Sidebar

Thứ Ba
27.09.2022

Hiểu Và Sống Phụng Vụ_Phần 02_Phụng Vụ Thánh Thễ


PHẦN II: THÁNH LỄ
Phụng Vụ Thánh Thể

Chủ tế lên bàn thờ. Từ giây phút này trở đi, bàn thờ là trung tâm của buổi lễ. Bàn thờ là bàn của Chúa, nơi sắp diễn lại bữa tiệc Đức Kitô ăn với các môn đệ trong buổi chiều thứ năm Tuần Thánh. Nhưng đó cũng là nơi gợi lại bánh Chúa Giêsu đã bẻ ra và rượu Người đã chia cho các tông đồ, sau khi Người sống lại. Cho tới nay, Chúa Giêsu Kitô hiện diện trong cộng đoàn anh em Tín hữu, trong Linh mục chủ tọa cộng đoàn nhân danh Người, trong Lời của Người, bây giờ Người lại sắp hiện diện trong hình bánh và hình rượu. Vì thế, Hội Thánh hoan hỷ và tri ân cử hành lễ tế giao ước mới. Mỗi khi bẻ bánh, là chúng ta sống lại cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, với nỗi mong chờ ngày Người trở lại; mỗi khi dâng thánh lễ " là chúng ta được hưởng ơn cứu độ " của Chúa Kitô (Chúa Nhật 2 Thường Niên, lời nguyện tiến lễ).

DÂNG LỄ

" Chúa cầm lấy bánh "

Bánh và rượu cần dùng cho bữa tiệc của Chúa được mang lên bàn thờ, tốt hơn là do các giáo dân mang lên. Cũng có thể mang theo hiện vật hay tiền bạc để hiến cho chu cầu của cộng đoàn, hay giúp những người nghèo khó. Thánh Phaolô xưa đã khuyên Tín hữu thành Côrintô để dành vật hay tiền bạc vào ngày Chúa Nhật để giúp đỡ những người nghèo (1Cr 16,2). Đang khi mang lên, có thể hát hay dạo một bài đàn.

Chủ tế nhận bánh và rượu. Đôi khi cũng có thầy Phó tế giúp chủ tế nhận những thứ này. Sau khi đổ rượu vào chén và pha thêm chút nước như thói quen thời Chúa Giêsu, chủ tế lần lượt đặt bánh và rượu lên bàn thờ. Đang khi đó, chủ tế đọc một kinh vừa chúc tụng Chúa tạo thành, vừa kính đáo nhắc lại phần cộng tác của con người vào công trình sáng tạo, vừa khẩn nài cho cộng đoàn nhận được ơn ích thiêng liêng, khi tham dự Tiệc Thánh Thể. Còn những của lễ khác thì để trong cung thánh, chứ không đặt trên bàn thờ. Rồi chủ tế rửa tay. Cử chỉ này tượng trưng hành vi thanh tẩy tâm hồn. Và sau khi kêu gọi Tín hữu cầu nguyện " xin cho lễ tế này làm vinh danh Chúa và cứu độ muôn người " , chủ tế đọc lời nguyện hiến lễ. Lời nguyện này là mối dây liên kết giữa việc đưa các lễ vật được đặt trên bàn thờ và kinh tạ ơn. Mọi người thưa "Amen" để biểu lộ sự đồng tình.

KINH TẠ ƠN

"Người tạ ơn".

Kinh tạ ơn (Prière eucharistique) là tâm điểm của thánh lễ. Đó vừa là một lời nguyện ca tụng do chủ tế kết hợp mật thiết với cộng đoàn đọc lên, vừa là một hành động thiêng thánh, bởi vì chính khi đọc kinh này mà bánh và rượu biến thành Mình và Máu Chúa Kitô.

Bốn Kinh Tạ Ơn.
  Có thể đọc bốn kiểu kinh tạ ơn khác nhau. Kinh tạ ơn 1 lấy lại quy lễ Rôma cũ khai triển theo một lối riêng, còn ba kinh tạ ơn kia thì theo một dàn bài giống nhau. Tất cả những kinh này đều bắt nguồn từ lời nguyện của Đức Giêsu đọc trên bánh và rượu vào buổi chiều Thương Khó: "Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ... Người lại cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho môn đệ... (Mt 26,26-27). Trong các sách Tin Mừng , không có ghi lại bản kinh tạ ơn của Đức Kitô (chữ "Eucharistia" có nghĩa là tạ ơn, ngợi khen, chúc tụng), nhưng trong Cựu Ước và Tân Ước có rất nhiều Thánh Vịnh và Thánh Ca tạ ơn mà kinh Magnificat của Đức Maria là một mẫu hoàn hảo nhất. Diễn tiến của Kinh Tạ Ơn. Kinh tạ ơn trước hết là một kinh ngợi khen Ba Ngôi Thiên Chúa: Dâng lên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần; tính cách ngợi khen của kinh này thấy rõ và nổi bật trong lời tung hô kết thúc để xưng tụng Ba Ngôi Thiên Chúa. Ngay từ bài Tiền Tụng, chúng ta đã dâng lời tạ ơn Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành hoàn hảo, ơn cứu độ nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô; kết thúc một lịch sử lâu dài, ơn cứu độ này là ơn cao cả nhất Thiên Chúa ban cho nhân loại. Ở giữa kinh tạ ơn, có lời tường thuật việc Chúa lập phép Thánh Thể: Linh mục đọc lại những lời Chúa đã nói, và làm lại những cử chỉ Chúa đã làm khi Người cầm lấy bánh và rượu xưa kia: "Nầy là mình Thầy hy sinh vì anh em... Nầy là máu Thầy, đổ ra để lập Giao Ước mới ngàn đời tồn tại". Sau khi đã làm lại như lệnh Chúa truyền, thì đến việc tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Người, và loan báo ngày Người trở lại. Tiếp đó, nhân danh toàn thể Hội Thánh, Linh mục dâng lên Chúa Mình và Máu Con của Người, rồi xin Chúa Thánh Thần can thiệp. Trước khi truyền phép cũng đã có lời cầu xin Chúa Thánh Thần thánh hóa lễ phẩm, nhưng lần này cầu xin cho các Tín hữu, sau khi rước Mình và Máu thánh, "được kết hiệp với Đức Kitô mà trở nên một tinh thần và một thân thể duy nhất" (kinh tạ ơn 3), và trở thành một tế phẩm sống động để ca tụng Chúa Cha (kinh tạ ơn 4). Trước lời tung hô kết thúc kinh tạ ơn còn một kinh chuyển cầu nữa, dài vắn tùy theo mỗi mẫu kinh. Mục đích của lời chuyển cầu này là kết hợp mật thiết các thánh với lễ tế của Giáo Hội, và làm cho những người đang hợp tác với các Giám mục phổ biến Nước Chúa, cũng như những người đã qua đời và mọi người rải rác trên khắp thế gian, được hưởng nhờ hiệu quả của lễ tế này.
Lời cầu của Linh Mục và của Dân Tư Tế.

Kinh tạ ơn trước hết là kinh của Linh mục. Chỉ có những ai đã được đặt tay phong chức: Giám mục, Linh mục chủ tế và các Linh mục đồng tế trong các phần chính, mới được đọc lớn tiếng kinh này giữa cộng đoàn phụng vụ.

Nhưng, vì các Tín hữu cũng nhận được chức tư tế chung khi chịu phép Rửa Tội, nên họ cũng được tham dự mật thiết vào kinh này. Chẳng những Linh mục dâng lễ tế nhân danh cộng đoàn và cầu nguyện cho họ, nhưng sau phần đối đáp lúc ban đầu, giáo dân còn tham dự vào ba lúc chính yếu nữa trong kinh tạ ơn: cuối bài Tiền Tụng kể ra lý do tạ ơn mỗi ngày, giáo dân đọc hay hát kinh Thánh, Thánh, Thánh... cùng với Linh mục; sau truyền phép thì đọc hay hát câu tung hô để tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Đức Kitô; cuối kinh tạ ơn thì long trọng thưa "Amen" để biểu lộ sự đồng tình. Tiếng "Amen" này là tiếng thưa long trọng hơn hết trong cả buổi lễ.

 

HIỆP LỄ

" Người cầm lấy bánh và trao cho các môn đệ. Người cầm lấy chén mà trao cho họ".

Đọc kinh tạ ơn xong, cộng đoàn sẽ đáp lại lời mà Chúa đã kêu mời: "Các con hãy nhận lấy mà ăn. Các con hãy nhận lấy mà uống".

Kinh Lạy Cha và lời chúc bình an

Các nghi thức khai mạc phần hiệp lễ bắt đầu bằng kinh Lạy Cha là kinh Đức Giêsu đã dạy cho các môn đệ và cũng là kinh riêng của những người đã chịu Phép Rửa. Trong kinh này, Đức Giêsu dạy chúng ta xin Thiên Chúa ban lương thực hằng ngày và tha tội cho chúng ta. Thật không còn cách nào tốt hơn để chuẩn bị chúng ta rước lễ, cho bằng nói lên rằng chúng ta đói và cần bánh ban sự sống, cũng như khẩn nài Chúa thanh tẩy chúng ta, kẻo chúng ta rước mình Chúa một cách bất xứng (1 Cr 11,27). Sau đó, Linh mục khai triển nội dung lời cầu xin cuối cùng: "Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ ", và giáo dân tung hô: "Bởi vì Cha là Chúa quyền năng..." để kết thúc. Câu tung hô này là câu các Tín hữu thế hệ đầu đã tự động thêm vào sau kinh Lạy Cha.

Trong kinh này, chúng ta cũng xin: "Xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con". Lời kêu mời tha thứ cho nhau được kèm trong lời chúc bình an của Linh mục nói với giáo dân. Rồi, trong nhiều cộng đoàn, Linh mục đề nghị giáo dân bày tỏ tình đoàn kết của họ với nhau trong Đức Kitô bằng một cử chỉ thân mật: "Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau".

Bẻ Bánh.

Bẻ bánh để chia cho nhau là một nhu cầu vật chất, nhưng cũng là một nét biểu dương đặc biệt tình đoàn kết với nhau và là một kỷ niệm của cuộc Thương Khó. Đức Giêsu đã làm cử chỉ này khi Người hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng (Mt 14,19), khi lập phép Thánh Thể, và lúc hiện ra với các môn đệ trên đường Emmau (Lc 20,35). Chính vì thế, đối với người Kitô hữu, bẻ bánh đã trở nên một trong những nghi thức đặc biệt nhất khi cử hành bữa tiệc của Chúa.

Đang khi Linh mục bẻ bánh rồi bỏ một miếng vào chén thánh để chỉ Đức Kitô sống lại, thì cộng đoàn khẩn cầu Con Chiên đã được hiến tế cho chúng ta trong bữa tiệc Vượt Qua:
"Xin thương xót chúng con".

Rước Lễ

Trước hết, Linh mục kêu mời giáo dân đến bàn tiệc Chúa: "Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc thánh". Câu này phỏng theo một lời trong sách Khải Huyền (Kh 19,9), nhắc cho chúng ta rằng lễ tạ ơn ở dưới đất báo trước hạnh phúc ở trên trời. Chúa thường ví niềm hân hoan của hạnh phúc đó với niềm vui trong bữa tiệc cưới. Rồi Linh mục nâng Mình Chúa lên và nói: "Đây Chiên Thiên Chúa". Đó là nhừng lời thánh Gioan nói khi giới thiệu Đức Giêsu với các môn đệ của ông trên bờ sông Giođan. Cộng đoàn đọc lời kinh khiêm tốn của viên đại đội trưởng: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con" để đáp lại (Mt 8,8).

Linh mục rước Mình và Máu Chúa trước. Rồi một thầy Phó tế hay Linh mục khác, hoặc có khi là giáo dân, giúp chủ tế trao Mình Thánh Chúa cho người rước lễ. Khi phân phát Mình Thánh Chúa cho giáo dân, đưa bánh thánh và nói: "Mình Thánh Chúa Kitô"; giáo dân thưa "Amen". Khi đưa chén thánh thì nói: "Máu Thánh Chúa Kitô", và giáo dân trả lời "Amen".

Tiệc Thánh Thể là một bữa tiệc ngày lễ. Vì thế, khi giáo dân tiến lên bàn thờ để rước lễ, thường có tiếng hát kèm theo. Các Thánh Vịnh 22 và 23 rất thích hợp với những lời lẽ như sau: "Chúa dọn sẵn cho tôi mâm cỗ, ly rượu tôi đầy tràn chan chứa" (Tv 22,5), "Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy" (Tv 33,9).

Rước lễ xong, mọi người yên lặng hồi tâm một lúc lâu. Bấy giờ có thể hát một bài diễn tả những tâm tình tạ ơn của cộng đoàn. Rồi chủ tế dâng lên một lời nguyện cuối cùng, nhân danh cộng đoàn để xin cho Mình và Máu Thánh Chúa sinh công hiệu trong linh hồn những người rước lễ. Giáo dân thưa "Amen".

GIẢI TÁN

Trước khi giải tán, có thể loan báo một vài điều liên quan đến sinh hoạt của cộng đoàn. Rồi Linh mục chào giáo dân và ban phép lành. Thường phép lành chỉ là lời kêu cầu Ba Ngôi Thiên Chúa xuống phúc lành cho cộng đoàn. Nhưng có những trường hợp, lời chúc lành này được quảng diễn rộng rãi hơn, như trong lễ cưới chẳng hạn.

Cuối cùng, Phó tế hay Linh mục chủ tế nói: "Lễ xong, chúc anh chị em về bình an" để giải tán thực sự. Nhiều người đã diễn nghĩa việc giải tán này như một lệnh "lên đường". Quả thật, không ai chối cãi được rằng lệnh "lên đường" đã rất được lưu ý, đến nổi người ta đã gọi tất cả thánh lễ là một cuộc "lên đường" hay một cuộc "đi sứ" (nghĩa của chữ "Missa"). Giáo dân thưa: "Tạ ơn Chúa". Những lời này gợi lại một lần cuối chủ đề chính yếu của phép Thánh Thể. Cộng đoàn giải tán, "ai nấy lại trở về với những công việc của mình mà ngợi khen, tôn vinh Chúa" (Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, số 57).

BẢN CHẤT CÁC BÍ TÍCH

"Các Bí tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Kitô, và sau cùng là thờ phượng Thiên Chúa. Tuy nhiên, là những dấu chỉ, các Bí tích còn giữ vai trò giáo huấn nữa. Không những các Bí tích đòi buộc phải có đức tin, mà còn dùng lời nói và sự vật để nuôi dưỡng, củng cố và diễn tả đức tin đó. Do đó, được gọi là các Bí tích đức tin. Thực ra, các Bí tích ban ân sủng, nhưng việc cử hành các Bí tích còn là việc chuẩn bị các Tín hữu đón nhận ân sủng đó một cách hữu hiệu để thờ phượng Chúa đúng cách và để thực hiện đức bác ái.

Do đó, việc rất quan trọng là làm sao cho các Tín hữu dễ dàng hiểu được những dấu chỉ của các Bí tích, và hết sức siêng năng lui tới đón nhận các Bí tích, là những Bí tích được lập ra để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu" (PV số 59).


1802