Sidebar

Thứ Sáu
22.10.2021

1. Đôi dòng thành kính ghi ân

Hầu như mọi đồng bào tín hữu Công giáo sinh hoạt nơi Giáo hội Việt nam, ngay trong thời buổi hiện nay, không ai có thể quên mà không nhắc đến bao công lao của các Tiền nhân trong Hội Thừa Sai Paris. Một số đồng liêu ngoài Tôn giáo, đặc biệt vài tác giả ở các lãnh vực khác không thuộc Sử học, cũng có người tỏ vẻ khâm phục, nhưng đôi lúc thì vài kẻ vẫn buông lời luận tội. Dẫu sao thì những thành quả cống hiến của các Vị cho xứ sở, bằng tính chân thật của Lịch sử mà khẳng định, thật là vô tiền khoáng hậu. Làm sao có thể phủ nhận được đối với các công trình xây dựng nền tảng nhân bản, góp phần tạo nên một khung cảnh sinh hoạt xã hội văn minh trong vùng Đông Nam Á. Nếu chưa kể đến các yếu tố hiển nhiên mà các Ngài đã kiên trì sáng tạo như: Phát quang Chân lý Tôn giáo; Gầy dựng những Cộng đoàn tu trì chăm lo phục vụ đồng bào lương giáo; Tác chế Ngôn ngữ hòa nhập với Thế giới; Dựng nét mỹ quan tôn ti trật tự xã hội; Nhận vai Quới nhân chia sẻ tình đồng loại cho người bất hạnh v.v... Người ta còn ghi nhận ngay cả trong phong cách giao tế ứng xử tình người giữa quần thể Người Việt, cũng mang nét độc đáo riêng, mà nó được ảnh hưởng từ quá trình lâu dài do các Ngài dạy dỗ cho Dân tộc. Tất nhiên, trong môi trường nội bộ mà đàm luận nhắc lại chuyện xưa thái quá thì cũng không mấy gì hay, nhưng hiện thực quá khứ quả là như thế, khó mà cho chìm vào quên lãng.

Việc một số tác giả trong Đạo bỏ công ghi chép quá trình hoạt động của các Ngài trên Quê hương đất nước Việt Nam như là, để ôn lại Lịch sử và tỏ lòng ghi ơn thì đếm ra cũng không ít. Nếu theo dõi cặn kẽ trên các phương tiện Truyền thông đại chúng, xem ra như đã khá phong phú, nhất là một số truyền nhân ở vài Giáo phận, còn thực hiện những án văn tường thuật có pha vào những tâm tình bày tỏ nhắc lại kỷ niệm xưa với các Vị như hồi còn phục vụ tại địa phương mình, xem qua thấy thật cảm động. Trong niềm phấn khởi từ bối cảnh ấy, nhóm biên soạn cũng xin mạn phép chung bút đóng góp các tư liệu sau đây và nhã ý thân mời Quý độc giả dành ít thời gian để cùng theo dõi, và nếu có thể, cũng xin bổ túc thêm đôi điều còn thiếu sót trong bài viết, liên quan đến tiến trình hình thành của Hội Thừa Sai Paris chúng ta.

2. Những tháng ngày ảm đạm trong xứ Cochin

Bối cảnh khi Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đến hoạt động truyền giáo tại Việt Nam thì đất nước đang trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, vì thế người Tây phương đến đây gọi xứ Đàng Ngoài là Tonkin và xứ Đàng Trong có tên Cochin.

Lúc đó vào tháng 7-1644, một phụ nữ có tên Tống Thị, xem như là Chính phi của Chúa Thượng (chính danh của Chúa Nguyễn Đàng trong: Nguyễn Phúc Lan), bà ta từ lâu đã có thái độ thù ghét Đạo, đồng thời cấu kết với quan trấn Quảng Nam (ông Nghè Bộ) cũng là người mang nhiều thành tích mưu toan phá Đạo, tên quan này đã không ít lần làm cho Cha Đắc Lộ phải điêu đứng.[1] Khi vừa ở phủ Chúa về thì quan ra lệnh bắt giam một cụ già có tên Thánh là Anrê, vì người này đã công khai tuyên xưng niềm tin của mình ở Hội An. Sau đó quan cho lính tiến về nơi ở của Cha Đắc Lộ để bắt một Thầy giảng tên là Inhaxiô, nhưng trước đó không lâu Cha và Thầy Inhaxiô đã rời nhà đi lên trấn, nên chúng không gặp được người cần tìm, bèn bắt một Thầy khác đang có mặt ở đó để thế lại, Thầy này cũng trùng tên Anrê. Người ta không nắm rõ lai lịch bao nhiêu về Thầy giảng Anrê này, chỉ biết Mẹ của Thầy đem gởi để theo giúp việc và học Đạo với Cha Đắc Lộ khi còn ở Phú Yên, cũng là nơi sinh quán của Thầy. Sau đó được Cha Đắc Lộ rửa tội đặt tên Thánh là Anrê, nên mọi người quen gọi theo tên Thánh và nơi xuất xứ, Anrê Phú Yên.[2] Khi vào tù, Thầy Anrê còn rất trẻ tuổi này, gặp được cụ già giống với tên Anrê cũng mới vừa vào chung căn ngục trước đó không lâu. Suốt cả đêm hai người trao đổi với nhau những lời lẽ nhằm động viên tinh thần can đảm để sẵn sàng hy sinh vì Đạo.

Sáng hôm sau Cha Đắc Lộ cùng với vài lái buôn người Bồ Đào Nha đến trình diện với quan trấn Quảng Nam để xin miễn xá cho hai tội phạm. Cha là người được Chúa Thượng kính nể vì lý do muốn giữ mối giao hảo với người Tây phương trong quan hệ mua bán súng ống đạn dược. Quan trấn tỏ ra không nhượng bộ, nhưng rốt cuộc thì cũng phải đồng ý tha bổng cho cụ già Anrê, còn Thầy trẻ tuổi Anrê vì cứng đầu từng dám nói với ông là: “Dù có chết cũng nhất định không chịu bỏ tên người có Đạo”, nên không thể dung tha. Không còn cách cứu sống cho Thầy Anrê, vì thế Cha Đắc Lộ chỉ đành biết an ủi, động viên và ban các Bí tích sau hết cho Thầy. Thầy vui vẻ bước đi, vai mang gông nặng mà chân bước rất mau. Trước khi lãnh án, Thầy ngậm ngùi nhìn Cha Đắc Lộ lần cuối như bày tỏ lời từ biệt, Cha cũng làm dấu, chỉ lên Trời như muốn nói nơi mà Thiên Chúa đang chờ để trao Triều thiên tử đạo cho Thầy. Bọn lính liên tiếp đâm Thầy ba nhát đao, nhưng Thầy vẫn quỳ ngay ngắn, mắt nhìn lên trời, thấy thế chúng vung đao chém vào cổ Thầy, nhát thứ nhất chém hụt, nhát sau mới làm Thầy rơi đầu. Một ngày đáng kính nhớ, đó là ngày 26 tháng 7 năm 1644. Của lễ hy sinh đầu mùa của Giáo Hội Việt Nam được dâng lên cho Thiên Chúa, đồng thời đó cũng là hồi chuông cảnh báo cho các Vị anh hùng khác trên đất Việt, sẽ còn nối gót theo gương Thầy mà tuyên xưng danh Chúa trong những ngày sắp tới.

112345678910111213141516171819202122232425262728293031323334353637383940414243444546474849505152535455565758596061626364656667686970717273747576777879808182838485868788
 Hình Thầy Anrê tử đạo do Giacinto Brandi vẽ năm 1652


Sau khi xử xong Thầy Anrê, quan trấn Quảng Nam ra lệnh trục xuất Cha Đắc Lộ. Đối với suy nghĩ của Cha khi ấy, nếu bỏ đi trong lúc này là hèn nhát, nên Cha lên tàu người Bồ Đào Nha nhổ neo lúc ban ngày, nhưng đêm đến thì lại lén vào bờ để thăm các Giáo đoàn. Lúc đó vào trung tuần tháng 9-1644, Cha Đắc Lộ thấy tình hình ở lại đó không được ổn, Cha chia thầy Inhaxiô lên miền bắc là vùng từ Hội An ra đến Huế, phần Cha tránh về phía nam (Nam Hội An) là vùng Quảng Ngãi – Qui Nhơn. Nhiều người lũ lượt đến gặp Cha để xin nhận các Ơn Bí tích và tìm hiểu Đạo, vì là thời kỳ hoạt động trong bóng tối nên Cha phải hết sức dè dặt khi tiếp xúc cùng lúc đông người. Từ trước đến giờ tuy bách hại giáo dân, nhưng quan trấn Quảng Nam vẫn không dám phạm đến tính mạng của Cha Đắc Lộ, dẫu sao Cha cũng là người được Chúa Thượng kính nể. Mùa Sinh nhật năm 1644, một lần quan trấn đã từng bắt giam Cha nhưng rồi Chúa Thượng lại ra lệnh phóng thích.

Nguyên vào năm 1643, Trịnh Tráng đem đại binh đến Bắc Bồ Chính để đánh Chúa Nguyễn, nhưng vì tiết trời nóng bức nên bị thiệt hại quân sĩ rất nhiều, Trịnh Tráng đành phải ra lệnh rút quân trở về. Sau đó thì thuyền tuần tra của Chúa Nguyễn hoạt động rất nghiêm nhặt vì đề phòng sợ quân Trịnh sẽ thừa dịp trở lại tấn công. Lần này thuyền của Cha Đắc Lộ trong khi đi thăm các xứ đạo thì bị bắt và tình nghi là quân thám thính của phương bắc, họ thấy có Cha là người Tây phương nên đối đãi tử tế nhưng vẫn giam giữ và báo về phủ Chúa. Được tin báo, Chúa Nguyễn liền ra lệnh phải giải Cha và các Thầy về kinh.

Tại phủ Chúa, triều thần họp lại để định đoạt số phận của Cha Đắc Lộ. Chúa Thượng tuyên án xử tử tất cả và phải thi hành lệnh ngay hôm đó, nhưng nhờ có vị đại thần Thái phó là thầy dạy của Chúa Thượng, đứng ra can ngăn xin cho Cha, Ông tâu rằng, Đạo này không dạy điều chi xấu mà kết án như thế là vấy máu người vô tội. Nhờ thế Cha Đắc Lộ được miễn tội chết nhưng phải rời ngay khỏi xứ Đàng trong và không bao giờ được phép quay trở lại, còn những người khác bị bắt chung trong chuyến đó đều bị giết.[3] Sáng ngày hôm sau, chính vị quan trấn Quảng Nam được lệnh giải Cha ra cửa Hội An để đưa xuống tàu người Bồ Đào Nha mà trở về Macao.

Đến đây chúng ta có thể hơi thắc mắc vì sao trước đây có lần Cha Đắc Lộ bị các quan bắt giữ mà Chúa Thượng tỏ vẻ kiêng nể rồi ra lệnh thả, còn lần này thì nhanh chóng kết án xử tử? Các nguồn sử liên quan điểm này không có những tường thuật cặn kẽ, vài tác giả có đưa ra cách giải thích theo suy đoán, như là: Tình hình chính trị thế giới lúc đó không còn thuận lợi cho người Bồ Đào Nha tại vùng này nữa, vì có các cường quốc mới đang xuất hiện như Tây Ban Nha, Hòa Lan, Anh Quốc, cũng đều đến gạ gẫm giao thương với Việt Nam. Đồng thời tin tức từ cuộc cấm đạo ở Nhật lan dần đến Việt Nam qua các thương gia ngoại quốc, các Chúa Nguyễn chịu ảnh hưởng của các hoàng đế Trung Hoa, các Mạc Phủ và những tin tức đồn đại xuyên tạc, nên dần dần chuyển sang thái độ nghi ngờ và ác cảm với Đạo Công giáo.[4] Và như thế chúng ta hiểu, Cha Đắc Lộ trên danh nghĩa lúc đầu là người đã theo đoàn tàu Bồ Đào Nha để đến Việt Nam.

Hôm đó ngày 03 tháng 7 năm 1645, Cha Đắc Lộ vĩnh viễn từ giã đất Việt thân yêu sau bao nhiêu năm ra sức truyền giáo và để lại di sản chữ Quốc ngữ cho dân tộc này. Ngày Cha ra đi có mang theo bảo vật quí giá, đó là chiếc thủ cấp của Thầy Anrê Phú Yên. Trên đường đi khi ngang qua đảo Hải Nam thì tàu gặp trận bão, mọi người trên tàu cầu khẩn với Vị tử đạo này nên tai qua nạn khỏi, rồi về được đến Macao bình yên, trong khi 2 chiếc tàu khác, cũng của thương buôn Bồ Đào Nha thì bị chìm trong cơn bão. Sau một thời gian lưu trú ở Macao, Bề trên ra lệnh Cha Đắc Lộ phải về Rôma để báo cáo tình hình. Ngày 20-12-1645, Cha xuống tàu trở về Châu Âu, Ngài bị người Hòa Lan bắt giam trong vòng ba tháng, sau đó thì Cha theo tàu người Anh đi một chặng đường rồi phải dùng đường bộ băng qua xứ Ba Tư đặng kết thúc hành trình. Lẽ ra chuyến đi chỉ cần sáu tháng, thế nhưng phải mất tới ba năm rưỡi thì Ngài mới về đến được Rôma.[5]

3. Vận động bước đầu tại Rôma

Cha Đắc Lộ đặt chân lên Kinh thành Rôma ngày 27-6-1649, sau đó ngài được Ðức Inôcentê X cho tiếp kiến. Một năm sau, ngày 02-8-1650 Cha đã hoàn thành xong Bản tường trình cho Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin về tình trạng Giáo Hội Việt Nam, với hiện tình nơi ấy có hơn 300.000 tín hữu và mỗi năm còn tăng thêm khoảng 15.000 tân tòng.[6] Từ số liệu bối cảnh đó, Cha Đắc Lộ tha thiết thỉnh cầu Thánh Bộ gởi Giám mục giám quản Tông tòa đến hai xứ Ðàng Trong và Ðàng Ngoài. Ngày 26-9-1650, cùng với sự hiện diện của Ðức Inôcentê X, các Hồng y đã họp lại chuẩn xét lời thỉnh cầu này. Năm 1651, Thánh Bộ đề nghị chọn Cha Ðắc Lộ đảm nhiệm chức vụ Giám mục giám quản Tông tòa, nhưng Cha lại từ chối, vịn theo lý do bởi các báo cáo của Vị thư ký Thánh Bộ là Cha Francesco Ingoli, thì các thừa sai Bồ Ðào Nha sẽ không thể nào chấp nhận được điều này và tình thế sẽ còn tệ hại hơn nữa. Nếu như không được sự đồng thuận của người Bồ Ðào Nha, Cha sẽ có nguy cơ bị cầm tù. Ngày 30-7-1652, Thánh Bộ lại họp lần nữa cũng có sự hiện diện của Ðức Giáo Hoàng, nhưng vấn đề bổ nhiệm Giám mục giám quản Tông tòa cho Việt Nam vẫn bị bế tắc, nguyên do vì những trở ngại bởi qui chế “Quyền Tài Phán” Bồ Ðào Nha, chủ yếu là vì Cha Đắc Lộ không phải gốc đào tạo và điều động bởi Bồ Đào Nha, mà là người gốc Pháp với quốc tịch của Nước Tòa Thánh. Do đấy Ðức Inôcentê X vẫn chưa thể đi đến một quyết định dứt khoát nào.

Không hy vọng tìm được giải pháp gì cho tương lai Giáo Hội Việt Nam tại Rôma, Cha Ðắc Lộ đành rời chốn Kinh thành ngày 11-9-1652 để đi Marseille, nước Pháp, rồi sau đó tới lưu trú ở Lyon. Tại đây, Ngài biên soạn quyển “Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài trong giai đoạn từ năm 1627 tới năm 1646”. Vào tháng Giêng năm 1653, Cha lên đường trực chỉ Paris, tại đây sẽ có nhiều hy vọng mà Cha Ðắc Lộ nghĩ có thể tìm được giải pháp thỏa đáng cho một Giáo hội mà Ngài hết sức yêu quí: Giáo Hội Việt Nam.

4. Thánh Bộ Truyền bá Đức tin

Vừa qua ở đoạn trên có đề cập đến một cơ cấu trong Giáo Hội vào thời kỳ này, đó là Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, để tiện theo dõi tình huống, thiết nghĩ chúng ta cũng cần dành ra đôi dòng để mô tả những nguyên do hình thành và cách hoạt động của tổ chức này.

Phong trào truyền giáo phát động tại Mỹ châu và Á Châu đã làm cho Giáo Hội ý thức được rằng: Chế độ Bảo trợ (Patronato: tiếng Tây Ban Nha, hoặc Padroado: tiếng Bồ Đào Nha), được thiết lập từ Trọng sắc Inter Caetera 1493 và Hiệp ước Tordesillas 1494, mà Đức Alexandre VI ban hành và cam kết với hai Đế quốc hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tuy nó cũng đã đóng góp và bảo vệ ít nhiều cho công cuộc truyền giáo, nhưng dần dần cũng đưa đến lắm ngăn trở cho nỗ lực rao truyền Phúc Âm ngày càng đòi hỏi cao hơn.[7] Vì mục tiêu lợi ích kinh tế và quyền khai thác thuộc địa của các Quốc gia có liên quan, mà họ luôn coi trọng ưu tiên lợi nhuận hàng đầu, nên đã gây ra không ít những phiền nhiễu cho việc Truyền giáo. Kế hoạch mở rộng thành trì Kitô giáo, nếu muốn giảm bớt tính cách thế tục mà chỉ nhắm vào mưu ích Thiêng liêng, thì tất phải trực thuộc thẩm quyền Giáo Hội một cách trọn vẹn. Đã đến lúc cần xem xét để hủy bỏ Chế độ Bảo Trợ này mà thay vào là Thẩm quyền Tòa Thánh, để nắm giữ vai trò trực tiếp đặc cử những Giám mục đại diện Tông tòa đi tới các vùng vừa mới khám phá đặng thực hiện công việc truyền giáo, như thế mới hợp lý hơn.

Xin được mở ngoặc giải thích ngôn từ: Cùng một Qui chế về thực trạng hiện hữu thời đó, nhưng các tác giả Sử hay dùng hoán chuyển cách gọi. Nếu tiền ngữ là Chế độ thì nói “Chế độ Bảo trợ”; còn với tiền ngữ Quyền thì “Quyền Tài Phán”, cả hai gần như chỉ một thực thể. Theo Trọng sắc Inter Caetera: 2 cường quốc hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phải chiết ra một phần tỉ lệ lợi nhuận từ việc khai thác thuộc địa để chịu trách nhiệm gánh chi phí và cung cấp nhân lực cho việc truyền bá Kitô giáo trong các xứ ấy.[8]

Ý tưởng đã được manh nha từ khi Công Ðồng Trentô kết thúc năm 1563, Đức Pi-ô V đã lập một Ủy Ban lo việc hoán cải dân ngoại. Đến năm 1600, Ðức Clêmentê VIII thay thế Ủy Ban này bằng một cơ cấu khác tên là Thánh Bộ Ðức Tin. Khi Ðức Grêgôriô XV được bầu làm Giáo Hoàng năm 1621, thì Ngài rất quan tâm đến việc thiết lập Hàng Giáo sĩ địa phương, do vậy, vào ngày lễ Ba Vua 06-01-1622, Ngài đi đến quyết định thành lập Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fidei). Thánh Bộ này gồm 13 Hồng y, hai vị cao cấp khác trong Giáo Hội và một thư ký, Đức Thánh Cha giao phó bổn phận chủ yếu cho Thánh Bộ này là quản trị sứ mệnh truyền bá Ðức tin.

Vừa khi ra đời, một loạt các công việc mà Thánh Bộ có nhiệm vụ phải thực hiện: Tổ chức nội bộ của Thánh Bộ, phân chia toàn thế giới ra làm 13 tỉnh hạt truyền giáo, phổ biến lệnh cấm các vị Thừa sai không được hoạt động chính trị và loại bỏ mọi mưu toan chính trị ra khỏi mục tiêu thi hành tôn giáo và mục vụ, thiết lập trung tâm học vấn chuyên ngành truyền giáo nhằm đào tạo các Thừa sai và huấn luyện Hàng Giáo sĩ địa phương, lập ấn quán xuất bản các sách phụng vụ và giáo lý ngoại ngữ, thu thập các báo cáo về tình hình thừa sai. Đặc biệt là điều đình với triều đình Madrid và Lisbonne về những lãnh thổ hải ngoại do họ bảo trợ, bổ nhiệm Giám mục làm Giám quản Tông toà, đặc trách điều khiển các Giáo hội địa phương. Trong tất cả những công việc ấy, Cha Ingoli, thư ký Thánh Bộ, đã có công gánh vác rất nhiều.

Như vậy vào đầu thế kỷ XVII mọi người đã ý thức được những hạn chế của chính sách Chế Độ Bảo Trợ liên quan đến hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Ban đầu từ nguyên do tranh chấp về hàng hải, rồi dẫn đến tham vọng mở rộng ảnh hưởng Kitô giáo. Nhưng kết cuộc thì, nỗi bận tâm dành ưu tiên cho quyền lợi vật chất bao giờ cũng tỏ ra có ưu thế vượt trội hơn. Lịch sử thường cho thấy, khi có sự đụng chạm giữa 2 thế lực đạo đời, thì thành quả bên bổn phận vì Nước Chúa, nhiều lúc cũng có thể thu về một số lợi điểm nào đó, nhưng đều phải trải qua lắm nhiêu khê và xương máu. Bối cảnh thời Cha Đắc Lộ vận động cho Việt Nam, mọi người muốn áp dụng và hưởng nhờ theo những qui định mới như Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin chủ trương, tuy nhiên song hành cùng lúc, thì ảnh hưởng của cơ chế cũ liên quan đến Quyền Tài phán của Bồ Đào Nha hãy còn đó, tình hình bấy giờ người ta chưa có biện pháp để loại trừ hẳn. Chính vì thế mới thấy được tài khéo léo của Cha Đắc Lộ cũng như những Vị tiên khởi lãnh mệnh xuất tiến sang vùng Châu Á này. Song song đó, cũng có quyền nhận xét ở điểm này, những biểu hiện thật hiển nhiên cho thấy, dường như Ý Định Quan Phòng đã thương đoái cách riêng đến xứ sở Đất Việt chúng ta, xin hãy theo dõi tiếp câu chuyện và sẽ nhận thấy ra điều minh chứng.

Tác giả: Michel Trương - Nguồn: hdgmvietnam.com (20/8/2021)

-----------
[1]
 Dữ liệu trong Phân mục: “Những tháng ngày ảm đạm...” trích dẫn trong: Lm Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền giáo ở Việt nam; Quyển I; chương VI: Cha Đắc lộ với những trang sử máu đầu tiên.

[2] x. VPPK Tông đồ VN hải ngoại, Sơ lược tiểu sử Chân phước Anrê Phú Yên, trang Web: vntaiwan.catholic.org.tw/andre/4andre.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[3] x. Bùi Đức Sinh OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Phần Nhì, Ấn bản 1972, trang 325.

[4] x. Antôn Nguyễn Trường Thăng, Tìm hiểu lịch sử Công giáo tại Việt nam, chương VI: Lý do Dòng Tên đến Đàng Trong; Phụ lục: Dấu ấn Công giáo Nhật Bản. Trang Web: antontruongthang.wordpress.com/tim-hieu-lich-su-cong-giao-tai-viet-nam/ (truy cập ngày 20.8.2021)

[5] Ibid: Chương VIII, Linh mục Alexandre de Rhodes; mục E, Hoạt động ở Macau.

[6] x. Gs. Trần văn Cảnh, Thừa Sai Hải Ngoại Paris / 350 năm xây dựng Giáo hội Việt nam; Bài 2, tại: http://ghhv.quetroi.net/63TVCANH/63TVCANHMEP03.htm (truy cập ngày 20.8.2021)

[7] Ibid, Mục 6: Thành lập Thánh Bộ Truyền giáo.

[8] x. Antôn Nguyễn Trường Thăng; Tìm hiểu lịch sử Công giáo tại Việt nam, chương II: Quyền Bảo trợ và thành lập Thánh bộ Truyền giáo.

94