1. Lễ  Chúa  Giêsu  Chịu  Phép  Rửa Năm C
  2. Chu Toàn Sứ Mạng Cha Trao
  3. Vì Loài Người Chúng Ta 
  4. Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa C 
  5. Phép Rửa Và Ơn Cứu Chuộc 
  6. Biết Mình Để Hạ Mình 
  7. Sống Như Con Thiên Chúa
  8. Chúa Giê Su Chịu Phép Rửa: Giây Phút Quyết Định Sứ Mạng Của Ngài
  9. Cùng Với Sự Hiệp Thông Công Đoàn - Qua Ơn Chúa Thánh Linh - Chúng Ta Thi Hành Sứ Vụ
  10. Tạo Dựng Mới
  11. Sống Mầu Nhiệm Thanh Tẩy
  12. Con Đường Yêu Thương Kỳ Diệu
  13. Lễ Chúa Giê Su Chịu Phép Rửa: Liên Đới Với Dân
  14. Sự Khiêm Nhượng Tuyệt Đỉnh
  15. Ý Nghĩa Phép Rửa
  16. Đức Giêsu Cũng Chịu Phép Rửa


LỄ  CHÚA  GIÊSU  CHỊU  PHÉP  RỬA NĂM C
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Tham dự phụng vụ hôm nay, Thánh sử Luca mời gọi chúng ta hướng nhìn về Chúa Giêsu, để chúng ta sống giống như Chúa Con, "đẹp Lòng Chúa Cha". Đầu tiên,  chúng ta thấy Chúa Giêsu sống khiêm nhường, sống giống mọi người. Trước khi dìm mình trong nước để nhận lãnh phép rửa từ tay thánh Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã nhập đoàn dân chúng giống y như mọi người, khiêm tốn và chia sẻ với mọi người nhu cầu sám hối và thanh tẩy. Con đường của Chúa Giêsu đi cũng là con đường của tất cả mọi người chúng ta. Chúa Giêsu trở thành người và sống như mọi người, sống giữa mọi người.

Kế đến, Chúa Giêsu cho thấy việc thanh tẩy là hình bóng của bí tích rửa tội mà chúng ta lãnh nhận. Tuy nhiên, nghi lễ thanh tẩy của Gioan chỉ là việc tỏ lòng sám hối. Lời Gioan Tẩy Giả cho thấy bản chất của bí tích Rửa tội mà Chúa Giêsu trao ban cho con người gồm hết mọi lễ nghi thanh tẩy của Cựu Ước, bởi vì Chúa Giêsu sẽ thanh tẩy con người với Chúa Thánh Thần và lửa. Bí tích Rửa tội mà Chúa Giêsu hiện thực là lửa đốt cháy sự dữ. Nó như lửa luyện lọc và thanh tẩy lòng con người như lời tiên tri đã báo trước. Nó như nước tẩy rửa mọi vết nhơ trong tâm hồn con người, trao ban phong phú và sự sống. Và điểm đặc thù nổi bật nhất trong bí tích Rửa tội Kitô giáo, là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nguyên lý trao ban sự sống của Thiên Chúa cho con người.

Bên cạnh đó, Phúc Âm Luca cho thấy Chúa Giêsu là con người cầu nguyện (Lc 3, 210. Ngài cầu nguyện liên lỉ không những trước mọi biến cố quan trọng trong cuộc đời, mà trong mọi lúc cho đến chết. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ cầu nguyện, đó cũng là cách thế Chúa Giêsu sống mối dây liên hệ yêu thương hiệp thông với Thiên Chúa Cha và với Chúa Thánh Thần.

Và sau cùng là biến cố Chúa Giêsu được thánh hiến trong sứ mệnh cứu độ ấy. Nó được diễn tả bằng lược đồ giải thích thị kiến, thường được các soạn giả Kinh Thánh dùng đến để trình bày một chủ ý thần học hay một kinh nghiệm thiêng liêng nội tâm. Thị kiến như tường thuật trong Phúc Âm là một lời giải thích biến cố Chúa Giêsu lãnh phép rửa thanh tẩy. Biến cố này minh chứng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài là hiện thân toàn vẹn của Thiên Chúa. Chính trong khi Chúa Giêsu cầu nguyện, nghĩa là đối thoại thân tình với Thiên Chúa Cha mà Ngài nhận được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Đấng đã hoạt động trong sứ mệnh cứu độ. Sau này, khi các tông đồ tiếp tục sứ mệnh ấy của Chúa Giêsu, các ông cũng sẽ được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là ơn đầu tiên mà Chúa Giêsu Phục sinh trao ban cho các môn đệ và cho mọi tín hữu sau này qua bí tích Rửa tội.

Trong thư gởi cho Titô (Tt 2, 11-14;  3, 4-7) thánh Phaolô nhắc cho chúng ta biết ơn tái sinh mà Chúa Giêsu Kitô đã trao ban cho chúng ta. Ơn thánh Chúa ban giúp chúng ta tái sinh, nghĩa là có được cuộc sống mới và giúp chúng ta tiếp tục canh tân cuộc sống mỗi ngày bằng cách từ bỏ gian tà, từ bỏ các đam mê xác thịt thế gian, nghĩa là từ bỏ tất cả những gì khiến cho chúng ta xa Chúa và đánh mất đi cuộc sống mới mà Chúa Kitô đã trao ban cho chúng ta qua bí tích Rửa tội. 

Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu là Con yêu quý của Ngài, thì chúng ta hôm nay là những người con của Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải sống theo gương của Chúa Giêsu, để một ngày nào đó, Chúa Cha cũng xác nhận chúng ta là những người con yêu quí giống như Chúa Giêsu vậy. Trong mỗi người chúng ta, ai cũng phải làm con, rồi mới làm cha làm mẹ. Vậy thì như con cái phải làm vui lòng cha mẹ thế nào, thì chúng ta cũng phải làm vui lòng Chúa như vậy. Rồi các bậc cha mẹ ai cũng ước mong cho con cái mình sống tốt thế nào, thì chính các cha mẹ cũng phải sống tốt như vậy. Nghĩa là phải sống đức tin, sống đạo thật tốt, trung thành với các bổn phận đạo đức, trung thành với bổn phận làm người, sống yêu thương, giúp đỡ tha nhân, làm lành lánh dữ. Và như thế, là chúng ta được sống trong tình Cha con với Thiên Chúa, và Thiên Chúa sẽ nhận chúng ta là những người con yêu quí của Ngài.

Như thế, phép rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta ý thức được ơn gọi cao trọng làm con cái Chúa của mình, ơn gọi mà chúng ta đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội. Ơn gọi đó đồng thời cũng bao gồm sứ mệnh làm chứng cho Chúa giữa lòng thế giới này. Và chúng ta chỉ có thể hiện thực được nó khi biết cố gắng sống theo mẫu gương của Chúa Giêsu sống đẹp lòng Chúa Cha mà thôi.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết sống đẹp lòng Chúa Cha, chu toàn bổn phận vì tình yêu mến Chúa và luôn sống thể hiện đức ái cho mọi người, để chúng con trở nên những đứa con ngoan của Chúa. Amen.

CHU TOÀN SỨ MẠNG CHA TRAO
Lc 15 - 16. 21 - 22

Một nhà thần học nọ đã nói: "Mỗi con người khi được sinh ra là người nhưng chưa trở thành người đúng nghĩa. Vì thế, để được trở thành người đúng nghĩa con người ấy cần phải nổ lực tự đào luyện mỗi ngày ".

Với tư tưởng này chúng ta cũng có thể nói khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội người kitô hữu chúng ta được là con Thiên Chúa nhưng chưa trở thành con Thiên Chúa đúng nghĩa. Do đó, chúng ta cần phải mỗi ngày cùng với ơn Chúa giúp tự đào luyện mỗi ngày để xứng đáng với tư cách làm con Thiên Chúa nhiều hơn. Nói cách khác người kitô hữu chúng ta cần chu toàn tốt sứ mạng được Chúa Cha trao phó.

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Ðây là biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giêsu nơi trần gian này. Qua biến cố này Chúa Giêsu chính thức công khai ra đi rao giảng Tin mừng sau 30 năm sống ẩn dật.

Chúng ta còn nhớ đoạn Tin mừng nói về Chúa Giêsu vào Hội đường Nagiaret để đọc đoạn sách tiên tri Isaia: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa " (Lc 4, 18 - 19). Khi đọc xong Người nói thêm : "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe." (Lc 4, 21). Do đó, Tin mừng mà Chúa Giêsu đem đến cho toàn thể nhân loại là sự giải thoát. Giải thoát cho con người khỏi nô lệ của tội lỗi và của sự chết đời đời. Ðó là sứ mạng Người đã nhận từ nơi Chúa Cha. Sứ mạng ấy đã được Người chu toàn hết sức tốt đẹp. Cho nên, hôm nay Chúa Cha chính thức tuyên bố: "Con là Con yêu dấu của Cha; Cha hài lòng về Con" . (Lc 3, 22b)

Chúng ta thử tưởng tượng một gia đình ở vườn muốn đi ra đường lớn phải nhờ qua đất của gia đình phía trước. Ngày nọ, những người trong gia đình đem xây hàng rào tự cô lập mình. Người chủ của gia đình phía trước mới vô năn nỉ xin những ngưỡi trong gia đình này cho phá hàng rào để gia những người trong gia đình này không còn bị cô lập nữa.

Với tình huống này, chắc chắn chúng ta sẽ cho rằng không thể nào có thể xảy ra được. Thế nhưng, đây là hình ảnh minh họa cho Thiên Chúa của chúng ta. Mặc dầu chúng ta từ chối nguồn sống từ Chúa nhưng Chúa vẫn không bỏ chúng ta. Người tìm mọi cách để cứu chúng ta. Ðó chính là sứ mạng của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao cho.

Mỗi người chúng ta dù ở chức phận nào cũng có chung sứ mạng làm sáng danh Chúa trong môi trường sống của mình. Nguyện xin Chúa cho chúng ta biết chu toàn tốt sứ mạng Chúa trao. Nhờ đó, mỗi ngày chúng ta sẽ trở thành người và người kitô hữu đúng nghĩa hơn.

VÌ LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA 
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Cha Zundel có một nhận định như sau: "sự khiêm nhường nhất của Thiên Chúa là khi Ngài chấp nhận cho con người dùng ngôn ngữ của mình để nói về Ngài". Bởi lẽ, ngôn ngữ của con người chúng ta không thể làm diễn tả hết sự thật về Thiên Chúa, đôi khi còn làm méo mó khuôn mặt thật của Ngài nữa. Hôm nay, mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, chắc chắn khi người ta thấy Đức Giêsu đứng sắp hàng cùng với đám tội nhân, thì họ sẽ nghĩ rằng Ngài cũng là một tội nhân. Đây cũng là một sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Ngài chấp nhận cho người khác nghĩ sai về Ngài. Nhưng chúng ta thử hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại làm như thế? Thưa vì Ngài yêu thương con người và Ngài muốn làm bạn với hết mọi người. Đây chắc hẳn là mầu nhiệm của tình yêu mà chúng ta chưa hiểu thấu hết được.

Có một câu chuyện kể như sau: Có một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự tiệc được mộp phen cười thoả thích. Vị khách già này xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng vào dự tiệc nữa, ông quyết định quay về nhà của mình. Gia nhân của vị quan nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Rồi bất ngờ, vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cố tình té ngã vào vũng nước mà ông cụ đã té trước đó. Thế là áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa! Sau đó, vị quan lớn đến cầm lấy tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ. Chỉ có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia, mới có thể đưa ông cụ vào bàn tiệc.

Hình ảnh và hành động của vị quan lớn trong câu chuyện trên đã minh hoạ cho chúng ta thấy được phần nào về hình ảnh của Chúa Giêsu. Ngài là Đấng cực thánh mà đã tự "té vào" thế gian để dẫn đưa con cháu Ađam bước vào dự tiệc cưới Thiên đàng.

Khi sinh xuống làm người trong hình dáng của một trẻ thơ yếu ớt, nghèo khổ, thiếu thốn mọi bề, Chúa Giêsu đã trở thành trung gian nối kết trời với đất. Ngài đã từ trời cao bước chân xuống đất thấp đến với con người để con người từ đất thấp bước chân lên trời cao. "Đất với trời giao duyên, Thiên Chúa đến ở với con người". Rồi hôm nay, khi sắp hàng trong đám tội nhân, Chúa Giêsu đã cất khỏi mọi rào cản, mọi khoảng cách để con người được tự do đến với Thiên Chúa và được Ngài mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả.

Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: "Thiên Chúa là Tình Yêu", nhưng không ai thấy được tình yêu cả. Người ta chỉ có thể thấy được những bằng chứng của tình yêu mà thôi. Và Chúa Giêsu của chúng ta đã để lại cho chúng ta rất nhiều bằng chứng của tình yêu: Xuống trần vì yêu, sống vì tình yêu, làm mọi việc tốt lành vì tình yêu, chết vì yêu và sống lại cũng vì tình yêu. Làm sao kể hết được những việc Chúa Giêsu đã làm để minh chứng cho tình yêu mà Ngài thực hiện trong suốt cuộc đời dương thế của Ngài. Ngài yêu thương con người bằng chính tình yêu của Thiên Chúa Cha yêu thương Ngài: "Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng".

Chúa Giêsu làm đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng nhờ biết Ngài biết ý của Cha mình và Ngài luôn chu toàn mọi sự đúng theo ý Chúa Cha dù mình có "tan nát tấm thân" đi chăng nữa. Ngài đã từng nói với các tông đồ rằng: "lương thực nuôi sống Thầy là làm theo ý của Cha Thầy". Và trong lúc cô đơn nhất, đau khổ nhất, Ngài vẫn thân thương với Cha: "Xin đừng theo ý Con, nhưng xin làm theo ý Cha". Đó là tư cách làm Con của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha dù Ngài vẫn là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha của mình.

Để biết được Thánh ý Chúa Cha trong cuộc đời này, ta phải làm gì? Làm sao biết ta biết được Thánh ý Chúa? Ý Chúa Cha trong cuộc đời chúng ta được thể qua lương tâm ngay lành của chúng ta, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh đặc biệt là Giới Luật Yêu thương, qua 10 Giới răn của Chúa cũng như qua những Giáo huấn chính thức của Hội thánh dạy chúng ta. Khi ra sức thực hành những điều ấy, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa Cha nói với chúng ta rằng: "Con là con yêu dấu của Cha".

Hãy trở thành những người con yêu dấu của Cha trên trời. Hãy nhiệt tâm sống niềm tin của mình trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống theo gương của chính Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Hãy để cho "Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta" để chúng ta dám ra khỏi con người của mình, sống liên đới trách nhiệm với mọi người hầu ý Chúa Cha được thể hiện trong trần gian này. Khi hoàn tất sứ mạng cao quý này với lòng nhiệt tâm và yêu mến, chúng ta sẽ được theo chân Chúa Giêsu bước vào tr ời cao hưởng hạnh phúc muôn đời.

CHÚA NHẬT CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA C 
Lc 3,15 - 16. 21 - 22

"Đức Giêsu cũng chịu phép rửa" (Lc 3,21)

Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mạng của mình bằng hai việc quan trọng, thứ nhất là đời sống nội tâm với việc ăn chay và cầu nguyện trong sa mạc suốt 40 ngày đêm, thời gian đủ dài để suy nghĩ, tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa và nền tảng bước vào sứ mạng quan trọng. Thứ hai, Ngài chịu phép rửa sám hối của Gioan như bao nhiêu người dân thường khác.

Biến cố Giáng Sinh, Thiên Chúa đã chấp nhận hoàn toàn sống thân phận con người như chúng ta. Kể từ đây Chúa Giêsu sống như con người chia sẻ và đón nhận kiếp người. Cụ thể là Ngài "cũng chịu phép rửa" như những con ngươi đồng thời với mình chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Đấng cứu thế. Nhưng khác biệt ở đây Ngài chính là Đấng cứu thế.

Sự kiện Chúa Giêsu chịu phép rửa là lúc ý định của Chúa Cha muốn giới thiệu Ngài cho nhân loại, Ngài chính là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và cũng như Ngài thực sự bắt đầu đời sống công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ, Ngài cũng chính là Đấng cứu độ. Ai nghe, tin và sống như Ngài thì được cứu độ.

Dân chúng vẫn còn mơ hồ về Đấng cứu thế, họ lẫn lộn giữa Gioan và Đức Giêsu, lẫn lộn giữa phép rửa của Gioan và Đức Giêsu. Giờ đây Thiên Chúa Cha khẳng định chính thức và công khai giới thiệu cho họ biết Chúa Giêsu mới là Đấng cứu độ. Chỉ nơi Ngài và lãnh nhận phép rửa của Ngài bởi "Thánh Thần và lửa" sẽ mang đến cho chúng ta ơn cứu độ.

Với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa và sự giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã hành động như bao con người thiện chí, muốn sám hối quay về với Thiên Chúa. Ngài noi gương cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, sống hoà đồng, chia sẻ, thông cảm và đón nhận giới hạn của nhau. Ngài không phân biệt, khoảng cách hay vạch rõ ranh giới với con ngươi dù Ngài vẫn là Thiên Chúa. Ngài yêu thương và cứu độ chúng ta. Nhìn lên Chúa Giêsu chúng ta hãnh diện vì mình tôn thờ một Đấng đích thực trong đời sống đức tin và hành trình đời người.

Ước gì mỗi ngày chúng ta càng ngày tin mạnh mẽ vào Chúa, luôn tuyên xưng niềm ra bên ngoài cho mọi người xung quanh và làm cho mọi nhận ra rõ ràng rằng Đức Giêsu là Đấng cứu độ, Đấng mang lại bình an và hạnh phúc cho mọi người.

Lạy Chúa, qua bí tích Rửa tội chúng ta được phúc làm con Chúa, xin con luôn biết noi gương Chúa đem ơn cứu độ, bình an và hạnh phúc cho mọi người bằng cách sống giống như Chúa.

PHÉP RỬA VÀ ƠN CỨU CHUỘC 
Lc 3,15 - 16. 21 - 22

Ơn cứu chuộc đã được Thiên Chúa hứa ban cho lòai người và được các Tiên tri nhắc lại nhiều lần trong thời Cựu ước, đặc biệt là Tiên tri Isaia trong Bài đọc I: Khi Đấng Cứu Thế đến, Người sẽ xét xử các dân cách công bình và đặt công lý trên địa cầu. Muôn dân trông đợi lề luật Người; Người đối xử nhân từ với nhân lọai, mở mắt người mù, giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết.

Lời hứa đó đã được ứng nghiệm rõ ràng nơi Chúa Giêsu. Ngài đã đến trong trần gian. Và việc Ngài chịu phép rửa tại sông Giođan hôm nay tiên báo trước cái chết của Ngài trên thánh giá: Ngài sẽ dùng máu mình mà rửa sạch tội lỗi thế nhân.

Chính đức Giêsu, Con Chiên Vô Tỳ Tích đã đến dòng sông Giođan cùng với những tội nhân. Ngài tự đồng hóa mình với tội nhân và gánh lấy mọi tội lỗi nhân loại đã xúc phạm đến Thiên Chúa quyền uy vô cùng. Ngài là một con người, với tư cách một người đại diện cho nhân loại, đồng thời Ngài cũng là Thiên Chúa đã dâng mình làm của lễ lên Thiên Chúa Cha mà chuộc lại lỗi lầm của nhân loại. Vì thương chúng ta, Ngài đã không quản việc hóa thân làm người, bỏ đi khoảng cách vốn có giữa vị Thiên Chúa là Tạo Hóa với loài thụ tạo thấp hèn là nhân loại tội lỗi. Ngài làm người để đồng cảm với những nỗi khổ của con người, chia sẻ thân phận mỏng dòn của con người, ngay cả cái chết Ngài cũng không từ nan.

Trong bài Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy rõ: Ý định cứu chuộc lỗi lầm cho con người của Chúa Giêsu được Chúa Cha ưng nhận. Khi để Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình, Chúa Giêsu đã khẳng định vai trò gánh tội thay cho nhân loại và Chúa Cha lúc đó đã phán lời ưu ái với một con người: Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Con đẹp lòng Cha. Chúa Giêsu là một con người như chúng ta nhưng luôn làm theo ý Chúa Cha và được Chúa Cha ưu ái đặc biệt. Đến lượt chúng ta, những kẻ tin theo Chúa Giêsu rồi cũng sẽ được Chúa Cha gọi tên vào Nước Trời với lời thân ái: hỡi con yêu dấu của ta, các con đã nghe lời Con Chí Ái của Ta, hãy vào hưởng phúc Thiên Đàng đời đời với Chúng Ta.

Vấn đề là loài người có nhận ra tình thương của Chúa Giêsu hôm nay hay chưa, có nhận biết sự cao trọng và cần thiết của Ơn Cứu Chuộc hay chưa? Ơn Cứu Chuộc cần thiết đến độ Ngôi Hai Thiên Chúa thấy cần phải rời bỏ trời cao đến ở với loài người, trở nên bé nhỏ như loài người để giải thóat con người khỏi sự chết đời đời. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài thấy rõ điều gì cần thiết và ích lợi cho chúng ta nhất. Còn loài người chúng ta có khi lại đáp trả lại tấm lòng ưu ái đó bằng sự thờ ơ, từ chối, phủ nhận sự hiện diện của Ngài bằng nhiều hình thức khác nhau! Nhiều người kitô hữu chỉ giữ đạo hình thức, vì luật buộc thôi, chưa tương xứng gì với tình thương hy sinh của Ngôi Hai cứu chuộc! Ngày hôm nay, trong việc đầu tư buôn bán, người ta hay tính toán so đo sao cho: làm ít, lời nhiều. Trong việc giữ đạo, chúng ta không nên so đo tính tóan với Chúa. Chúng ta giữ đạo, đọc kinh, đi lễ không thể chỉ vì cái lợi vật chất, mong ăn nên làm ra, mau giàu có hoặc để khỏi bệnh hoạn yếu đau nhưng phải nhắm mục tiêu xa hơn, chính đáng hơn là phần rỗi linh hồn và hạnh phúc đời đời. Những mục tiêu như sức khỏe, học hành, làm ăn khá tuy cũng cần nhưng chỉ là thứ yếu so với hạnh phúc đời đời. Vì vậy, tuy chúng ta có thể cầu xin cho mình tất cả những thứ đó, nhưng lời cuối cùng khi cầu nguyện là: con sẵn sàng đánh đổi tất cả để được hạnh phúc đời đời bên Chúa. Vì Chúa Giêsu cũng đã sẵn sàng đánh đổi mạng sống mình trên thập giá cho hạnh phúc của chúng ta. Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, thì chúng ta cũng phải đáp trả lại tương xứng với tình yêu ấy.

Xin Chúa cho chúng con biết nhận ra tầm quan trọng của hạnh phúc đời đời để mọi hoạt động, mọi ước mơ trong cuộc đời này đều nhắm tới gia tài đời sau là hạnh phúc Thiên đàng, nơi Chúa hiển trị.

BIẾT MÌNH ĐỂ HẠ MÌNH 
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Đến ngày lễ "Chúa Giêsu chịu phép rửa" có rất nhiều thắc mắc được đặt ra. Thắc mắc vì tư tưởng của họ không thể chấp nhận được: Tai sao Chúa Giêsu lại phải chịu phép rửa của Gioan? Chúa là Đấng vô tội là con chiên tinh tuyền, thì lẽ gì cần phải sám hối, cần phải ăn năn. Có rất nhiều ý kiến khác nhau nói về điều này, nhưng hầu như không làm thõa đáng, hoặc chỉ làm hài lòng ở một khía cạnh nào đó thôi. Ở đây không nhằm tìm kiếm xem thế nào? Và vì sao? Nhưng điều quan trọng là chúng ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa qua việc Ngài chấp nhận chịu phép rửa và sứ điệp Ngài muốn gởi đến. Qua bài Tin Mừng chúng ta dễ dàng nhận ra hai hành động cho chúng ta noi theo. Hai hành động không "chỏi" nhau mà lại bổ túc cho nhau cách hoàn hảo; một là biết mình nơi Gioan, hai là hành động hạ mình nơi Đức Giêsu.

1. Biết mình

Khi Đức Giêsu bắt đầu rao giảng thì Gioan đã là người rất nổi tiếng, dân chúng lũ lượt kéo đến với Ngài, họ coi ông như Đấng Messia, Nhưng ông "biết mình" nên đã từ chối và nói: "Không phải ta đâu mà là Đấng khác", Ông hướng họ tới Đức Kitô. Ta thử suy nghĩ xem, nếu ngài không biết mình chấp nhận mình thì ngài đã xưng mình là Đấng Messia, vì đây là cơ hội và là dịp thuận tiện để lấy lòng tin nơi dân chúng. Nhưng không ! Bổn phận của ngài là đưa tha nhân về với Chúa. Vì giữa Đấng Messia và ngài có một cách biệt qúa lớn "như người đầy tớ không đáng cởi giày cho Chủ". Hơn nữa, ông còn cho biết: "Phép rửa của ông trong nước, sẽ có Đấng quyền năng hơn tôi, Người sẽ rửa các ông trong thánh Thần và lửa". Phép rửa của Gioan chỉ là bên ngoài, như nước chảy trên thân xác, còn phép rửa của Chúa Giêsu bên trong như lửa thiêu hủy tất cả. Nhờ có Thánh Thần mà sức nóng của Ngài ăn sâu tận đáy lòng và biến đổi tất cả. Gioan nhờ "biết mình" mà ông tự biết "lu mờ" đế Đức Giêsu "Sáng lên". Chính khi biết mình thì ông lại thấy mình nhỏ bé để lại càng sống phó thác hơn. Cũng chính vì biết mình để nhận ra mình yếu đuối chỉ là không trước mặt Chúa thì ông mới biết quên mình để nhiệt tình rao giảng phúc âm. Cũng chính vì "biết mình" mà ông đã trở thành những ngộn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, và cũng là mẫu gương cho các ngôn sứ ngày nay. Nếu chúng ta biết mình thì sẽ dễ dàng nhận ra mình nhỏ bé để mà chấp nhận người khác. Hơn nữa, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận thánh ý Chúa, và để Thiên Chúa lớn lên trong ta mỗi ngày trên con đường phục vụ.

2. Hạ mình

Hầu như rất nhiếu người thắc mắc: Tại sao Đức Giêsu là Chúa mà lại chịu phép rửa của Gioan. Điều này chỉ có thể giài thích được khi biết lý luận dưa trên tình yêu. Chúng ta không thể hạ mình xuống với một người nhỏ hơn, vì chúng ta chưa đủ yêu họ, vì khi yêu thật thì phải "hy sinh cho người mình yêu". Hơn nữa Chúa là Chúa cả trời đất, có nơi nào được coi là xứng đáng, có hành động nào được gọi là công bằng, có hành động là phải được. Vì chúng ta chỉ là những thụ tạo, những "con nợ" có gì mà so sánh với tình yêu Chúa được. Nhưng không như ta nghĩ, Đức Giêsu đã hạ mình xuống như người tội lỗi, và yêu thương họ. Vì thế mà Thánh Phaolô đã thốt lên: "Thiên Chúa giống ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi".

Qua hành động của Đức Giêsu khom người xuống để chịu phép rửa của Gioan, là hành động hạ mình xuống thấp như những người tội lỗi khác. Tuy Ngài vô tội nhưng Ngài đã hòa mình như những người có tội. Ngài không đứng trên họ như người phán xét, mà chấp nhận liên đới để kéo họ lên. Chỉ khi nào mình là người trong cuộc mới hiểu thấu được nỗi thống khổ hoàn cảnh người đó chịu. Chính sự hạ mình đó đã làm cho cả nhân loại thấy được tình yêu cao siêu và vô biên Thiên Chúa đã dành cho con người. Đức Giêsu cũng có thể hoàn toàn đứng hiên ngang như người vô tội, hoặc dùng lời nói hay một quyền phép để cứu ca nhân loại. Nhưng Ngài không làm thế, vì cách đó chỉ như một ân huệ dư thừa ban phát, như một trò chơi chủ tớ. Điều đó hoàn toàn không thể hiện tình yêu mà chỉ khi hành động tự hạ như một người tội lỗi và tột đỉnh là cái chết mới thể hiện được tình yêu vô biên của Ngài dành cho nhân loại, đó mới chính là tình yêu được thể hiện cách sống động và cụ thể. Vì thế, cảm nghiệm được tình yêu Chúa đòi hỏi ta phải biết sống khiêm hạ. Vì mỗi lần khiêm hạ là một lần hy sinh. Mà hy sinh là chấp nhận đau đớn. Vì cuộc thanh tẩy nào cũng có mất mát và đổ máu.

Lạy Chúa xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa để con biết khiêm tôn, biết phó thác, biết chấp nhận hy sinh và cho đi chính con người của mình. Amen

SỐNG NHƯ CON THIÊN CHÚA
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

1.LỜI CHÚA: "Con là Con Cha. Cha hài lòng về Con" (Lc 1, 35)

2.CÂU CHUYỆN: SỨC MẠNH CỦA GƯƠNG SÁNG

Tại một bệnh viện, một bé gái được đưa vào phòng giải phẫu. Bác sĩ nói: "Cháu ạ, trước khi giải phẫu, ta phải làm cho cháu ngủ đã!" Cô bé, vốn được bà mẹ đạo đức huấn luyện từ nhỏ về thói quen cầu nguyện trước khi đi ngủ, liền đáp: "Ồ, nếu bác sĩ làm cho cháu ngủ, thì xin hãy để cho cháu được cầu nguyện trước đã". Rồi em ngồi dậy sốt sắng cầu nguyện. Sau một phút, em nói: "Bây giờ thì bác sĩ có thể cho cháu bắt đầu ngủ được rồi đấy!" Sau đó, chính bác sĩ giải phẫu cũng âm thầm cầu nguyện khi sắp bắt tay vào việc chuyên môn gây mê và giải phẫu khối u cho em nhỏ. Đây là lần cầu nguyện đầu tiên của ông sau 30 năm xa Chúa. Không biết sức mạnh nào ở nơi cô bé yếu đuối kia đã làm khơi dậy niềm tin nơi vị bác sĩ đáng bậc cha chú của em!

3.SUY NIỆM:

1) SỐNG NHƯ CON HIẾU THẢO LUÔN LÀM ĐẸP LÒNG CHÚA CHA: Ngày lễ hôm nay nhắc nhở ta một điều rất quan trọng mà chúng ta thường hay quên, là cần ý thức và sống ơn gọi đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội: Trở nên con của Thiên Chúa noi gương Đức Giê-su. Phép rửa tội không chỉ là một lễ nghi để cử hành, nhưng còn là khởi đầu một cuộc sống mới kéo dài trong suốt cuộc đời người tín hữu. Chúng ta vui mừng vì được tái sinh làm con Thiên Chúa. Ta phải sống thế nào để Thiên Chúa cũng xác nhận chúng ta như đã xác nhận Đức Giê-su : "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người" (Mt 3,17).

2) LÀ CÙNG CHẾT VÀ SỐNG LẠI VỚI ĐỨC KI-TÔ: Hôm nay Hội thánh cũng muốn nhắc nhở các tín hữu chúng ta về những cam kết mà chúng ta đã hứa trong ngày chịu phép rửa tội. Qua nghi lễ thanh tẩy bằng nước, diễn tả mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Đức Giê-su, Hội thánh nhắc nhở các tín hữu cũng phải chết đi cho những gì thuộc về ma quỉ, thế gian cùng các đam mê tội lỗi bất chính để cùng được sống lại một đời sống mới làm con Thiên Chúa. Chết đi cho các thói hư cụ thể là lọai trừ óc bè phái cục bộ, tính tự cao khi cho mình là hay và chê bai anh em. Từ bỏ những việc làm xấu xa như: tham ô hối lộ, ăn cắp của công, bóc lột người nghèo, giết người cướp của, chè chén say sưa, cờ gian bạc lận, gian tham tục tĩu... Loại bỏ những ý nghĩ đen tối, những lời nói hành nói xấu, vu oan giáng hoạ, kết án kẻ mình không ưa, nói sai sự thật. Loại bỏ cả những sự tọc mạch, soi mói vào đời tự kẻ khác...

3) NHỮNG CÁCH LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY: Làm chứng cho Chúa là sứ vụ phát xuất do bí tích rửa tội và Thêm sức. Nhờ Thần Khí của Đức Giê-su Phục Sinh, người tín hữu có bổn phận làm chứng cho Đức Giê-su như sau:

+ Trước hết là sống hiếu thảo với Chúa Cha noi gương Đức Giê-su là Con yêu dấu luôn làm hài lòng Cha (x Mt 3,17), bằng việc kết hiệp qua kinh nguyện hằng ngày, luôn tìm thi hành thánh ý Chúa Cha (x Dt 10,9; Mt 26,39), tích cực góp phần xây dựng xã hội mình đang sống ngày một an tòan sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn, để dần dần trở thành "Trời Mới Đất Mới" (Kh 21,1-4) theo thánh ý Thiên Chúa.

+ Làm chứng cho Đức Giê-su không nhất thiết đòi chúng ta phải nói về Chúa, nhưng là thực hành đức tin bằng đức cậy, chiếu sáng đức ái qua cuộc sống hòa hợp với mọi người chung quanh.noi gương em bé trong câu chuyện trên, tuy không nói nhiều về Chúa, nhưng chính gương sáng cầu nguyện với lòng tin cậy phó thác của em đã có sức lay động đức tin nguội lạnh của viên bác sĩ giải phẫu cho em.

+ Làm chứng cho Đức Giê-su đòi chúng ta phải thay đổi con người cũ bằng một đời sống đổi mới trong Thánh Thần. như lời thánh Phao-lô: "Anh em đã được chỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa" (Cl 3, 1-2).

+ Làm chứng cho Đức Giê-su là chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng, làm cho "danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến" (Mt 6,9-10), bằng sự cầu nguyện kết hiệp, bằng thái độ ứng xử thân thiện, lời nói hòa nhã vui vẻ, việc làm phục vụ khiêm tốn, nhất là năng sự thăm viếng chia sẻ cơm bánh và phục vụ những người nghèo khổ bệnh tật và bị bỏ rơi như Lời Chúa dạy: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16). 

4.THẢO LUẬN: Khi chịu phép rửa tội, chúng ta đã được công nhận là con yêu dấu của Chúa Cha như Đức Giê-su xưa. Người cũng truyền cho các môn đệ phải làm chứng cho Người (Cv 1,8). Vậy ngày nay các tín hữu cần làm chứng cho Đức Giê-su bằng cách nào?

5.NGUYỆN CẦU:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con học tập nơi Chúa nhân đức hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin cho chúng con luôn biết nhận ra những thiếu sót và lầm lỗi của mình. Xin cho chúng con đừng cố làm cho mình nổi trội hơn anh em. Xin cho chúng con luôn ăn nói khiêm tốn nhỏ nhẹ, không la mắng to tiếng với tha nhân. Xin cho chúng con biết chọn phần ít hơn người khác về quyền lợi, nhưng sẵn sàng dấn thân phục vụ nhiều hơn cho họ. Xin cho chúng con biết nói ít làm nhiều. Nhờ đó, "hữu xạ tự nhiên hương": Chúng con sẽ chiếu ánh sáng tình yêu của Chúa trước mặt thiên hạ, và qua chúng con, anh em lương dân sẽ nhận biết yêu mến Chúa để cùng được chia sẻ niềm vui ơn cứu độ với chúng con.

X: Xin hiệp cùng Mẹ Maria    
Đ: Xin Chúa nhậm lời chúng con.

LM ĐAN VINH    www.hiephoithanhmau.com

CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA: GIÂY PHÚT QUYẾT ĐỊNH SỨ MẠNG CỦA NGÀI
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Ba mươi năm sống tại làng quê Nadarét, Chúa Giêsu đã được cha mẹ yêu thương, nâng đỡ, bao bọc, chở che và nơi gia đình Nadarét, Chúa Giêsu đã học làm người, sống kiếp người ngoại trừ tội lỗi. Rồi, ngày giờ đã tới, một hôm Ngài xếp hàng với các tội nhân, xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài nơi dòng sông Giorđăng. Chúa bắt đầu khai mạc sứ vụ công khai của Ngài theo ý Thiên Chúa Cha.Tin Mừng nhất lãm ghi lại: " Đây là Con yêu dấu của Ta.Ta hài lòng về Người ". Chúa Giêsu đã làm cử chỉ rất khiêm hạ là cúi mình xuống để cho Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình và chính khi khiêm hạ, Ngài được Thiên Chúa Cha tôn vinh.

Chúng ta hiểu rõ phép rửa của Gioan là phép rửa thống hối, xin ơn tha tội. Phép rửa này dành riêng cho các tội nhân. Bởi vì, khi người ta có tội, khi người ta lỡ phạm tội thì mới cần ơn tha thứ, cần sự sám hối ăn năn. Cả ba Tin Mừng của thánh Matthêu, thánh Máccô và thánh Luca đều thuật lại biến cố đáng ghi nhớ và ấn tượng của Chúa Giêsu chịu phép rửa. Câu chuyện về việc Chúa Giêsu đến xin Gioan Tẩy Giả rửa tội cho mình bên dòng sông Giorđăng được cả ba tác giả kể lại chi tiết thật tỉ mỉ, ấn tượng.Thực tế, Chúa Giêsu là Đấng ba lần thánh, nghĩa là đại thánh, tuyệt thánh không cần phép rửa thống hối của Gioan, nhưng Chúa có thái độ, hành động và cử chỉ khiêm nhu như thế là để làm đẹp lòng Đức Chúa Cha đến nỗi Thiên Chúa đã tỏ mình ra khi Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa bởi tay Gioan. Khi Ngài lên khỏi nước,trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Ngài dưới hình chim bồ câu. Từ trời, có tiếng Chúa Cha phán: " Con là Con Ta yêu dấu. Ta hài lòng về Người " ( Lc 3,22 ).


Thiên Chúa Cha rất hài lòng về Chúa Giêsu bởi vì Ngài hiểu ý của Cha và tuân theo ý của Cha.


Trong biến cố quan trọng và đáng ghi nhớ khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần đã xức dầu tấn phong Ngài. Ngài là Đấng Mêsia, là Đấng Cứu Độ nhân loại. Việc tự hạ của Ngài đã được Thiên Chúa tôn vinh. Tiếng Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu là Con của Ngài.


Chúa Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian, đến thế giới này với sứ mạng cứu rỗi nhân loại, cứu rỗi con người. Ngài đã được chính Chúa Cha giới thiệu với nhân loại Ngài là Con chí ái của Chúa Cha, và được Chúa Thánh Thần xức dầu để Ngài loan báo Tin Mừng cứu độ. Người Kitô hữu thuộc về Chúa Kitô, nên cũng được mời gọi loan báo sứ điệp yêu thương của Chúa Giêsu, vì Đạo của Chúa thiết lập là Đạo yêu thương đúng như bản chất của Chúa là Tình yêu.


Là Chúa, là Đấng đại thánh nhưng Chúa làm gương cho chúng ta qua việc Ngài cúi rạp mình khiêm hạ để Gioan thanh tẩy cho mình. Việc thanh tẩy, xóa tội luôn dành cho các tội nhân. Tuy nhiên, khi Chúa chịu phép rửa Ngài gợi lên cho chúng ta về một phép rửa khác: " cuộc thống khổ và cái chết của Ngài trên thập giá để cứu độ trần gian " đang chờ Ngài. Cuộc thanh tẩy không phải bằng nước của dòng sông Giođăng và được chính Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài, nhưng là bằng lửa và bằng máu của Ngài đổ ra trên thập giá để cứu chuộc muôn người.Phép rửa của Gioan là tiên trưng cho phép rửa mọi người sẽ lãnh nhận và con người sẽ được thanh luyện bằng chính máu của Chúa Giêsu, được cùng Ngài sống lại trong vinh quang và qui tụ thành một như Chúa thưa với Chúa Cha: " Xin cho mọi người nên một " ( Ga 17, 11).


Là Kitô hữu nghĩa là thuộc về Chúa Kitô. Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Chúa Giêsu tự hạ. Bởi vì khi được rửa tội, chúng ta được nhận Chúa là Cha và mọi người là anh em với chúng ta. Chúng ta được tháp nhập với các Kitô hữu trong Hội Thánh và Khi được Chúa Thánh Thần xức dầu, chúng ta được hiệp nhất với Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta được mời gọi lên đường phục vụ, cảm thông, chia sẻ và quảng đại đối với mọi người.


Vâng, phép rửa của Chúa Giêsu mở ra một kỷ nguyên mới. Chúa Giêsu là Ađam mới. Ađam xưa sa ngã, cùng với Evà kéo sự chết vào trần gian. Với phép rửa, Chúa Giêsu khai mào một kỷ nguyên tạo dựng mới. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côlôsê đã viết: " Khi anh em chịu phép rửa, anh em được mai táng với Đức Kitô, và trong phép rửa tội ấy, anh em cũng được sống lại với Đức Kitô...Đã có thời anh em bị chết về mặt tinh thần, nhưng giờ đây Thiên Chúa đã mang đến cho anh em cuộc sống mới cùng với Đức Kitô " ( Cl 2, 12-13 ).


Và thánh Phaolô nói tiếp: " Anh em đã được phục sinh để sống cùng với Đức Kitô. Vậy anh em hãy hướng tâm hồn anh em về những sự trên trời...Hãy giữ lòng trí luôn nghĩ đến những sự ở trên trời chứ đừng nghĩ đến những việc ở dưới đất này..." và " Sự sống đích thực của anh em là Đức Kitô và khi Ngài hiện ra thì anh em cũng được xuất hiện với Ngài để chia sẻ vinh quang của Ngài " ( Cl 3, 1-4 ).


Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con ơn hoán cải, để chúng con hoàn toàn được Chúa chiếm đoạt và hoàn toàn thuộc về Chúa, để chúng con dám ra đi phục vụ anh em, dám chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ anh chị em đồng loại. Xin Chúa ban cho chúng con niềm vui, sự phấn khởi hân hoan vì Chúa luôn đồng hành với chúng con.Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CÙNG VỚI SỰ HIỆP THÔNG CÔNG ĐOÀN
 - QUA ƠN CHÚA THÁNH LINH - CHÚNG TA THI HÀNH SỨ VỤ

Lc 3, 15 - 16. 21 - 22
Tuần vừa qua chúng ta mừng lễ Hiển Linh, nhưng, lễ hiển linh chưa kết thúc trong phúc âm thánh Luca. Vì có 3 mầu nhiệm mừng Chúa hiển linh:- 3 nhà Đạo sĩ đến nhà Chúa Hài Nhi Kitô, - Phúc âm thánh Gioan nói việc Chúa Giêsu làm phép lạ nước hoá thành rượu ở Cana; - Và hôm nay, Thánh Luca nói việc Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Jordan bởi Gioan Tẩy Giả. Qua đó mạc khải cho chúng ta biết Chúa Giêsu là ai, và sứ vụ của Ngài sẽ ra sao.

Luca không nói đến đám đông quần chúng đến nghe Gioan Tẩy Giả. Chuyện thứ nhất là khi Gioan Tẩy Giả nói "có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến". Theo Luca, Gioan Tẩy Giả có bổn phận dọn đường cho Chúa Giêsu, xong ông ta tránh sang một bên.


Luca viết rất ngắn gọn về phép rửa của Chúa Giêsu. Chắc chúng ta cũng muốn biết thêm ít chi tiết về dịp nầy chứ? Trước đó Luca nói là Gioan Tẩy Giả "đi khắp vùng ven sông Jordan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội". Vậy thì Chúa Giêsu chịu phép rửa ở chỗ nào, để chúng ta có thể xây một đền bia làm kỷ niệm? Gioan Tẩy Giả nói gì để chúng ta có thể dùng lời văn ấy trong kinh phụng vụ? Chúa Giêsu đã nói gì? Trong phúc âm thánh Mátthêu, Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả có nói với nhau (Mt3:13-17).Nhưng, phúc âm của Luca không ghi lại.


Hình như Luca muốn nói đến những vấn đề quan trọng hơn: Đó là Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu và có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con của Cha, Cha rất hài lòng về Con". Thánh Luca định nói gì với chúng ta vậy?


Luca nói "Khi người dân chiu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu phép rửa cùng với họ và khi Ngài đang cầu nguyện..." Trong phúc âm Luca thường nói đến tinh thần cộng đoàn. Chúng ta, những người đã chịu phép rửa, được liên kết với Chúa Kitô và với nhau. Phần đông ở các giáo xứ tôi đã thăm viếng, không có phép rửa tội dành riêng cho "gia đình đặc biệt", mà nhiều gia đình đợi để được rửa tội cùng một lúc. Phép rửa tội là việc của cộng đoàn: chúng ta chịu phép rửa để trở nên môn đệ của Chúa Giêsu và liên kết với nhau. Chúng ta tụ họp chung quanh Chúa Giêsu nhờ bí tích rửa tội, và nhận được ơn Chúa Thánh Thần để ra đi làm nhân chứng cho Ngài qua lời nói và việc làm. Trong sách Công vụ Tông Đồ, thánh Luca tiếp tục chủ điểm đời sống cộng đoàn này. Luca nói cộng đoàn những người đã chịu phép rửa được Chúa Thánh Thần xuống trên họ trong lúc họ đang cầu nguyện va ra đi loan báo Tin Mừng, bắt đầu từ miền Galilê.


Qua phúc âm Luca, chúng ta cùng đi với Chúa Giêsu sau khi Ngài chiu phép rửa, "và được Chúa Thánh Thần dẫn vào hoang địa... rồi chịu quỷ cám dỗ". Chính Chúa Thánh Thần đã giúp Chúa Giêsu trong khi bị cám dổ, Ngài cũng nâng đỡ chúng ta, khi chịu phép rửa tội, để đảm bảo rằng chúng ta trở nên người được Chúa Giêsu yêu dấu và làm đẹp lòng Chúa Cha.


Qua phép rửa và với ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta được biết chắc là Thiên Chúa ở với chúng ta, và hoạt động trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta được ơn Chúa Thánh Thần dẫn dắt để loan bảo với người khác, nhất là với những người bé mọn nhất trong xã hội là họ cũng là "con yêu dấu" của Thiên Chúa. Chúng ta không chỉ loan báo bằng môi miệng, nhưng qua việc làm nữa. Đối với những người chịu đau khổ, lời nói bằng môi miệng không đủ để an ủi họ, mà phải giúp đỡ họ qua cơn đau khổ.


Giả sử hôm nay chưa biết đoạn văn này là của thánh Luca, thì thử hỏi chúng ta có biết đoạn sách này là phúc âm của Luca viết hay không? Vì suốt phúc âm thánh Luca, có vài chi tiết cho chúng ta biết tác giả là Luca.


Thứ nhất, đoạn văn nói về hoạt động của Chúa Thánh Thần, là một chủ điểm khắp phúc âm thánh Luca, và nhất là trong Công vụ Tông Đồ. Thứ hai là, nói về cầu nguyện, một chủ điểm xuyên suốt phúc âm thánh Luca. Chúa Giêsu đang cầu nguyện thì Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ngài. Chúa Thánh Thần cũng có mặt trong những lúc quan trọng của đời sống Chúa Giêsu. Như: Khi Chúa Giêsu bị quỷ cám dỗ, Khi trở về Galilê Chúa Giêsu "được quyền năng Thần Khí thúc đẩy Đức Giêsu trở về miền Galilê" (Lc 4:14). Chúa Giêsu bắt đầu ngay từ đó giảng dạy trong các hội đường (Lc 4:15-30) và loan báo "Thần Khí Chúa ngự trên tôi..." và sau đó loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, người bệnh hoạn, kẻ bị giam cầm, và trả lại tự do cho người bị áp bức.


Chúng ta cũng đã chịu phép rửa trong cùng Thần Khí như đã ngự trên Chúa Giêsu và gởi Ngài đi làm sứ vụ. Lời kinh nguyện mặc khải cho chúng ta biết ơn gọi của chúng ta giống như sứ vụ của Chúa Giêsu là: Đến những kẻ sống bên lề xã hội, cho họ biết là Thiên Chúa yêu mến họ, được tự do ra khỏi những vướng bận, kiềm hãm. Thông qua hành vi cuộc sống đầy thấn khí Chúa Thánh linh trong chúng ta?


Có một số người trong chúng ta làm lay chuyển thế giới qua đời sống Kitô Hữu của họ. Dù vậy, trong những việc nhỏ mọn tầm thường, chúng ta cũng được Thần Khí thúc đẫy để hoạt động một cách thầm lặng hầu che chở "cây sậy bầm dập..." mà theo Isaia nói trong bài đọc 1 quyền uy thế gian không dễ gì nghiền nát nó được.


Bài trích sách Isaia đọc ngày hôm nay có hình ảnh rất dịu hiền, âu yếm. Thiên Chúa nói với người tôi tớ được chọn "chính Ta đã nắm tay người..." Thiên Chúa không gọi chúng ta đi một mình, có Ngài đồng hành với chúng ta: những lúc gặp thử thách, chống đỡ với thế gian. Ngài đã như cha mẹ nắm tay chúng ta như tay đứa con thơ.. Hình ảnh âu yếm ấy trong Isaia là hình ánh mà Luca nói với chúng ta trong suốt phúc âm: Chúng ta đã nhận Thần Khí như Chúa Giêsu đã nhận. Qua Thần Khí đó Thiên Chúa dẫn dắt chúng ta ra đi phục vụ để đem sự công chính của Thiên Chúa đến cho thế gian.


Chúng ta thường nghĩ là phép rửa xóa tội tổ tông. Nhưng có biết bao điều chứng minh ảnh hưởng của tội lỗi trên chúng ta ở trần gian, từ khi mới sinh ra cho đến suốt đời. Nhưng, Thánh lễ hôm nay mời gọi chúng ta thấy được phép rửa mà chúng ta đã lãnh nhận, đã đem chúng ta vào vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.


Cộng đoàn những người đã chiu phép rửa được gia nhập vào sự sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Kitô, được sống đời sống mới trong Thần Khí của Ngài. Trong phép rửa, chúng ta cũng nghe được tiếng nói cho chúng ta biết; chúng ta là "con yêu dấu" của Thiên Chúa. Chúng ta cũng nghe tiếng nói chúng ta được mời gọi sống đời phục vụ nhân danh Chúa Kitô. Isaia mô tả đời sống phục vụ của chúng ta phải là: không bẻ gẫy cây sậy đang oằn dập, không dập tắt hy vọng nơi những người bị áp bức và tuyệt vọng.

Lm Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: FX Trọng Yên, OP

TẠO DỰNG MỚI
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Thuở tạo dựng, Thiên Chúa dùng Lời quyền năng và Thần Khí của Người mà tác thành muôn loài muôn vật: "Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời. Một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú" (Tv 33, 6).

Cho đến ngày, tại dòng sông Gio-đan, Đức Giê-su chịu phép rửa, đang lúc Người cầu nguyện, trời mở ra, có tiếng Chúa Cha giới thiệu Người là Con yêu dấu của Chúa Cha; cùng lúc ấy, hình ảnh chim câu xuất hiện báo hiệu sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.


Thế là, Ba Ngôi cùng hiện diện và mang lại một cuộc tạo dựng mới.


I.
CHUẨN BỊ

Vẫn biết lịch sử cứu độ là cả một lịch sử chờ đợi Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên để đón nhận sự kiện trọng đại này con người cần phải có những chuẩn bị cần thiết. Chính Thánh Gio-an Tẩy giả đã giúp họ.


Đời sống thánh thiện, lời rao giảng mời gọi mời ăn năn thống hối của thánh Gio-an Tẩy giả đã ảnh hưởng đến lòng khao khát mong đợi của dân đối với Đấng Cứu Thế, đã thúc dục họ đón nhận phép rửa để tỏ lòng ăn năn thống hối, đến độ có người lầm tưởng thánh nhân là Đấng Cứu Thế (x. Lc 3, 15).


Như vậy, việc đón nhận Thiên Chúa sẽ không xảy ra theo cách ngẫu nhiên tình cờ hay gượng ép, mà khởi đi từ ý hướng ngay lành, sự chân thành xin chịu phép rửa tỏ lòng thống hối ăn năn quay về với Thiên Chúa.


Hơn lúc nào hết, muôn dân thiên hạ và đặc biệt những tâm hồn ngay lành luôn cần những ngôn sứ như thánh Gio-an Tẩy giả đơn sơ, khổ hạnh, sáng suốt... gợi hướng cho họ đến với Thiên Chúa, Đấng là con đường là sự thật và là sự sống.


II. ĐÓN NHẬN


Thiên Chúa đã dùng thánh Gio-an Tẩy giả để chuẩn bị lòng người nên thanh sạch mở lối đón chờ Đấng Cứu Thế.


Do lời giới thiệu của thánh Gio-an Tẩy Giả, nhân loại phải hướng đến Đấng Cứu Thế là Đấng quyền năng sẽ thanh tẩy họ trong Chúa Thánh Thần và trong lửa (x. Lc 3, 16). Đấng ấy, tuy vô tội nhưng đang hòa mình trong dòng người tội lỗi, khiêm tốn nhận phép rửa sám hối của thánh Gio-an Tẩy giả, hầu thống hối thay cho kẻ tội lỗi...


Đến đây, sau giai đoạn thánh Gio-an Tẩy giả chuẩn bị lòng người đón nhận Đấng Cứu Thế, thì chính Đấng Cứu Thế sẽ trực tiếp chuẩn bị cho con người đón nhận sự sống mới trong Thiên Chúa


Đấng Cứu Thế đã khởi sự làm gì để ban cho của con người sự sống mới?


Người đã cầu nguyện!


Cầu nguyện chính là lúc Đức Giê-su tiếp xúc với Chúa Cha. Khi ấy, trời đã mở ra, có tiếng Chúa Cha giới thiệu công khai Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa; và lúc ấy, Chúa Thánh Thần cùng xuất hiện. Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hoạt động để tái tạo con người. Cuộc tạo dựng mới thật kỳ diệu.


Trong cuộc tạo dựng mới, con người đi vào chương trình của Ba Ngôi Thiên Chúa. Họ được đón nhận phép rửa của Đấng Cứu Thế. Nhờ vậy, họ sẽ dìm mình vào trong sự chết và phục sinh của Chúa Con (x. Rm 6, 4-8), được Chúa Thánh Thần thúc đẩy để kêu lên với Chúa Cha " Ap-ba Cha ơi!" (x. Gl 4, 6). Từ đó, họ sẽ có những biến chuyển tích cực trong tâm linh và tâhn xác, thể hiện bằng một đời sống mới.


III. SỰ SỐNG MỚI


Được tái tạo, người tín hữu trở nên thụ tạo mới (2Cr 5, 17), thông phần vào bản tính Thiên Chúa (2Pr 1, 4), trở nên thân thể trong Đức Ki-tô (Rm 12, 15), được gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cr 6, 19). Nhờ vậy họ sẽ:


- Cảm nhận một sức sống bừng lên mãnh liệt. Sự sống tự nhiên trở nên sống động, tràn đầy niềm vui.

- Từ bỏ lối sống vô luân, những đam mê trần tục, phản Tin Mừng... của con người cũ, nếp sống xưa...
- Chấp nhận sự thanh luyện cần thiết để trở nên người lính giỏi của Thiên Chúa.
- Liên tục hoán cải để kịp thời sửa chữa những thái độ và hành vi tội lỗi, hầu luôn nhận ơn tha thứ và bình an.
- Làm việc lành, hy sinh hãm mình ... hầu khơi lên lòng thống hối cho những người lầm lỗi khuyết điểm...
- Dấn thân sống bác ái yêu thương, hòa điều với cộng đồng nhân loại: vui với người vui, khóc với người khóc.
- Thân thiện với môi trường thiên nhiên là chính công trình tay Chúa sáng tạo.
- Liên lỉ cầu nguyện, tiếp xúc với Thiên Chúa xin Chúa thứ tha cho bản thân và nhất là cho những ai tội lỗi khuyết điểm, chối Chúa, chống Chúa hoặc chưa biết Chúa ...
- Sống công chính, thao thức tìm kiếm thánh ý Chúa trong niềm cậy trông hy vọng và phó thác.
- Tích cực loan báo Tin Mừng cứu độ lan tỏa đến khắp cùng bờ cõi trái đất để thế giới cảm nghiệm về ơn cứu rỗi, về tình yêu Thiên Chúa thể hiện tuyệt vời nơi Chúa Giê-su.

Trở nên thụ tạo mới trong cuộc tạo dựng mới, người tín hữu được mời gọi liên tục biến đổi và không ngừng phát triển sự liên hệ với Thiên Chúa. Cùng muôn loài muôn vật, họ ngóng chờ ngày Thiên Chúa bày tỏ vinh quang (x. Rm 8, 19), ngày được Thiên Chúa cứu độ cả thân xác (x. Rm 8, 23).


***

Trong thân phận con người, Chúa Con khiêm tốn đón nhận phép rửa; trời đã được mở ra, Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện ban cho muôn loài muôn vật một cuộc tạo dựng mới.

Được tái tạo, người tín hữu đón nhận chính sự sống được Thiên Chúa phục hồi. Nhờ vậy họ sẽ có những chuyển biến tích cực trong đời sống tự nhiên và siêu nhiên.


Muôn loài muôn vật đã được tái tạo, nhưng không phải ai cũng nhận ra điều này. Người tín hữu mang trọng trách cùng Thiên Chúa tiếp tục tạo dựng, thể hiện qua việc cảm hóa thế giới bằng gương sáng và đời sống tốt lành của mình.

Lm. Jb Nguyễn Minh Phương, C.Ss.R

SỐNG MẦU NHIỆM THANH TẨY
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Bí tích là gì ? Nhớ lại những này còn thơ bé, hơi bị vất vả để "gặm nhắm" những trang giáo lý trong quyển "Bổn đồng ấu". Bài học khá gây ấn tượng nhưng cũng hết sức trừu tượng đó chính là loạt bài Bí tích. Bổn đồng ấu dạy rằng: Bí tích là dấu chỉ Chúa Giêsu đã lập để thông ban cho ta ơn bên trong ! dấu chỉ là dấu chỉ như thế nào và ơn bên trong là ơn ra làm sao ? Quá khó hiểu cho đầu óc còn thơ dại.

Lớn lên một chút, được các anh các chị hướng dẫn viên chỉ dạy: bí tích là những dấu chỉ hữu hình nhờ đó chúng ta được lãnh nhận ơn sủng của Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Đây là những phương tiện cứu rỗi hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập để ban phát ơn cứu độ của Người trong Giáo Hội là thân thể nhiệm mầu của Chúa. (x. SGLGHCG số 774).


Điều kiện quan trọng để lãnh cách hiệu quả bất cứ bí tích nào, là phải có đức tin, tức là tin có hiệu quả thiêng liêng thật sự của bí tích muốn lãnh nhận hợp pháp trong Giáo Hội. Thí dụ, khi lãnh bí tích Thánh Thể, tức là rước Mình Máu Chúa Kitô, thì phải tin rằng có Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu nho; nếu không, việc rước Chúa sẽ là vô ích. Cũng vậy, khi đi xưng tội, nếu hối nhân không tin có Chúa Giêsu hiện diện và tha tội cho mình qua tác vụ của một linh mục, dù là bất xứng dưới mắt người đời, thì việc xưng tội sẽ không mang lại lợi ích nào cho hối nhân.


Chính vì thiếu điều kiện đức tin này, nên có người đã nói: tôi được rửa tội rồi mà có thấy mình được "tái sinh" ở chỗ nào đâu, tôi vẫn thấy tôi nguyên vẹn như cũ ! hoặc "sau mỗi mùa chay và tuần thánh, tôi đâu có thấy mình chết đi và được sống lại với Chúa Kitô Phục Sinh như Giáo Hội nói đâu"!


Chỉ có đức tin mới cho phép ta tin có sự đổi mới trong tâm hồn sau khi nhận lãnh bí tích rửa tội, nhờ đó tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân được tẩy sạch và đươc tái sinh trong sự sống mới, tức là "mặc lấy Chúa Ktô" như Thánh Phaolô đã dạy (x. Gl 3, 27).


Với những người không tin thì họ không thể lãnh nhận được các bí tích. Với những người không Nhìn vào phép rửa tội làm sao có thể tin được. Với một chút nước và với lời đọc bỗng dưng người ta lại được trở thành con cái Chúa. Thế mới gọi là mầu nhiệm. Sau khi lãnh nhận mầu nhiệm Thanh Tẩy - mầu nhiệm Phép rửa thì người nhận sẽ được ơn của mầu nhiệm ấy để đủ sức sống mầu nhiệm ấy một cách tốt đẹp như lòng Chúa mong muốn.


Phép rửa là cửa đưa vào sự sống và Nước Trời. Đó là Bí tích đầu tiên của Luật mới mà Chúa Kitô hiến cho mọi người để được sống đời đời. Đó cũng là Bí tích Người đã trao cho Hội Thánh cùng với Tin Mừng khi Người truyền cho các Tông Đồ "đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần". Vì thế, phép rửa là bí tích của đức tin: chính đức tin con người được Thánh Thần soi sáng, bày tỏ để đón nhận Tin Mừng của Chúa Kitô. Vì thế, điều mà Hội Thánh tha thiết mời gọi đó chính là lòng tin, thụ nhân cần có một đức tin chân thật và sống động, để theo Chúa Kitô và bắt đầu hoặc xác định lại lời cam kết trong giao ước mới.


Ngày hôm nay, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu sứ vụ công khai của mình, Chúa Giêsu đã chịu phép rửa cùng với dân sau khi nghe lời của Gioan rao giảng. Hành động của Chúa Giêsu hôm nay như công nhận và công khai lập phép Thanh Tẩy. Hành động này như làm gương cho những ai muốn trở thành con cái Chúa, trở thành chi thể mầu nhiệm của Hội Thánh.


Sau khi nghe giảng, sau khi đón nhận Tin mừng nếu như thì người nghe tin nhận thì họ sẽ nhận nghi lễ thanh tẩy. Nghi lễ thanh tẩy, vừa tượng trưng cho, vừa xác nhận một sự thay đổi đang xảy ra trong tâm hồn những người nghe (Cv 2, 37-41; 16, 34-39). Việc thanh tẩy này là bằng chứng của việc họ đón nhận sứ điệp họ đã nghe, và bằng chứng của việc họ được hiệp nhất với sự chết và sống lại của Đức Kitô. Nhờ Ngài, họ chết đi đối với tội lỗi và được tái sinh vào trong một cuộc sống mới (Cv 8, 12-13; 16, 32-34). Đối với nhiều người trong họ, đây quả thực là một khởi đầu cho một cuộc sống, và một nếp sống mới. Ơn cứu độ là một cái gì đó rất thật đối với họ: họ được giải thoát khỏi một lối sống họ đã quen, và họ kinh nghiệm được ơn cứu độ cả trong việc thay đổi thái độ và trong việc gia nhập cộng đoàn vừa mới được thành lập.


Nghi lễ bí tích đặc biệt nhất là Bí tích Thanh Tẩy là nghi lễ đặt tay. Sách Công vụ kể lại, ngay sau khi Đức Kitô hiện ra lần cuối, một vài người trong các đồ đệ Ngài đã trải qua một kinh nghiệm tôn giáo hết sức sâu sắc làm thay đổi toàn bộ cuộc sống họ. Đó là dịp lễ Ngũ Tuần của người Do thái, nhưng kể từ ngày ấy, lễ này đã thành một lễ của Kitô giáo, lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, và cũng là "ngày khai sinh ra Hội Thánh Công giáo".


Sách Công Vụ cũng cho thấy rằng lúc ấy các môn đệ đang ở trong phòng, họ nghe thấy những tiếng như thể cuồng phong, và họ thấy những lưỡi lửa xuất hiện trên đầu mỗi người. Bỗng họ thấy có một cái gì đó đang thay đổi từ bên trong họ, và họ được đầy tràn một thần khí mới. Đó cũng là thần khí đã thấm đẫm trên Chúa Giêsu. Họ tin rằng đó là Thần Khí Thiên Chúa.


Con người cũng có khả năng đem cho con người niềm hân hoan, hy vọng và can đảm như thế khi họ được chứng kiến những gì đã xảy ra cho thầy họ, vậy ta phải hiểu thế nào về những gì đã xảy ra cho các tông đồ trong những ngày ấy? Con người có thể làm cho các môn đệ diễn tả những gì đang xảy ra cho họ bằng một thứ ngôn ngữ họ chưa hề được nghe chăng? Như thế sự kiện này chắc chắn phải do chính Thiên Chúa và Thần Khí Ngài (xem Cv 2, 1-4).


Điều ngạc nhiên hơn đối với những người đón nhận Tin Mừng là họ có thể trở nên công cụ đem Thần Khí ấy cho người khác. Họ bắt đầu công bố Tin Mừng về Chúa Giêsu cho tha nhân, và ai đã đón nhận Ngài là Chúa, đều được thánh tẩy trong danh Ngài. Họ sẽ đặt tay trên người ấy và xin cho người ấy được tràn đầy Thánh Thần như họ. Và điều kỳ diệu họ xin đã được chấp nhận. Người ấy sẽ có kinh nghiệm về việc được tràn đầy một Thần Khí mới. Và đôi khi họ còn được ngợi khen Thiên Chúa bằng các thứ tiếng lạ (Cv 19, 4-6). Việc đặt tay này thường xảy ra ngay sau khi Thánh Tẩy, nhưng thỉnh thoảng cũng phải chờ một thời gian (Cv 8, 14-17). Đặt tay chắc chắn là một hành vi bí tích. Vì đó là biểu tượng của một cái gì đó không thể thấy được, của việc Thần Khí đáp xuống trên một con người. Và đó cũng là một biểu tượng phát sinh hiệu quả. Và người ta có thể thấy được hiệu quả ấy trong thái độ của người ấy, và chính đương sự cũng cảm thấy hiệu quả ấy nữa. Vậy ý nghĩa của việc đặt tay chính là việc trao ban Thần Khí, thần khí tình yêu, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân hậu, tốt lành, trung tín, hiền lành, và tiết độ (Gl 5, 22-23). Đó còn là một khẳng định rằng Thiên Chúa đã đón nhận họ, vì Ngài đã trao ban cho họ cùng một Thần Khí mà Ngài đã ban cho Chúa Giêsu.


Hôm nay, khi nhận bí tích Thanh Tẩy, Chúa Giêsu được Thần Khí ngự xuống trên Ngài và rồi cũng chính Thần Khí ấy đã ở với Ngài trong mọi nẻo đường, trong mọi hành trình của cuộc đời. Với thái độ, với tâm tình hoàn toàn vâng phục Thánh ý của Chúa Cha, Chúa Giêsu hôm nay được Cha xác nhận: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con. Lời chân nhận của Cha hôm nay sao mà dễ thương quá, sao mà ấm cúng quá ! Cha với con và con với Cha ! Tình cảm giữa Cha và Con không còn khoảng cách nữa. Cha với Con là một. Thiển nghĩ điều mà Thiên Chúa cũng muốn nơi người tin cũng như là điều mà Chúa muốn nơi Chúa Giêsu đó là trở thành con yêu dấu của Ngài.


Nhận bí tích Thanh Tẩy nhưng sống bí tích Thanh Tẩy không phải là chuyện đơn giản. Phải luôn luôn nhờ ơn Chúa Thánh Thần thì ta mới có thể sống mầu nhiệm mà ta lãnh nhận khi chịu phép Thanh Tẩy được. Cũng như Chúa Giêsu, từng giây từng phút trong cuộc đời của Ngài, Ngài luôn kết hợp mật thiết với Chúa Thánh Thần để chu toàn sứ vụ mà Chúa Cha trao phó.


Hôm nay, nhớ lại ngày Chúa Giêsu chịu Thanh Tẩy cũng là dịp chúng ta nhớ ngày chúng ta nhận phép Thanh Tẩy. Mang trong mình phận hèn yếu đuối, dễ chạy theo tà thần, dễ chạy theo những danh vọng trần tục mà đánh mất đi ơn gọi cao quý là trở thành con Chúa cũng như hưởng vinh quang với Ngài. Xin Chúa ban thêm ơn của Thần Khí xuống trên cuộc đời mỗi người chúng ta để chúng ta sống sao cho tròn bổn phận, cho đẹp lòng Thiên Chúa Cha như Chúa Giêsu đã sống.

Anmai, CSsR

CON ĐƯỜNG YÊU THƯƠNG KỲ DIỆU
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Để mạc khải tình yêu cho muôn loài, Con Thiên Chúa đã làm người. Để bày tỏ tình yêu đến cùng với con người, Thiên Chúa chọn con đường đồng thân với nhân loại. " Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta"( Ga 1,14 ). Không chỉ mang lấy kiếp người, Con Thiên Chúa còn mang vào chính bản thân phận tôi đòi, phận tội nhơ của con người. Xếp mình vào đoàn dân đang tự nhận là tội nhân đến với Gioan Tẩy Giả trên bờ sông Giođan là một hành vi thật khó lý giải theo sự luận suy của lý trí. Con tim có lý lẽ của nó. Và chúng ta chỉ có thể hiểu động thái chịu phép rửa của Chúa Giêsu bằng con tim. Tuy nhiên, dưới ánh sáng lời mạc khải qua các bài đọc Thánh lễ Chúa chịu phép rửa, chúng ta có thể nhận ra mục đích của Đấng Cứu Độ khi để cho Gioan làm phép rửa trên bờ sông Giođan.

1.Tự nguyện liên đới với mọi người để yêu thương hết mọi người:


Hai từ liên đới gợi mở cho ta hình ảnh gắn liền đai lưng với nhau. Nói đến chung lưng đấu cật là nói đến những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ cần vượt qua. Chính vì thế không ai lại nói liên đới trong những thành công hay chung lưng trong những hoàn cảnh thuận lợi. Hoàn cảnh khó khăn, gian khổ nhất của con người có thể nói là khi gặp phải các sự dữ. Có những sự dữ do khách quan như thiên tai hay địch họa. Có những sự dữ lại do chủ quan là do bản thân tự gây ra cho chính mình. Dưới cái nhìn đức tin thì chỉ có một sự dữ đáng gọi là dữ, đó là tội lỗi. Các sự dữ khác chỉ có thể làm hại sự sống đời này, còn tội lỗi thì có thể làm thiệt hại cả sự sống đời này và cả sự sống mai sau.


Dù là Đấng vô tội, dù là Đấng ngàn trùng chí thánh, Chúa Giêsu vẫn muốn đồng phận với nhân loại chúng ta trong kiếp tội nhân. Khởi đầu bằng việc chung hàng với đoàn người tội lỗi và điều này đã làm đẹp lòng Chúa Cha: "Này là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha" ( Mt 3,17; Mc 1,11; Lc 1,22 ). Trong quá trình rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu không ngại ngần đến với những người tội lỗi và đồng bàn với họ, bất chấp những lời xầm xì của nhiều người nhóm biệt phái và luật sĩ ( x. Lc 5,29-32; 15,1-2 ). Người còn tự nguyện đứng về phía những người nghèo, những người bất hạnh, cô thế, kém phận, dĩ nhiên vẫn không từ chối lời mời của những người quyền quý, lớn vai hay nhiều vế trong xã hội ( x. Lc 7,36-50 ). Tất cả những sự việc ấy nói lên rằng Chúa Cứu Thế muốn bày tỏ tình yêu với hết mọi người.


2. Đi xuống tận cùng đáy sâu thân phận tội lỗi của kiếp người để nâng mọi người lên:


Tự dìm mình dưới dòng sông Giođan để cho thánh Gioan Tẩy giả làm phép thanh tẩy là quyết định khởi đầu của Con Thiên Chúa làm người khi công khai rao giảng Tin Mừng. Và điểm đến của quyết định ấy là cái chết trong phận một phạm nhân trọng tội. Con Chiên tinh tuyền của Thiên Chúa đã cúi mình xuống trước một Giuđa đã rắp tâm phản bội Thầy, trước một Phêrô lát nữa đây sẽ chối bỏ Thầy và trước cả nhóm môn đồ còn lại, vốn tham sinh, úy tử cách ích kỷ, sẵn sàng bỏ Thầy để giữ lấy mạng sống riêng mình. Người cúi xuống là để nâng con người lên.


Thiên Chúa không muốn bất cứ một ai trong nhân loại phải hư mất. Đấng Cứu độ đã đi xuống tận cùng của cảnh kiếp tội nhân. Và giờ đây không một ai, không một tội nhân nào là không có thể được tha thứ và cứu sống. Một tuơng lai tràn trề hy vọng đang mở ra cho từng người, cho toàn thể nhân loại. Nói như Đức cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận: " Không một thánh nhân nào là không có một quá khứ ( quá khứ lỗi lầm ), vì thế, chẳng có một tội nhân nào mà chẳng có một tương lai". Sự khả thể đang mở ra với nhân loại khi Đức Giêsu tự nguyện đồng phận với kiếp tội nhân của con người. Và điều khả thể này đã hiện thực cách rõ ràng với người tử tội bị treo bên phải Chúa Giêsu năm xưa: " Ta bảo thật với anh: Ngay hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta" ( Lc 23,43 ).


Vấn nạn đặt ra cho chúng ta hôm nay và mãi mãi:


- Không được phép ngã lòng về bản thân mình cho dù ta đang trong hoàn cảnh bi đát hay tồi tệ thế nào. Không một ai là ngoài tình thương của Thiên Chúa. Không gì có thể tách lìa chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự nguyện liên đới với chúng ta cho đến cùng ( x. Rm 8,38-39 ). Không một ai, không một tình trạng nào vượt quá quyền năng vô biên của Thiên Chúa, Đấng mà không có sự gì là không thể ( x.Mt 19,26 ), chỉ trừ người phạm đến Chúa Thánh Thần, tức là cố tình không đón nhận tình yêu cứu độ. Thiên Chúa có thể làm được mọi sự nhưng Người vẫn tôn trọng tự do của con người, một món quà vô giá mà Người đã ban cho nhân loại. Mọi sự đều là có thể cho người luôn biết hy vọng và nỗ lực vươn lên trong niềm tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa.


- Không được phép thất vọng về bất cứ một ai cho dù họ đang bê bối hay đáng chúc dữ dường nào. Biết bao người thời Chúa Giêsu rất đáng và đã bị Người chúc dữ thế mà vẫn được Người xin Chúa Cha tha thứ vì họ lầm chẳng biết ( x. Lc 23,34 ). Con người là hữu thể đang chuyển thành ( L'homme c'est l' être en devenir ). Chính vì thế, điều mà ta cần loại bỏ, cần xóa đi, đó là những định kiến của ta về tha nhân. Giữ mãi thành kiến không tốt về tha nhân là ta đang đóng đinh anh em mình bằng những chiếc đinh ác tâm, vô tình. Đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét ( x. Mt 7,1-5 ). Xin đừng quên chính khi đóng đinh tha nhân bằng định kiến là ta tự đóng đinh số phận của mình. Lời kinh nguyện duy nhất Chúa Giêsu dạy, nhắc nhớ chúng ta về sự liên đới với tha nhân như là một trong những điều kiện tất yếu để đón nhận hồng ân của Cha trên trời: " Lạy Cha chúng con..." ( Mt 6,9-15 )


Mừng mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa là tán dương tình thương của Chúa, một tình thương vô biên và diệu kỳ. Mừng mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa là phấn khởi và tích cực dưỡng nuôi niềm hy vọng vào Thiên Chúa giàu lòng xót thương, chậm bất bình và rất mực khoan dung. Thiên Chúa đã nên hữu hình nơi Đức Kitô, Đấng không chỉ "không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói", mà còn "mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm" ( Is 42,3; 7 ), Đấng đầy tràn Thánh Thần và đi đến đâu thì giáng phúc thi ân đến đó ( x. Cvtđ 10,38 ). Mầu nhiệm Chúa chịu phép rửa lại còn thôi thúc chúng ta tích cực đón nhận tha nhân để giúp nhau hoán cải, đổi mới và thăng tiến. Khoanh tay đứng nhìn hay cam chịu thúc thủ trước sự dữ là một thái độ "phỉ báng" hành vi cúi mình chịu phép rửa của chúa Kitô trên dòng sông Giođan. Ước gì được một lần trong đời, ta thầm nghe được lời Chúa phán: "Này là con yêu dấu của Cha, con đẹp lòng Cha", khi ta biết yêu thương nhau bằng con đường đi xuống (như nghĩa của từ Giođan).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

LỄ CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA: LIÊN ĐỚI VỚI DÂN
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Ðến nay tôi hãy còn nhớ hồi còn nhỏ đi học ở giáo lý, và khi bàn đến Phép Rửa của Ðức Giêsu, chúng tôi đã hỏi ông thầy giảng lúc bấy giờ: "Thưa thầy, tại sao Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa mà lại còn phải chịu phép rửa sám hối của thánh Gioan Tẩy Giả"

Trước khi nghe câu trả lời của ông thầy của chúng tôi năm xưa, chúng ta thử nhìn lại con người của Gioan Tẩy Giả: Ðó là một người mặc áo lông lạc đà, có nét mặt khắc khổ và nghiêm nghị, đi khắp đó đây trong vùng ven sông Gio-đan và loan báo sứ điệp đầy phẩn nộ của Thiên Chúa:
«Hỡi nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi cách chạy trốn khỏi cơn thịnh độ của Thiên Chúa sắp giáng xuống trên đầu các ngươi? Cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây rồi. Bất cứ cây nào không sinh hoa quả tốt, đếu bị đốn đi và quăng vào lửa !" (Lc 3,7+9). Thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng sự thịnh nộ của Thiên Chúa nhiều hơn là lòng nhân hậu của Người. Theo thánh nhân, người ta chỉ có thể tránh thoát được án phạt nghiêm minh và nặng nề của Thiên Chúa bằng sự sám hối tội lỗi và quay trở về cùng Thiên Chúa, qua phép rửa của ông tại bờ sông Gio-đan như dấu hiệu của lòng sám hối.

Nhưng điều đó có liên quan gì đến Ðức Giêsu?


Ông thầy giảng ngày xưa của chúng tôi đã trả lời cho câu hỏi đó một cách rất khéo léo, theo ông:
Dĩ nhiên, là Con Thiên Chúa, Ðức Giêsu không cần chịu phép rửa sám hối. Phép rửa đó đối với Người chỉ có giá trị như một sự bày tỏ lòng khiêm nhường công khai. Nhưng trọng tâm của biến cố Chúa chịu phép rửa là việc Chúa Cha công khai thừa nhận Ðức Giêsu «Ðây là Con yêu dấu của Ta, Ta rất hài lòng về Người !" (Mt 3,17). Thật ra, điều quan trọng đối với ông thầy giảng xưa kia của chúng tôi là việc chứng minh Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa, còn sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và phép rửa sám hối của ông xem ra không đóng vai trò quan trọng đối với cái hình ảnh về Ðức Giêsu.

Và những đứa học trò chúng tôi đã hài lòng với câu trả lời đó trong một thời gian rất lâu.


Một cách thành thật, có lẽ chính các bạn khi nghe thế chắc cũng đồng ý với chúng tôi, và không còn thắc mắc gì nữa về ngày lễ Chúa Chịu Phép Rửa hôm nay.


Nhưng rồi trong suốt thời gian học thần học, khi chúng tôi có dịp tìm hiểu về Ðức Giêsu Na-da-rét hơn; khi chúng tôi tập nghiên cứu và đào sâu ý nghĩa của bản văn có tính cách lịch sử và phê phán nhiều hơn, và khi chúng tôi tìm hiểu nguồn gốc cũng như truyền thống của Kinh Thánh một cách lịch sử hơn, bấy giờ câu trả lời ngày xưa của ông thầy giảng là chưa đủ, tức nếu coi biến cố Chúa Chịu Phép Rửa tại bờ sông Gio-đan chỉ có giá trị như một kiểu bày tỏ công khai sự khiêm tốn và chỉ có được ý nghĩa khi có tiếng từ trời phán ra mà thôi.


Vì thế, hôm nay tôi muốn mời các bạn, chúng ta cùng hướng tầm nhìn của chúng ta về thánh Gioan Tẩy Giả và phép rửa thống hối của ông nhiều hơn.


Trước hết, thánh Gioan Tẩy Giả là ai? Sứ điệp của ngài là gì? Phép rửa của ngài có giá trị thế nào?


Mặc dầu, về mặt lịch sử, chúng ta biết rất ít về nhân thân của Gioan Tẩy Giả, nhưng dựa theo nguồn sử liệu Do-thái và lương dân, chúng ta cũng có thể nêu lên được vài nét về sứ điệp và cách hành xử của thánh nhân.


Chúng ta biết rằng giữa thời gian vào các năm 167 trước công nguyên với cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê-ô, và năm 70 sau công nguyên với cuộc cuộc chiến tranh Do-thái và hậu quả là việc tàn phá đền thờ Giê-ru-sa-lem, cho đến năm 135 sau công nguyên với cuộc nổi dây của người Do-thái do Bar Kochbar cầm đầu, thì ở thung lủng Gio-đan đã có rất nhiều phong trào rao giảng sự sám hối kèm theo phép rửa. Mục đích của các phong trào sám hối đó là kêu gọi toàn dân hãy quay trở về với Thiên Chúa Gia-vê. Bởi vì theo các vị rao giảng sự sám hối đó, sở dĩ nền chính trị của dân tộc Do-thái bị rơi vào tình trạng tồi tệ và suy thoái như vậy, tức cả đất nước bị nằm dưới ách đô hộ tàn bạo của đế quốc Roma, là vì dân tộc đã xa lìa Thiên Chúa và không còn tuân giữ các giới răn của Người nữa. Vì thế, nếu toàn dân không sám hối và quay trở lại cùng Thiên Chúa Gia-vê - đó cũng là sứ điệp của các Tiên Tri -, thì sẽ không thể tránh khỏi được án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa được.


Giữa các vị giảng thuyết sự ăn năn sám hối đó, Gioan Tẩy Giả là người quan trọng và có ảnh hưởng mạnh nhất. Khiến cho cả những tầng lớp lãnh đạo tôn giáo cũng như chính trị phải kiêng nể. Nhưng việc thánh nhân chỉ trích thẳng thắn và gắt gao bạo vương Hê-rô-đê An-ti-pa về tội loạn luân công khai của y (x. Mc 6,18) đã khiến cho thánh nhân phải trả bằng một giá quá đắt là chính mạng sống mình. Ðối với Gioan Tẩy Giả, dấu hiệu của sự sám hối là việc chịu phép rửa tại sông Gio-đan. Ðể cho Gioan Tẩy Giả - người đã được Thiên Chúa sai đến - rửa tội cho, có nghĩa là để cho chính Thiên Chúa biến đổi mình. Và chỉ những ai chịu phép rửa đó, mới có được cơ may thoát khỏi được án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa. Phép rửa sám hối của Gioan Tẩy Giả là điều tối cần duy nhất. Và trong thực tế: Toàn dân đã kéo về bờ sông Gio-đan để được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho.


Còn việc Ðức Giêsu đã để cho Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho là một biến cố lịch sử, nghĩa là một điều đã thực sự xảy ra. Nhưng tại sao Người lại làm như vậy? - Ðức Giêsu luôn giữ một mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sống Do-thái của Người. Vâng, Người có một quê hương và một nơi
« chôn nhau cắt rốn" cụ thể. Người luôn gắn bó với dân tộc của Người, luôn gắn bó với lịch sử và với tôn giáo của dân tộc. Ðức Giêsu là một người Do-thái thực sự, nói tiếng nói của dân tộc Do-thái, tinh thông lịch sử dân tộc. Người suy tư và hành động, cảm xúc và hy vọng, v.v... hoàn toàn như tất cả mọi người Do-thái khác, và cũng như họ, Người luôn đặt nặng hạnh phúc dân tộc lên hàng đầu.

Vì thế, đối với Ðức Giêsu, những phong trào sám hối và làm phép rửa của dân tộc Người không phải là điều xa lạ. Và Người không hề coi thường hay dửng dưng trước niềm tin của các đồng bào của Người. Người không sống ngoài lề cộng đồng đức tin. Người đã quan tâm tới phong trào của Gioan Tẩy Giả một cách đặc biệt, vì chắc chắn Người đã nhìn nhận Gioan Tẩy Giả là một con người hoàn toàn đặc biệt và đồng thời cũng rất đánh giá ông. Người đã phải cảm phục trước sứ điệp nghiêm chỉnh và chân chính của Gioan Tẩy Giả và vì thế Người đã để cho ông làm phép rửa cho: Người muốn liên đới với dân !


Bởi vì Ðức Giêsu rất quan tâm tới hạnh phúc của dân tộc Do-thái của Người - và đó cũng là điều dễ hiểu - nên Người đã xếp hàng với đoàn người đông đảo, những người muốn tránh cho dân khỏi án phạt tiêu diệt của Thiên Chúa. Người đã hòa mình vào với đoàn dân chúng, những người hoàn toàn tự nguyện sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa.


Dĩ nhiên, trong Lễ Chúa Chịu Phép Rửa của người Kitô giáo chúng ta, chúng ta còn cần phải có những bước tới gần Ðức Giêsu hơn nữa, chứ không chỉ dừng lại ở biến cố lịch sử, hầu cho việc chấp nhận phép rửa sám hối của Gioan Tẩy Giả nơi Ðức Giêsu không mất đi những giá trị đặc biệt của nó.


Ðối với tôi, một câu viết trong bài Tin Mừng hôm nay có một giá trị rất quan trọng:
« Cùng với toàn dân, Ðức Giêsu cũng đã chịu phép rửa" (Lc 3,21). Cùng với toàn dân ! Ðức Giêsu không bao giờ đòi hỏi luật trừ cho mình, nhưng Người cùng hòa mình và hành động liên đới với mọi người. Người không xuất hiện như một người cạnh tranh với Gioan Tẩy Giả, nhưng như một thính giả đầy kính trọng và hứng thú lăng nghe sứ điệp của ông. Và cả về sau nữa, khi Người còn bày tỏ sự liên đới của mình với toàn dân một cách tuyệt căn hơn, qua cái chết trên thập giá. Vâng, qua cái chết đau thương và ô nhục trên thập giá Ðức Giêsu đã bày tỏ sự liên đới tột cùng của Người, chẳng những với dân tôc Do-thái mà còn với toàn thể nhân loại tội lỗi.

Vậy, Phép Rửa của Ðức Giêsu là hành động liên đới với dân tộc của Người ! Ðối với sự liên đới cùng tận của Người với dân tộc tội lỗi, đối với sự liên đới vô cùng sâu thẳm của Người với chúng ta, qua cái chết trên thập giá, giờ đây chúng ta cùng dâng lời cảm tạ ơn Người qua hy lễ Thánh Thể: Hy lễ tạ ơn ! Amen.

LM Nguyễn Hữu Thy

SỰ KHIÊM NHƯỢNG TUYỆT ĐỈNH
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Không ai hiểu được thánh Gioan Tẩy Giả rửa tội cho Chúa Giêsu bằng cách dìm Ngài xuống nước hay lấy nước đổ trên đầu Ngài ? Tuy nhiên, nói gi thì nói nhưng việc Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi tay ông Gioan tẩy giả cũng nói lên con người khiêm hạ thẩm sâu của Chúa Giêsu. Đấng sẽ rửa người ta trong Thánh Thần và nước lại cúi rạp mình chịu phép rửa bởi tay Gioan Tẩy Giả. Vấn đề không phải là dìm hay rửa, hay xối nước lên đầu của Chúa mà nói lên ý nghĩa và giá trị của việc ông Gioan Tẩy Giả làm cho Chúa Giêsu. Tin Mừng nhất lãm đều đồng loạt ghi lại:" Đây là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người". Thì ra Chúa Giêsu khi khiêm hạ chịu phép rửa sám hối, Ngài được Thiên chúa Cha tôn vinh.
Phép rửa của Gioan đang làm trong dòng sông Giođăng là phép rửa thống hối, dành riêng cho các tội nhân. Đọc Tin Mừng nhất lãm chúng ta sẽ hiểu rõ câu chuyện Chúa Giêsu chịu phép rửa. Quả thế, cả ba Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca đều diễn tả chi tiết về việc Chúa xếp hàng cùng với đoàn người xin Gioan làm phép rửa cho mình. Chúa Giêsu là Đấng đại thánh, đáng lẽ không cần phải xin Gioan rửa tội cho mình. Gioan cũng hiểu điều đó. Do đó, Gioan đã nói với Chúa Giêsu:" Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa nhưng Ngài lại đến với tôi ". Chúa Giêsu muốn làm như thế để chứng tỏ lòng tuân phục tuyệt đối ý Chúa Cha. Chúa Giêsu là Đấng công chính. Ngài không cần phải được thanh tẩy vì Ngài hoàn toàn trong sạch, thánh thiêng. Chúa Giêsu hoàn toàn làm theo ý Chúa Cha. Do đó, Thiên Chúa đã long trọng tuyên bố Chúa Giêsu là con yêu dấu của Ngài. Người Cha nào cũng sung sướng và hài lòng khi con làm theo ý của mình. Làm được điều này điều nọ không quan trọng bằng việc làm theo ý của Cha khi người hiểu ý của Cha và tuân theo ý của Cha.

Chúa Giêsu lãnh nhận bí tích rửa tội gợi cho ta nhớ lại phép rửa tội ngày chúng ta được rửa tội. Rửa tội là chúng ta được làm con cái Chúa và con cái của Giáo Hội. Tuy nhiên, chúng ta có trở nên người con dấu yêu và làm hài lòng Thiên Chúa hay không còn tùy thuộc thái độ của con người. Ta có lắng nghe tiếng Chúa, hiểu ý Chúa và làm theo ý Chúa hay không? Đức Giêsu Kitô đã tự hạ, cúi mình thẩm sâu để làm theo ý Chúa Cha. Chiêm ngắm Đức Kitô tự ha là chúng ta hiểu được thế nào là tình yêu:" một tình yêu sâu thẳm, vô biên". Tình yêu hiến thân để cứu độ mọi người. Chiêm ngắm Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha nơi dòng sông Giođăng, chúng ta hiểu thế nào là tình yêu hiệp thông :" Con là Con của Cha. Hôm Nay, Cha đã sinh ra con"( Lc 3,22 ). Được rửa trong Chúa Thánh Thần, mỗi người chúng ta trở nên hiệp nhất với Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi người chúng ta được mời gọi lên đường phục vụ, sống yêu thương và chia sẻ với hết mọi người trong Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế.


Đức Giêsu, Đấng thánh tuyệt đối lại chịu hóa thân làm kiếp người. Phép rửa của Chúa Giêsu mời gọi mỗi người lên đường phục vụ và chia sẻ Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Được làm con của Chúa, chúng ta liệu có phải là" con chí ái " của Chúa hoặc được Chúa hài lòng hay không, tất cả đều tùy thuộc xem chúng ta có tìm hiểu ý Chúa và làm theo ý của Ngài hay không ?


Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn yêu mến phép rửa chúng con đã lãnh nhận và luôn luôn tìm ý Chúa, đồng thời thực hiện ý của Chúa.
Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Ý NGHĨA PHÉP RỬA
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

"Đông Ca-mê-lô" là tên một cuốn phim, trong đó nêu bật cuộc đối đầu liên tục giữa vị linh mục và ông thị trưởng. Xem ra hai bên lúc nào cũng hoạt động sát cánh bên nhau để phục vụ công ích, nhưng lúc nào cũng bảo vệ quan điểm của mình : một bên là niềm tin Công giáo, một bên là ý thức hệ vô thần. Một trong những cảnh trong đó dường như ông thị trưởng muốn thỏa hiệp với tôn giáo, đó là cảnh ông lén lút đưa đứa con mới sinh đến nhà thờ xin vị linh mục rửa tội. Nhưng đến khi đặt tên thánh cho con ông lại đưa ra một cái tên là Sta-lin.

Cũng như ông thị trưởng trên đây, ngày nay có nhiều người Công giáo đưa con mới sinh đến nhà thờ xin linh mục cử hành bí tích rửa tội mà không hiểu ý nghĩa tôn giáo cũng như các cam kết mà bí tích này đòi hỏi. Nói khác đi, người ta trở thành Ki-tô hữu mà không sống cho đến cùng niềm tin tôn giáo của mình. Ông thị trưởng trên đây cũng có thể nhìn vào bí tích rửa tội như nhiều người ngoài Ki-tô giáo. Họ xem nghi thức này như một thứ ma thuật, bùa chú, có hiệu năng bảo vệ con người khỏi nghịch cảnh và bất hạnh trong cuộc sống. Nhiều người khác cũng có thể nhìn vào bí tích này như một thứ mê tín dị đoan cần phải loại bỏ. Vậy đâu là ý nghĩa đích thực của bí tích rửa tội ?


Chúng ta hãy trở lại dòng sông Gio-đan bên Pa-lét-tin, nơi Chúa Giêsu đã đến dìm mình trong nước. Tại đây, Gio-an Tẩy Giả đã lôi kéo được đông đảo dân chúng đến nghe giảng và tỏ dấu sám hối bằng cách dìm mình trong nước. Chúa Giêsu cũng chen lẫn trong đám đông ấy để xin Gio-an thanh tẩy cho Ngài. Nhưng là một người không vương tội lỗi, Chúa Giêsu đến dìm mình trong nước không phải để thể hiện sự sám hối. Ngài muốn nói lên một ý nghĩa khác, đó là loan báo cái chết và phục sinh của Ngài : dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết. Trồi lên khỏi nước là loan báo sự sống lại.


Đây cũng là ý nghĩa bí tích rửa tội. Khi chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, Chúa Giêsu cũng muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ngài. Chúng ta vào đời khi được sinh ra, và vào đạo Thiên Chúa khi được rửa tội. Trong nghi thức rửa tội, chúng ta được dìm trong nước hoặc đổ nước trên đầu để chỉ việc tẩy rửa khỏi tội tổ tông và mọi tội riêng, được sinh lại làm con cái Thiên Chúa và gia nhập vào Giáo Hội. Vì thế, Giáo Hội coi bí tích rửa tội như một cuộc tái sinh : người được rửa tội trở thành một con người mới. Họ thấy đâu là ơn gọi và định mệnh của con người, đâu là ý nghĩa của cuộc đời.


Tôi thấy một số người không mừng sinh nhật ngày họ sinh ra vào đời, nhưng mừng ngày họ được chịu phép rửa tội. Thiết nghĩ điều này rất hay, rất đúng, vì đây mới là ngày trọng đại, cao quý, như Đức Giáo hoàng Pi-ô XI đã nói với hàng ngàn thanh niên nhân ngày kỷ niệm rửa tội của ngài : "Ngày cha chịu phép rửa tội là ngày cao quý nhất của đời cha. Cũng như ngày các con chịu phép rửa tội là ngày cao quý nhất của đời các con".


Nhờ phép rửa tội, chúng ta được mang tước hiệu Ki-tô hữu. Ki-tô hữu là người có Đức Ki-tô. Mỗi Ki-tô hữu là một Đức Ki-tô thứ hai. Mỗi Ki-tô hữu là một nối dài của chính Đức Ki-tô. Đó là tước hiệu cao cả của chúng ta. Tước hiệu ấy không chỉ sáng ngời trong những dịp lễ lạc, hội hè mà phải luôn chiếu tỏa trong từng giây phút của cuộc sống.


Nhưng tôi xin phép hỏi : Phải chăng nhiều người trong chúng ta đã là Ki-tô hữu một cách miễn cưỡng ? Đức tin chưa phải là niềm vui sống mà chỉ là một mớ những ràng buộc khiến chúng ta cảm thấy nặng nề, khó khăn ? Ngoài những ràng buộc của luân lý Ki-tô giáo và gánh nặng của những sinh hoạt đạo giáo, biết đâu nhãn hiệu Ki-tô lại không là đầu mối của biết bao kỳ thị, thiệt thòi trong cuộc sống của chúng ta ? Chúa Ki-tô đã mang lại cho chúng ta cuộc sống mới của những người con Thiên Chúa, cho dầu cuộc sống ấy có thể tạo ra nhiều ràng buộc, có thể đòi hỏi nhiều hy sinh và chiến đấu, có thể gây nên những phiền toái, thua thiệt...nhưng đó là giá để chúng ta đạt được niềm vui đích thực trong cuộc đời làm con Chúa.


Có thể nói đó là một ước mơ của người Ki-tô. Bình thường có một ước mơ để theo đuổi, đó là sức mạnh giúp người ta có thể thành công và kiên trì trong cuộc sống. Thì trong đời sống đức tin cũng thế, xem ra người Ki-tô cũng theo đuổi một ước mơ. Chẳng hạn : ngay từ khi còn nhỏ, thánh Đông Bốt-cô đã ước mơ được chăm sóc và hướng dẫn các trẻ em lang thang nơi đầu đường xó chợ. Cả cuộc đời ngài đã cống hiến để ước mơ ngày trở thành hiện thực. Mục sư Lu-thơ Kinh cũng đã từng ước mơ một ngày nào đó con cái của những người nô lệ da đen sẽ ngồi đồng bàn với con cái của những chủ nhân da trắng. Cả cuộc đời ông là một cuộc tranh đấu cho đến khi ngã gục, để thực hiện ước mơ ấy. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta cũng đã có lần ước mơ được lên tới cổng thiên đàng. Nhưng khi thấy thánh Phê-tô không cho những người khốn khổ cùng được vào thiên đàng, thì mẹ đã trở lại trần gian để tranh đấu cho tới khi nào những người cùng khổ cũng được vào thiên đàng.


Đâu là ước mơ của chúng ta ? Đâu là động lực khiến chúng ta tiêu hao tất cả cuộc sống ? Đâu là lẽ sống của đời chúng ta ? Đó là một cuộc sống đúng danh nghĩa người Ki-tô. Đó là hạnh phúc nước trời. Đây chính là ước mơ, là động lực, là lẽ sống của đời chúng ta.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

ĐỨC GIÊSU CŨNG CHỊU PHÉP RỬA
Lc 3, 15 - 16. 21 - 22

Biến cố năm 1975 đã làm thay đổi số phận của biết bao nhiêu người trên mảnh đất thân yêu của chúng ta. Bản thân tôi cũng phải đối diện với một tương lai đen tối: các chủng viện đều bị đóng cửa, chẳng ai biết ngày nào mình sẽ được thụ phong linh mục. Với lòng hăng say nhiệt thành của tuổi trẻ, tôi đã sẵn sàng gác sách vở qua một bên, chấp nhận cảnh giãi nắng giầm mưa, sống những tháng ngày lao động vất vả, cực nhọc để chờ thời,...

Đối với một viên sĩ quan trẻ gần nhà tôi thì đây là một thảm cảnh, có thể nói là "lên voi xuống ngựa". Trước đây không lâu anh ta chẳng gì cũng là một anh hùng trên chiến trận. Ai ai cũng phải nể mặt. Trong nhà có người hầu hạ. Ra đường có kẻ đưa người đón. Bây giờ nhiều lúc phải rơi lệ vì sự bất lực của mình. Anh ta không biết phải làm gì để nuôi sống gia đình trong lúc này. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi!...


Thật ra cho đến nay nhiều người vẫn còn sống trong bất hạnh vì họ cố níu kéo những gì thuộc về quá khứ. Lẽ dĩ nhiên không ai phủ nhận họ một thời từng là người có danh có phận, từng làm ông nọ bà kia,.. . Nhưng một biến cố xảy ra giống như giông bão bất chợt. Nước mưa làm trôi đi lớp phấn son trên gương mặt, những vẻ hào nhoáng bên ngoài vuột khỏi tầm tay! Họ không dám nhìn vào chính mình, tìm cách trốn chạy vào trong vỏ ốc của mình. Nếu như hôm nay họ đưa mắt nhìn Đức Giêsu sắp hàng trong đám đông, chờ đợi đến lượt mình chịu phép Rửa, chắc chắn cách sống của họ sẽ thay đổi. Một nguồn an ủi lớn lao sẽ tràn ngập trong tâm hồn họ.


Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa đã trở nên giống phàm nhân (Pl 2,7). Ngày lễ Chúa chịu phép Rửa còn làm cho chúng ta hiểu rõ hơn về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể. Đức Giêsu đã xuống thế làm người. Hôm nay Người chấp nhận từ giã cuộc sống âm thầm lặng lẽ tại Nadarét, sẵn sàng đón nhận tội lỗi của chúng ta vào nơi mình, trở thành tội nhân. Qua phép Rửa Người biến đổi chúng ta thành tạo vật mới. Chúng ta tự hỏi: Tôi là ai mà được Thiên Chúa ưu ái đoái hoài tới?


Sau khi chịu phép Rửa Đức Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha. Người luôn kết hợp cùng Chúa Cha trong khi thi hành sứ mạng cứu chuộc con người. Qua đó Người cũng chỉ cho chúng ta làm thế nào để giữ tấm áo trắng ngày chúng ta chịu phép Rửa được luôn luôn tinh tuyền. Mỗi lần chúng ta dùng nước phép để làm dấu Thánh Giá, mỗi lần dâng tiếng hát lời kinh, mỗi lần chúng ta cầu nguyện thì cửa trời sẽ mở ra, chỗ bế tắc trong tâm hồn chúng ta cũng được khai thông. Chúng ta sẽ nghe lời Chúa nhắn nhủ: "Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con".


Phép Rửa nói với chúng ta rằng: Con cái do cha mẹ sinh ra nhưng không hoàn toàn thuộc về cha mẹ, bởi vì chúng ta còn là con cái của Thiên Chúa. Cha ông mình đã nói rất chí lý: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính". Không ai có thể tự nắm giữ vận mệnh của mình. Số phận của mỗi người đã được bàn tay đầy yêu thương quan phòng của Thiên Chúa an bài. Chúng ta tin rằng, con người do Thiên Chúa tạo dựng, mỗi người được Thiên Chúa trao cho một số khả năng và một sứ mạng. Với ơn Chúa giúp con người có thể dùng khả năng của mình để chu toàn sứ mạng đã được giao phó cho mình.


Mỗi biến cố xảy tới là một lời mời gọi chúng ta nhớ đến thân phận của mình sau khi chịu phép Rửa, mời gọi chúng ta nhìn lại con người của mình và canh tân đời sống. Khi ý thức được mình là ai thì chúng ta mới biết sống sao cho phù hơp với ý muốn của Thiên Chúa.

Phêrô Trần Minh Đức

(Nguồn vietcatholic.org)