3. Linh mục cũng hãy vững tin

Từ cái nhìn về đức tin của Đức Maria, giờ đây chúng ta nhìn vào đức tin của linh mục. Thánh Augustinô viết: “Đức Maria đã tin và những gì Mẹ đã tin đều được ứng nghiệm nơi Mẹ. Chúng ta cũng hãy vững tin như vậy, ngõ hầu những gì đã thành toàn nơi Mẹ cũng có thể hiện thực cho chúng ta.”[15]

Chúng ta cũng hãy vững tin! Việc chiêm ngưỡng Mẹ Maria trước hết phải giúp chúng ta canh tân đời sống đức tin cá nhân và sự phó thác của chúng ta đối với Thiên Chúa. Tất cả mọi người Kitô hữu được mời gọi noi gương Đức Maria về đức tin, cách riêng đối với các linh mục, đây là mời lời gọi đặc biệt. “Người công chính thì sẽ được sống, nhờ lòng thành tín của mình” (Hbc 2,4; x. Rm 1,17). Điều này phải được áp dụng cho các linh mục theo một cách thế đặc biệt. Linh mục là người của đức tin. Đức tin làm nên con người của linh mục, và có thể nói được rằng đức tin là “trọng lượng” và hiệu quả của thánh chức mà linh mục cưu mang.Các tín hữu cảm nhận ngay lập tức đức tin sống động hay không nơi một linh mục, một mục tử, nếu họ thực sự tin vào những gì họ rao giảng và cử hành. Linh mục trước hết phải là người tìm kiếm Thiên Chúa, ngài thực hành điều đó không ngơi nghỉ; nếu không biết tìm kiếm Thiên Chúa, linh mục có thể dễ dàng trở thành người khô khan, thiếu đức ái và thậm chí còn lừa dối chính mình, khi tỏ ra mình quan trọng, xuất chúng, thức thời, nhưng trong thực tế, người linh mục đó chỉ là “thanh la pheng phèng, chũm choẹ inh ỏi” (x. 1 Cr 13,1).Nếu gặp gỡ một linh mục đạo đức, khiêm tốn và cởi mở, ngay cả những người vô thần cũng lập tức nhận ra sự khác biệt của vị linh mục này so với những người khác. Điều khiến người khác bị đánh động và muốn thay đổi đời sống thường không nhờ tham dự các cuộc hội thảo mang tính hàn lâm về đức tin, nhưng nhờ gặp gỡ cá vị với một người thực sự đã tin với trọn vẹn con người mình. Đức tin luôn có tính lan truyền. Người ta không nắm bắt được virus nhờ việc nghe nói về chúng hoặc nhờ nghiên cứu về nó, nhưng nhờ cách tiếp xúc với một người đang bị nhiễm virus. Đức tin cũng vậy, người ta không nắm bắt được nhưng có thể cảm nghiệm và lan truyền được.Đôi khi chúng ta lại đau khổ và thậm chí còn phàn nàn với Chúa khi cầu nguyện, vì thấy người ta bỏ Giáo Hội, không từ bỏ tội lỗi để trở về với Chúa. Chúng ta cầu nguyện nhiều, nói nhiều… nhưng xem ra mọi sự vẫn không có gì thay đổi và có khi tình trạng còn trở nên tệ hơn. Một ngày nọ, các Tông Đồ cố gắng trừ quỷ ra khỏi một anh thanh niên, nhưng họ không thể trừ được. Sau khi Chúa Giêsu trừ con quỷ đó ra khỏi anh ấy, họ đến gần Chúa Giêsu và hỏi: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy? Người nói với các ông: Tại anh em kém tin!” (Mt 17,19-20).Thánh Bonaventura kể lại rằng, một ngày nọ, khi đang sống trên núi Alvernia, ngài đã nhận ra điều mà các Giáo Phụ nói, đó là nhờ ơn Chúa Thánh Thần và nhờ đức tin sống động, linh hồn đạo hạnh có thể thụ thai Ngôi Lời của Chúa Cha, sinh hạ Ngôi Lời, đặt tên và tìm kiếm cũng như tôn thờ Ngôi Lời như Ba Vua, và cuối cùng người đó vui sướng tiến dâng Ngôi Lời cho Thiên Chúa trong đền thờ của mình. Sau đó, ngài đã viết nên một tác phẩm có tựa đề “Năm lễ của Chúa Hài Đồng” để cho thấy làm sao người Kitô hữu có thể tái hiện nơi chính mình từng biến cố trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Ở đây, chúng ta chỉ tóm tắt những gì thánh Bonaventura nói trong hai thánh lễ đầu tiên, đó là lễ Truyền Tin và lễ Giáng Sinh. Cả hai được áp dụng cách đặc biệt cho các linh mục. Thật vậy, linh mục “thụ thai” Chúa Giêsu khi không hài lòng với cuộc sống tầm thường đang sống, nhờ được thúc đẩy bởi những gợi hứng thánh thiện và tràn đầy nhiệt huyết, linh mục quyết tâm thoát khỏi những lề thói cũ và những dính bén thế tục, nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của mình một cách phong phú nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và thực hành những đòi hỏi của đời sống linh mục. Khi đã được “thụ thai,” Con Thiên Chúa diễm phúc được sinh ra trong lòng linh mục, sau khi đã cầu nguyện, tham vấn người khôn ngoan và được hướng dẫn để có được sự phân định thánh thiện, linh mục thực hành những đòi hỏi nên thánh trong bậc sống mình, cũng như những ước mơ mà linh mục đã từng ấp ủ, mà không bao giờ bỏ cuộc vì lo sợ hay nghĩ mình không có khả năng. Tuy nhiên, những mời gọi cho một cuộc sống tử tế và thánh thiện này phải được thực hành ngay trong đời sống thường nhật của linh mục, mà không chần chừ chậm trễ; Tin Mừng trở thành nếp sống cụ thể của linh mục; phong cách sống ấy được thể hiện ra bên ngoài và có thể quan sát được qua đời sống, lời nói, thái độ và cách hành xử của linh mục. Nếu Lời Chúa không được sống, như thế có nghĩa là Chúa Giêsu được thụ thai, nhưng không được sinh ra. Đó là một trong những ca “phá thai tinh thần,” mà thật đáng tiếc, điều này vẫn thường xảy ra nơi các tâm hồn và cả nơi các linh mục. Nếu đem so sánh thì chúng ta sẽ thấy sự đáp lời của Đức Maria trong giây phút Truyền Tin: “Amen” – xin vâng” và sự đáp trả của linh mục trong giây phút truyền chức: “Thưa, con đây” rất giống nhau. Sau quá trình huấn luyện, các tiến chức linh mục được gọi bước lên để tiến chức, mỗi ứng viên đáp lại: “Thưa, con đây.” Đó là một sự đáp trả công khai trước lời mời gọi của Thiên Chúa, qua sự chứng nhận của Giáo Hội. Trong nghi thức, giám mục hỏi các tiến chức một số câu hỏi: “Con có muốn không ngừng chu toàn nhiệm vụ tư tế ở bậc linh mục, như là cộng sự viên tốt của hàng giám mục trong việc chăn dắt đoàn chiên Chúa theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không?” Ứng viên linh mục thưa: “Thưa con muốn.”Giám mục hỏi tiếp: “Con có muốn chua toàn một cách xứng đáng và khôn ngoan thừa tác vụ Lời Chúa trong việc rao giảng Phúc Âm và trình bày đức tin Công Giáo không?” Hay: “Con có muốn cử hành một cách đạo đức và trung tín các mầu nhiệm của Đức Kitô, để ngợi khen Thiên Chúa và thánh hoá dân Kitô hữu theo truyền thống của Hội Thánh, nhất là trong hy lễ tạ ơn và bí tích hoà giải không?” Mỗi câu hỏi tiến chức đều trả lời: “Thưa con muốn.” Đây là “lời thưa xin vâng” của linh mục trước lời mời gọi của Thiên Chúa và của Giáo Hội. Để kết thúc bài suy tư này, chúng ta có thể nói rằng, sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội có hiệu quả hay không, phần lớn lệ thuộc nơi chất lượng đời sống của các linh mục. Và sự canh tân tâm linh của linh mục sẽ tỷ lệ thuận với lòng nhiệt tâm mà mỗi linh mục của Giáo Hội có thể đáp trả lại một cách hân hoan lời “Thưa, này con đây,” “xin vâng.” Đó là lời mà linh mục đã thưa trong ngày lễ truyền chức. Khi xuống thế làm người, Chúa Giêsu – vị Mục Tử tối cao đã thưa: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,7). Ước gì các linh mục trong đó có tôi mỗi ngày thức dậy biết thưa với Chúa những lời tương tự như thế: “Lạy Chúa Giêsu, con đến, để làm theo thánh ý Ngài.”


[1] Ps. Epiphany, Homily in praise of the Blessed Virgin, (PG 43, 497).

[2] x. R. Laurentin, Maryecclesiology, priesthood, Paris 1952; art. “Sacerdoti” in the New Dictionary of Mariology, Ed. Paoline 1985, 1231-1242.

[3] Paul VI, General Audience, Oct. 7, 1964.

[4] St. Augustine, Sermons, 72 A, 8 (Misc. Aug. I, p.164).

[5] Lumen Gentium 64.

[6] Clement of Alexandria, Paedagogus, I, 6.

[7] Blessed Isaac Stella, Sermons, 51 (PL 194, 1863).

[8] Tertulliano, “De Carne Christi,” 20-21 (CCL 2, 910 ss.).

[9] St. Augustine, Sermons, 215, 4 (PL 38,1074).

[10] x. Lm. Raniero Cantalamessa, Đức Maria, Nữ Tỳ của Chúa, Nxb. Đồng Nai, Đồng Nai, 2021, 14-30.

[11] x. C. Carretto, Blessed Are You Who Believed, London, Burns & Oates, 1982, p. 3.

[12] E. De Luca, In Nome Della Madre, Feltrinelli, Milano, 2006, pp. 66 ss.

[13] x. Lm. Raniero Cantalamessa, Đức Maria, Nữ Tỳ của Chúa, Nxb. Đồng Nai, Đồng Nai, 2021, 14-30.

[14] Lumen Gentium 58.

 

[15] St. Augustine, Discourses, 215,4 (PL 38, 1074).