầu nhiệm nước Thiên Chúa cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã minh thị mạc khải mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi khi trao sứ mệnh của Ngài cho Giáo hội mà đại diện là các môn đệ : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Như thế, rửa tội nhân danh Ba Ngôi là thánh hóa thụ nhân bằng chính quyền năng và ân sủng của Chúa Ba Ngôi; đồng thời đó còn là việc hiến dâng thụ nhân cho Chúa Ba Ngôi. Qua phép rửa, chính Chúa Ba Ngôi ban ơn tha tội và đổi mới thụ nhân trở thành Con cái Chúa Ba Ngôi.

Như thế, phải chăng Chúa Ba Ngôi chỉ hiện diện trong bí tích rửa tội mà thôi? Thưa không. Chúa Ba Ngôi còn hiện diện trong tất cả các bí tích. Chúa Ba Ngôi đến gặp gỡ ta trong bí tích, ban ơn cho ta qua bí tích. Ngoài ra, Chúa Ba Ngôi cũng còn hiện diện khi ta cầu nguyện, khi làm những việc tốt lành thánh thiện như khi ta làm dấu Thánh giá chẳng hạn,… Như thế, Chúa Ba Ngôi thực sự hiện diện trong toàn bộ đời sống Giáo hội nói chung và đời sống của mỗi tín hữu nói riêng. Sức mạnh của Ba Ngôi Thiên Chúa chính là tình yêu. Chúng ta có thể thấy điều này trong tác phẩm của thánh Gioan, khi người nhắc đến một phẩm tính ưu việt của Thiên Chúa làm chủ đạo cho tác phẩm của mình : “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8). Tình yêu đó, nay được Chúa Giêsu trao lại cho các môn đệ để các ông ra đi loan báo Tin mừng và, những ai muốn ở lại trong tình yêu ấy, muốn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, không gì khác hơn là đón nhận bí tích thánh tẩy trong Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần để nhờ đó, tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ cư ngụ cách trọn vẹn trong tâm hồn thụ nhân.

Các môn đệ vâng lệnh truyền của Thầy Chí Thánh ra đi. Toàn thể Giáo hội trong hơn hai ngàn năm qua đã, đang và sẽ tiếp tục ra đi loan báo Tin mừng cứu rỗi. Sở dĩ các môn đệ và các thế hệ sau này luôn tràn đầy nhiệt huyết rao giảng Tin mừng, bởi công việc này không phải do ngẫu hứng, tự phát cá nhân, hay chạy theo phong trào mà là công việc của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện trong lòng Giáo hội như là bảo chứng của tình yêu để rồi thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, không ngừng vinh danh và tụng ca tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa cho thế giới này. Mặt khác, đó còn là sự hiện hiện cách đặc biệt của Chúa Kytô Phục Sinh như Người đã hứa.“Thầy sẽ ở cùng anh em cho đến ngày tận thế”. Lời hứa đó đảm bảo một sự hiện diện mãi mãi của Chúa trong lòng Giáo hội, hỗ trợ đắc lực cho Giáo hội, giúp Giáo hội chu toàn sứ vụ được trao ban cho đến tận thế.

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mỗi người chúng ta ôn lại tình Chúa thương ta, cảm nghiệm sự hiện hiện của Chúa trong lòng Giáo hội, trong gia đình và trong tâm hồn mỗi người. Xin Chúa Ba Ngôi tiếp tục ở cùng và thánh hoá Giáo hội, giúp Giáo hội nói chung và mỗi Kytô hữu nói riêng, luôn tràn đầy tình yêu Thiên Chúa, luôn thao thức với công cuộc rao giảng mầu nhiệm Ba Ngôi của Giáo hội, để nhờ đó, mầu nhiệm tình yêu này được nhiều người tìm đến chiêm ngưỡng và đưa vào cuộc sống, biến thế giới hôm nay – vốn khô khan nguội lạnh, trở thành một thế giới an bình, đầy tình Chúa tình người.

 

THẦN HỌC KINH THÁNH

CẦU NGUYỆN TRONG CUỘC SỐNG KITÔ

Từ hơn hai năm qua chúng ta đã tìm hiểu các bí tích như phương thế Thiên Chúa và Giáo Hội dùng để ban các ơn thánh cần thiết cho cuộc sống kitô. Đối với các bạn đã không theo dõi mục Thần Học Kinh Thánh bắt đầu từ tháng 4 năm 1991, chúng tôi tin tóm tắt lộ trình tìm hiểu. Chúng ta đã bắt đầu với các vấn đề khổ đau, tội lỗi, sự dữ và các hậu qủa tiêu cực của chúng trong cuộc sống con người, trong đó có cái chết. Tiếp đến chúng ta đã trả lời câu hỏi ai là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi tình trạng sống khốn khổ và tuyệt vọng ấy, bằng cách tìm hiểu Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi sự dữ và cái chết, và trao ban cuộc sống mới cho con người. Để thực hiện chương trình cứu độ đó Thiên Chúa Cha đã cho Con Một Người là Đức Giêsu Kitô nhập thể làm người, chịu khổ nạn, chết, sống lại và lên Trời. Đức Giêsu Kitô đã rao giảng Tin Mừng cứu rỗi, tuyển chọn các cộng sự viên là các Tông Đồ và các môn đệ và thành lập Giáo Hội để các vị tiếp tục công trình cứu độ. Chúng ta đã tìm hiểu bản chất, sứ mệnh và gương mặt của Giáo Hội và các bí tích như các phương thế trao ban các ơn thánh cần thiết cho cuộc sống đức tin, đức cậy và đức mến của tín hữu.

Ngoài các bí tích ra, còn có nhiều phương thế khác giúp kitô hữu củng cố và vun trồng cuộc sống của mình. Bên cạnh việc siêng năng kiên trì đọc và suy gẫm lời Chúa là Thánh Kinh, còn có một phương thế hữu hiệu khác là cầu nguyện. Đây là đề tài chúng ta cùng nhau khai triển trong loạt bài mới này.

Khi nói tới cầu nguyện, chúng ta thường đồng hóa cầu nguyện với việc xin ơn này ơn nọ, mà quên rằng cầu nguyện là ý niệm rất rộng rãi bao gồm nhiều hành động và nội dung khác nhau như chúng ta sẽ thấy. Trước hết chúng ta tìm hiểu việc cầu nguyện trong Thánh Kinh.

Thánh Kinh ghi lại nhiều lời cầu nguyện và kể lại nhiều chuyện liên quan tới việc cầu nguyện của con người, cũng như dậy cầu nguyện. Tất cả những điều này đều bình thường và là phần trong kinh nghiệm tôn giáo của mọi dân tộc. Sự độc đáo của lời cầu nguyện kinh thánh không ở nơi lời cầu nguyện, nhưng trong việc cầu nguyện ”như thế nào” và ”tại sao” lại cầu nguyện.

Có thể nói rằng toàn Thánh Kinh nảy sinh từ lời cầu nguyện, hoa trái của thái độ lắng nghe Thiên Chúa: con người trả lời Thiên Chúa, thảo luận với Người, suy tư trước mặt Thiên Chúa  hơn là nói về Thiên Chúa. Thánh Kinh nói chuyện với Thiên Chúa và suy tư trước mặt Thiên Chúa. Lời cầu nguyện xuyên qua toàn lịch sử của dân Israel và nổi lên tại mọi điểm của trình thuật kinh thánh cựu ước. Điều này cũng có giá trị đối với Thánh Kinh Tân Ước. Vì thế tìm hiểu đề tài cầu nguyện có nghĩa là lần theo lộ trình của toàn sách Thánh Kinh. Và hiển nhiên đây là điều không thể làm được trong khuôn khổ hạn hẹp ở đây. Vì thế những gì trình bầy trong phần đầu ở đây chỉ có tính cách chấm phá vội vàng, nhưng không hời hợt, và dầu sao đi nữa cũng tạm đủ để làm nền cho phần hai có tính cách tổng hợp trong có có thể nhận ra các cấu trúc thường hằng chính của lời cầu nguyện. Ngoài ra, việc đọc sách các Thánh Vịnh là tuyển tập các lời cầu nguyện của dân Do thái, có thể giúp chúng ta hiểu biết và nếm hưởng nội dung các lời cầu nguyện của dân Do thái. Nó cũng là các lời mà chính Chúa Giêsu Kitô đã dùng để cầu nguyện, và giờ đây chúng tiếp tục là lời cầu trong kinh nguyện chính thức của Kitô giáo và của Giáo Hội công giáo.

Nếu chúng ta muốn bước sâu vào suối nguồn, từ đó lời cầu nguyện kinh thánh tuôn chảy, thành hình, và qua đó tiếp nhận được tính cách độc đáo của nó, thì phải ngắm nhìn một cách chính xác khung cảnh thần học và nhân chủng mà nó giả thiết, nghĩa là tương quan Thiên Chúa, con người, dân Chúa và thế giới. Và đương nhiên đây cũng là điều chúng ta không thể làm được trong khung cảnh hạn hẹp ở đây. Thật ra, đó là điều chúng ta đã làm trong suốt lộ trình 24 năm qua của mục Tìm Hiểu Kinh Thánh. Do đó ở đây nhiều điều sẽ đươc giả thiết là qúy vị và các bạn thính giả đã biết rồi.

Khi đọc vài chương đầu sách Sáng Thế, chúng ta nhận ra ngay tương quan của con người với Thiên Chúa: Giavê Thiên Chúa của Israel là Đấng đã tạo dựng nên vũ trụ, muôn loài muôn vật và là Thiên Chúa duy nhất. Trong công trình sáng tạo ấy con người là thụ tạo tuyệt vời nhất, vì nó được tạo dựng nên ”giống hình ảnh” của chính Thiên Chúa. Trong chương 1 sách Sáng Thế sau khi tả cảnh Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ vạn vật như khung cảnh dọn sẵn cho loài người, tác giả thuộc trường phái Tư Tế viết: ”Thiên Chúa phán, chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống bò trên mặt đất. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,26-27). Chỉ trong mấy câu ngắn gọn tác giả tư tế cho thấy bản chất và ơn gọi cao qúy của con người là thụ tạo giống Thiên Chúa, phản ánh hình ảnh của chính Thiên Chúa, và được quyền làm bá chủ các thụ tạo khác, bá chủ muôn vật muôn loài. Chính vì con người cao trọng như vậy nên tác giả thánh vịnh 8 mới chúc tụng Thiên Chúa oai phong, và sung sướng ghi nhận: ”Chúa cho con ngươi chẳng thua kém thần minh là mấy, ban vinh quang làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân” (Tv 8,6-7).

Trong chương 2 sách Sáng Thế tác giả thuộc trường phái Giavít dùng lại hình ảnh văn chương bình dân thông dụng trong nền văn chương của các dân tộc vùng Trung Đông Cổ thời xưa tả cảnh Thiên Chúa tạo dựng loài người như sau: “Giavê Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và cho người trở thành một sinh vật. Rồi Giavê Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Êđen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra” (St 2,7-8). Thiên Chúa yêu thương và lưu tâm săn sóc con người nên căn dặn con người luôn ý thức mình là thụ tạo tùy thuộc Người. Ngày nào con người quên đi sự thật ấy và muốn tôn mình làm Thiên Chúa, ngày ấy con người sẽ phải chết. Đó là ý nghĩa lời Giavê Thiên Chúa căn dặn con người: ”Giavê đem con người đặt vào vườn Êđen, để cầy cấy và canh giữ đất đai. Giavê là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: ”Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,15-17). “Cây biết lành biết dữ” là hình ảnh văn chương diễn tả sự toàn tri là đặc tính chỉ duy nhất Thiên Chúa mới có. Con người là thụ tạo hạn hẹp không thể và không bao giờ toàn tri. Vì vậy khi muốn toàn tri, con người kiêu căng tôn mình là Thiên Chúa, thay thế Người, lấy mình làm điểm tham chiếu và tự quyết định mọi sự. Khi đó con người xa rời Thiên Chúa, rơi vào lầm lạc và phải chết.

Tác giả Giavít còn cho biết Giavê Thiên Chúa thấy con người cô đơn nên quyết định ”làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”, là người nữ. Tác giả Giavít cũng lấy lại một hình ảnh văn chương bình dân của các dân tộc vùng Trung Đông Cổ, và miêu tả cặp vợ chồng làm thành gia đình nguyên thủy như sau: ”Giavê là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Giavê là Thiên Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: ”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra”. Bởi thế người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, vả cả hai thành một xương một thịt” (St 2,21-24).

Trong chương 3 soạn giả Giavít tả cảnh loài người không vâng lệnh truyền của Thiên Chúa nên sa ngã phạm tội, nhưng tác giả cho thấy tương quan thân tình giữa Thiên Chúa Tạo Hóa và con người là thụ tạo, khi cho hiểu ngầm rằng hằng ngày Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió hiu hiu thổi trong ngày để gặp gỡ, viếng thăm và nói chuyện với con người. Cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người sau khi con người phạm tội thật thê thảm. Nhưng Thiên Chúa đã lập tức hứa ban Đấng Cứu Tinh cho nhân loại (St 3,8-19).

Vài văn bản quan trọng trưng dẫn trên đây có thể giúp chúng ta hiểu tương quan giữa Thiên Chúa và con người, từ đó có thể rút tỉa ra các nét chính yếu của lời cầu nguyện. Vì tương quan giữa Thiên Chúa Tạo Hóa và con người là thụ tạo tuyệt vời nhất của Người thân tình và sâu đậm như thế, nên cầu nguyện trước hết có nghĩa là nói chuyện thân tình với Thiên Chúa, đối thoại với Người, chúc tụng ngợi khen Người như tác giả thánh Vịinh 8 đã làm: ”Lậy Giavê là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu” Tv 8,1). Niềm tin nơi Thiên Chúa Tạo Dựng và nhất là Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã tuyển chọn Israel làm dâng riêng của Người, đã là nguồn gốc của thái độ sống và tất cả mọi lời cầu nguyện của dân Do thái trong toàn Thánh Kinh, đặc biệt trong sách Thánh Vịnh, là tuyển tập các lời cầu của dân Do thái.

 Linh Tiến Khải

Nguồn: vietvatican.net

 

MỘT CHÚT TÂM TÌNH

Cuộc Phỏng Vấn Về Đức ĐTC Phanxicô

Nhân Dịp Bổn Mạng Ngài

Hôm nay 23/04/2015, Giáo Hội mừng kính thánh Giorgio, cũng là ngày bổn mạng của Đức Thánh Cha Phanxicô, Jorge Mario Bergoglio. Nhân dịp này, Alessandro Gisotti đã có cuộc phỏng vấn với vị chưởng nghi, Đức Ông Guillermo Karcher, một linh mục người Argentina, một cộng sự viên thân tín của ĐTC hơn 20 năm nay:

Guillermo Karcher: Vào ngày hôm nay, tôi nghĩ đến vị thánh bổn mạng của Đức Thánh Cha. Cứ mỗi lần tôi nghĩ đến ĐTC, thấy ngài làm việc, tôi có thể nói rằng đây đích thực là một “thánh Giorgio hiện đại”, theo nghĩa rằng ngài là một chiến binh vĩ đại chống lại thế lực sự dữ và ngài làm điều đó với một tinh thần Kitô giáo: Tôi thấy chính Đức Kitô ở trong ngài, người gieo giống tốt để chiến đấu chống lại sự dữ. Ngài đã làm điều này ở Buenos Aires và tiếp tục làm điều đó bây giờ với một sự đơn sơ làm nên tính cách của ngài, nhưng cũng với một sự mạnh mẽ vốn là điều rất quan trọng trong thời đại hiện nay, trong đó, ngài muốn cho chúng ta thấy sự hiện diện của điều thiện hảo.

Hỏi: Ở Argentina, khi còn là một Hồng Y, Đức Phanxicô đã thể hiện mình như là một người cha, cha Jorge. Bây giờ, dù là Đức Thánh Cha, ngài vẫn thể hiện một cách rất mạnh mẽ chiều kích một người cha trong tư cách linh mục, đúng không?

Trả lời: Đúng vậy, vì ngài là một tu sĩ dòng Tên, một người cha và ngài vẫn tiếp tục là người như thế. Nhiều lần, tôi rất cảm động, khi mỗi thứ tư, vào buổi tiếp kiến chung, lúc những người Argentina đến và tôi xếp cho họ ngồi ở chỗ đặc biệt, nhiều người đã gọi to ngài là “cha, cha Jorge, Jorge” và thực sự, điều này đã làm nên một gia đình, một tình bạn mà ngài đã gieo vãi nhiều năm ở Buenos Aires, khi ngài đi bộ trên các ngã đường hay khi ngài đi viếng thăm những nơi nghèo khổ nhất của các vùng ngoại ô của thành phố. Những người này vẫn còn cảm thấy gần gũi với ngài và họ trao cho nhau những nụ cười, cái ôm hay một cái nhìn phụ tử. Lời chào này xuất phát từ con tim của họ.

Hỏi: Đức Thánh Cha Phanxicô được nhiều người yêu mến nhưng chắc là cũng không thiếu những chỉ trích, ngay cả trong thế giới công giáo. Cha có bao giờ thấy Đức Thánh Cha tỏ vẻ không vui về điều này không?

Trả lời: Không, đôi lần người ta đưa cho ngài xem một bình luận… Ngài cười và nói: “Tốt thôi, chúng ta hiểu thêm về điều mà người ta làm”. Nhưng ngài có một sự tự do trong tinh thần và một  sức mạnh nội tâm. Tôi nghĩ rằng đó là ấn tín của Đức Thánh Thần. Ngài luôn nỗ lực thực thi sứ mạng mà Giáo Hội trao phó vì lợi ích của Giáo Hội và thế giới, và ngài làm điều đó với sự thanh thản và chắc chắn của linh hồn.

Hỏi: Cả thế giới đang được thu hút bởi tinh thần luôn sẵn sàng của Đức Phanxicô, và với sự gần gũi thân mật, ngài được biết đến như một con người có đời sống thiêng liêng vững mạnh, chìm sâu trong cầu nguyện. Cha có thể chia sẻ với chúng con điều gì đó về  vấn đề này không?

Trả lời: Vâng, tôi chứng thực điều này, ngài là một con người đã khuôn đúc cho mình một đời sống thiêng liêng mạnh mẽ, vì ngài là một con người cầu nguyện, một con người của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến điều này, là mỗi ngày ngài dành hai giờ vào buổi sáng, lúc vừa thức dậy để cầu nguyện và suy tư. Sau đó, vì tôi lo về phụng vụ cho ngài nên tôi thấy có sự khác biệt nào diễn ra trong phòng thánh cũng như nơi thánh lễ trước và sau đó. Tôi nghĩ rằng: ngài là người thích chào hỏi tất cả các chủng sinh, những người giúp lễ và ngài đã làm điều đó – như chúng ta thấy nơi Quãng Trường Thánh Phêrô – với tất cả tình cảm của mình. Nhưng một lần, sau khi mặc áo lễ, ngài tiến vào Vương Cung Thánh Đường, và dừng lại nơi bàn thờ của Quãng Trường như một người cầu nguyện, một con người tập trung vào cái mà ngài sắp dâng, mầu nhiệm Thánh Thể. Sau khi ngài từ giữa Đền Thờ đi xa, mọi người cùng nhau hô vang: “Đức Thánh Cha Phanxicô muôn năm! Chúng con yêu ngài!”, còn ngài thì đi thẳng vào phòng thánh. Đây là một mẫu gương cho một vị linh mục, theo nghĩa là, khi ở với dân thì hết mình với dân, còn khi ở với Chúa thì dành trọn cho Chúa.

Hỏi: Những lời này cũng giống như những lời mà Đức Hồng Y Dziwisz đã nói với tư cách là thư ký của Đức Gioan Phaolô II…

Trả lời: Vâng, tôi cũng có thể làm chứng về Đức Gioan Phaolô II như thế vì tôi cũng từng làm chưởng nghi vào thời của ngài! Họ có điểm chung này: sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng làm cho nên mạnh mẽ vào đúng thời đúng buổi.

Hỏi: Cha đã ở bên cạnh Đức Thánh Cha vào buổi tối lúc ngài được chọn làm Giáo Hoàng. Cha đã giữ micro cho Đức Phanxicô ban phép lành Urbi et Orbi đầu tiên. Cha sẽ gửi đến vị giám mục của cha điều gì nhân ngày bổn mạng của ngài?

Trả lời: Tôi cầu chúc cho ngài cứ tiếp tục như thế này, với sự kiên định và trong suốt. Mong ngài luôn như thế bởi vì ngài đang làm rất tốt. Lời chúc của tôi là: xin Thánh Giorgo bảo vệ ngài và xin ngài luôn tiếp tục dấn thân trong cuộc chiến vì điều thiện hảo, gieo mầm tốt đẹp như ngài đã và đang làm cho tới hôm nay.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ chuyển ý.