Sidebar

Thứ Sáu
12.07.2024

Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên năm 2015

  1. Mệnh Lệnh
  2. Chúa Lên Trời - Con Ra Đi
  3. Chúa Thăng Thiên
  4. Lễ Thăng Thiên  
  5. Hãy Ði Rao Giảng Tin Mừng
  6. Về Đích
  7. Hướng Lòng Về Trời Cao
  8. Hướng Về Quê Hương Vĩnh Cửu Trên Trời
  9. Chúa Lên Trời, Ta Hãy Yêu Mến Những Sự Trên Trời
  10. Chúa Về Trời
  11. Chúa Lên Trời
  12. Xin Được Theo Chúa Về Trời
  13. Sống Mầu Nhiệm Chúa Lên Trời
  14. Phương Tiện Để Được Lên Trời
  15. Ngước Mắt Nhìn Trời
  16. Đường Về Trời
  17. Bình An Và Ra Đi
  18. Lễ Chúa Thăng Thiên
  19. Đưa Mắt Nhìn Trời, Không Quên Bổn Phận Dưới Đất!
  20. Lên Trời Là Lên Đường
  21. Sao Còn Mãi Nhìn Trời
  22. Sứ Mạng Của Người Kitô
  23. Trần Thế Là Con Đường Về Trời
  24. Trở Nên Một Trong Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi
  25. Lễ Chúa Giêsu Lên Trời
  26. Anh Em Sẽ Là Chứng Nhân Của Thầy
  27. Các Con Hãy Đi Rao Giảng Và Rửa Tội Cho Họ
  28. Phải Hiểu Thế Nào Khi Nói Chúa Lên Trời
  29. Sứ Vụ Lên Đường
  30. Lễ Chúa Giêsu Lên Trời

 

MỆNH LỆNH
Mc 16, 15 - 20

Khi được đọc về các thư của Phaolô tôi ấn tượng nhất là thư gởi giáo đoàn Thexalonica. Không phải vì yếu tố thần học trong thơ, nhưng là thài độ sống của những người Thexalonica lúc bấy giờ. Họ chỉ lo chờ ngày Chúa đến nên sinh ra lươi biếng, không làm việc, làm mất trật tự trong giáo đoàn. Chỉ biết lo chờ đợi để khỏi làm thái độ này đã bị Phaolô chỉ trích mạnh mẽ. Ngày nay, Có người chỉ biết có việc đạo. Sống dưới đất nhưng lòng trí để trên trời. Không tha thiết gì với những người chung quanh. Không tham gia những sinh hoạt xã hội. Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, có những người sống như chỉ biết có việc đời này, chỉ coi trọng những giá trị vật chất. chỉ biết có đời này. Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ này đều sai.Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.

Cũng vậy, biến cố Thăng Thiên không phải chỉ khép lại cuộc đời tại thế của Chúa Giêsu, mà còn mở ra một thời kỳ mới, và một sứ mệnh truyền giáo cho mỗi người phải thực thi, một trách nhiệm mới phải được hoàn thành, một hiện diện mới phải được đón nhận. Mà mệnh lệnh này được đón nhận từ chính Đức Giêsu: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Do đó, phụng vụ lời Chúa hôm nay vừa mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm Thăng Thiên, lại vừa đòi hỏi chúng ta đào sâu trách nhiệm tông đồ, trách nhiệm truyền giáo, trách nhiệm rao giảng Tin Mừng trong đời người Kitô hữu.

Trước khi xa rời các tông đồ, Đức Giêsu đã ủy thác cho họ việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới. Người còn hứa gửi Chúa Thánh Thần đến với họ, để giúp đỡ họ thực hiện được sứ vụ đó, bằng cách Ngài trao cho các tông đồ những đặc quyền làm phép lạ, mà chỉ có những người rao giảng lời Chúa mới thực hiện được. Đức Giêsu muốn các tông đồ rao giảng Lới Chúa bằng chính việc làm của các ông, qua những phép lạ mà các ông làm chính là một nhân chứng xác thực nhất.Ngày nay, công việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới tùy thuộc vào chúng ta. Phép lạ ngày nay, được thực hiện qua chính những nhà truyền giáo, các linh mục những người dám chấp nhận công cuộc rao giảng, phép lạ đó chính là những người chưa biết Tin Mừng biết được Tin Mừng. Những người nguội lạnh đươc ơn trở lại.

Chúa Giêsu đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài, nghĩa là Giáo Hội như một bàn tay nối dài của Chúa Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã đi lại, đã nói, đã làm nhiều điều tốt đẹp. Ngày nay, Ngài cũng muốn cho các hoạt động của Ngài được tiếp tục qua Giáo Hội. Sứ mệnh của Chúa Giêsu là một sứ mệnh thiêng liêng, là một đặc ân vĩ đại, nhưng cũng là một công việc dễ làm nản lòng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Cách thế tốt nhất để rao giảng Tin Mừng chính là bằng cách sống đời sống Kitô hữu. Nhưng sứ mệnh đó cần phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mệnh đó cho Giáo Hội, Chúa Giêsu muốn nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan báo Tin Mừng cho nhân loại.

Lạy Chúa, con tin Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong thế giới này. Xin Chúa ban tràn đầy Thần Khí Chúa xuống trên con để con có thể thi hành nhiệm vụ loan báo Tin Mừng mà Chúa đã ủy thác cho con. Amen

CHÚA LÊN TRỜI- CON RA ĐI
Mc 16, 15 - 20

Chúa Giêsu lên trời là Ngài chấm dứt sự hiện diện hữu hình ở trần gian. Nhưng đồng thời Ngài lại hứa ở cùng nhân loại cho đến ngày tận thế. Ngài ở cùng nhân loại trong Thánh Thần của Ngài. Như thế, Chúa Giêsu lên trời không phải là Ngài lìa xa con người nhưng là để Ngài hiện diện với con người theo thể thức khác, tuy vô hình nhưng phong phú hơn, tròn đầy hơn vì yếu tố không gian và thời gian không còn ảnh hưởng gì đến Ngài nữa.

Các bài đọc hôm nay đều có nhắc đến việc Chúa Giêsu lên trời. Nhưng thiết nghĩ, chúng ta không cần tưởng tượng hay bận tâm tìm hiểu Chúa Giêsu lên trời bằng cách nào, trong dáng điệu nào. Chúng ta chỉ cần tin tưởng vững vàng rằng: Chúa Giêsu đã sinh xuống làm người, đã sống với nhân loại như bao nhiêu người khác trong một khoảng thời gian, đã giảng dạy về Nước Trời, chịu khổ hình Thập giá vì tội lỗi con người, Ngài đã sống lại và lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa. Đó là niềm tin căn bản của chúng ta.

Kể từ năm 1966, thì Đức Giáo Hoàng Gioan 23 đã chọn ngày lễ Chúa Giêsu lên trời làm ngày Quốc tế truyền thông. Vì thế, hôm nay thay vì đào sâu Mầu nhiệm Đức Giêsu được tôn vinh, tôi xin được chia sẻ đôi điều về việc sử dụng truyền thông để loan báo Tin mừng trong thời đại hôm nay.

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy rằng: liền với việc Chúa Giêsu lên trời là mệnh lệnh ra đi truyền giáo “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo". Chúa Giêsu lên trời không phải biến cố của buồn sầu, của khóc than để rồi đóng kín cửa tâm hồn mình lại, nhưng trở thành biến cố của vui mừng vì Vị thủ lãnh của chúng ta đã lên trời để mở đường và mở cửa trời cho chúng ta về với Chúa Cha. Vì thế, chúng ta phải phấn khởi ra đi loan tin vui đó cho mọi người, để tất cả những ai tin vào Đức Giêsu sẽ nhận được cứu độ và được hưởng hạnh phúc trên trời cao: “Chúa về trời- con ra đi” là hình ảnh rất đẹp. Hai hành động, 2 lối rẽ khác nhau nhưng cùng một mục đích. Chúng ta có thể loan báo Tin mừng bằng nhiều cách, bằng nhiều phương thế khác nhau. Nhưng trong thời đại ngày hôm nay, việc sử dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin mừng là một phương cách rất phù hợp và rất tiện lợi. Vì thế, Giáo hội chọn ngày lễ Chúa Thăng Thiên làm ngày quốc tế Truyền thông thật là ý nghĩa vô cùng.

Chúng ta đã nghe nói nhiều đến cụm từ “bùng nổ thông tin” trong thời đại ngày hôm nay. Quả thật thời đại chúng ta đang sống đây là thời đại của truyền thông với những phương tiện tối tân nhất và nhanh gọn nhất, nào là điện thoại, điện tín, truyền thanh, truyền hình, Internet, máy fax . . . Nhờ những phương tiện truyền thông như thế mà con người cảm thấy trái đất như được thu nhỏ lại, con người cảm thấy được gần nhau hơn. Nhưng vấn đề của chúng ta bây giờ là làm thế nào để có thể sử dụng những phương tiện truyền thông đó vào việc loan báo Tin mừng cho hữu hiệu đây? Trách nhiệm của chúng ta trong sử dụng những phương tiện truyền thông cũng như những thông tin được tung ra khắp nơi như thế nào? Chúng ta hãy can đảm và sáng suốt đi vào thế giới truyền thông bằng tinh thần của người làm chủ thông tin và của con người tự do trước thông tin nhằm biết chọn lựa và chọn lọc thông tin cũng như biết nhận định và lượng giá chúng:

1. Chọn lọc thông tin:

Các phương tiện truyền thông ngày nay đặc biệt là Internet chứa đựng đủ mọi thứ chuyện trên đời: tốt cũng có, mà xấu cũng đầy tràn, thiên thần cũng có mà ma quỷ cũng nhiều. Vàng thau lẫn lộn. Vì thế, chúng ta hãy biết dùng tự do của mình để chọn lựa những thông tin tốt, những bộ phim hay, nhưng mẫu gương người tốt việc tốt, những tấm lòng vàng, hạnh các thánh, nhất là Lời Chúa cùng với các bài giảng . . . để giới thiệu cho người thân của mình, cho bạn bè, con cái của mình. Là một người trưởng thành, có trách nhiệm và tự do, chúng ta biết thông tin nào là hữu ích, trang Web nào là có lợi cho người khác, nhất là đối với trẻ em, học sinh và thanh thiếu niên . . .

Điều chắc chắn là nếu chúng ta biết chọn lựa những điều tốt, những chuyện thanh cao để đọc, để nghe, để nhìn thì tâm hồn chúng ta sẽ được nâng cao và được thanh thoát. Trái lại, nếu chúng ta chọn lựa những thông tin “rẻ tiền”, thấp hèn như phim truyện, sách báo khiêu dâm, đánh đấm theo kiểu xã hội đen thì tâm hồn và đầu óc của mình sẽ bị kéo ghì xuống, phẩm giá con người của mình cũng như của người khác bị xúc phạm. Trách nhiệm làm gương sáng của chúng ta, những người Kitô hữu trưởng thành trong vấn đề chọn lựa thông tin là rất lớn và hết sức nặng nề, vì cám dỗ của xã hội ngày nay đang bao vây chúng ta tứ phía.

2. Nhận định và lượng giá thông tin

Chúng ta biết rằng, những người làm chương trình truyền hình, chương trình quảng cáo . . . không phải chỉ nhằm mục đích đơn giản làm cho khán giả giải trí hay xem cho đỡ buồn mà thôi. Nhưng họ còn mục đích khác nữa là nhằm tác động lên trên ý chí của con người: muốn làm theo. Có một diễn giả ở Châu Phi nói rằng, ông không hiểu tại sao một bà mẹ Ruganda nghèo khổ đến vậy mà lại không cho đứa con nhỏ của bà được bú sữa mẹ và bà phải đi mua sữa hộp rất đắt tiền về cho con uống. Hỏi ra mới biết là bà xem trên truyền hình thấy người ta làm như vậy và được khuyên làm nên bà ta cũng bắt chước làm theo. Cho nên tác động khi xem những hình ảnh cũng như nghe những thông tin trên truyền hình hay trên các phương tiện nghe nhìn khác rất là lớn. Vì thế, chúng ta phải biết nhận định, biết lượng giá thông tin để xem đâu là điều chúng ta nên học làm theo, đâu là điều chúng ta nên tránh xa và loại trừ.

Có một câu thành ngữ nói rằng: “Không phải cái gì lấp lánh đều là vàng”. Vì thế, không phải tất cả những gì được mặc cho lớp áo thánh thiện, đạo đức, bác ái đều là những việc đẹp lòng Chúa cả đâu. Ma quỷ ngày xưa cũng dùng Lời Chúa để cám dỗ Chúa Giêsu trong Samạc, nhưng Lời Chúa ấy đã bị lạm dụng một cách tinh vi nhằm thử thách Thiên Chúa: “Rồi chúng nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá" (Mt 4,6). Ma quỷ ngày nay cũng thường núp bóng dưới những lớp vỏ đạo đức để xúi con người ta làm những chuyện đi ngược lại với tinh thần Phúc Aâm, sống kiêu căng và lười biếng. Có một chuyện kể rằng: “ Một ông hoàng kia rất đạo đức. Ngày nào ông cũng thức dậy lúc 5 giờ sáng để đọc kinh. Nhưng một hôm ông quên. Thấy vậy, tướng quỷ Satan đến đánh thức ông. Khi biết kẻ đánh thức mình là Satan, ông hoàng ngạc nhiên. Quỷ liền nói : “Tôi là ai, điều đó không quan trọng. Việc tôi đánh thức ngài là điều tốt. Ngài thấy không, ai làm việc lành cũng là người tốt cả.” “Nhưng không bao giờ quỷ làm điều tốt. Vậy nhân danh Thiên Chúa, mi phải nói rõ vì lý do nào mi đánh thức ta.” Bấy giờ quỷ buộc lòng phải nói thật : “Nếu ngài ngủ quên không đọc kinh sáng thì khi thức dậy ngài sẽ hối hận rồi khiêm tốn sửa chữa đề sống đạo tốt hơn. Còn ngày nào ngài cũng tỏ ra sốt sắng thì ngài sẽ kiêu căng tự mãn cho là mình đạo đức đủ rồi.”

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng: chúng ta cần hết sức cẩn thận trước những cám dỗ hào nhoáng của thế gian, cần tỉnh thức để nhận ra đâu là những giá trị đích thực theo tinh thần của Phúc Âm. Chúng ta cần ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần để chúng ta nhận diện tỏ tường những gì là phù hợp với phẩm giá của con người và người con của Chúa để ta hết lòng sống và làm chứng cho mọi người.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa lên trời để mở đường và dọn chỗ cho chúng con. Xin cho chúng con hết lòng phấn khởi và hăng hái trong cuộc sống trần gian này qua việc tích cực sống lệnh truyền của Chúa. Chúa về trời, con ra đi. Vâng con sẽ ra đi để loan báo Tin mừng bằng những khả năng Chúa ban và những phương tiện Chúa gửi đến cho nhân loại chúng con. Xin cho chúng con được sự sáng suốt để biết chọn lựa xem những gì là phù hợp và ích lợi cho việc thực thi trọn vẹn lệnh truyền của Chúa. Amen.

CHÚA THĂNG THIÊN
Mc 16, 15 - 20

Hôm nay, chúng ta mừng đại lễ Chúa Thăng Thiên, nghĩa là đại lễ Chúa Giêsu lên trời. Về mầu nhiệm này, người tín hữu chúng ta thường đặt một số câu hỏi như: Chúa Giêsu lên trời hôm nào? Hay Chúa Giêsu về trời rồi Chúa Giêsu ở đâu? Chính vì thế, hôm nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu những thắc mắc đó và mầu nhiệm thăng thiên có ý nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta?

Trong bài đọc 1, sách Tông đồ Công vụ cho chúng ta biết rằng: sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần trong 40 ngày. Và trong lần sau hết, sau khi dặn dò các môn đệ, Người về trời trước mắt các ông. Từ trước đến nay, chúng ta thường nghĩ như thế. Thế nhưng, cách suy nghĩ như thế không được đúng cho lắm. Vì, ngay sau khi sống lại thì Chúa Giêsu đã về trời.

Lý do thứ nhất là chính trong Tin Mừng Luca đã nói rằng: ngày thứ nhất, sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra cho hai môn đệ thấy trên đường Emmau. Cũng chiều hôm ấy, Người hiện ra cho các môn đệ khác và sau khi dẫn các ông tới gần Bêtania thì Người được rước lên trời ngay hôm đó (x. Lc 24, 1. 13. 50).

Lý do thứ hai là trong Tin Mừng Gioan còn nói rõ ràng hơn: ngày thứ nhất, sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra cho Maria Mađalêna. Và sau khi nói mấy lời, Người bảo bà để cho Người lên cùng Chúa Cha. Thế là Người lên trời ngay hôm ấy.

Nói cách khác, sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã lên trời ngay hôm ấy. Phục Sinh và Thăng Thiên là hai mầu nhiệm gắn liền với nhau như hai mặt của một đồng tiền. Như thế, chúng ta phải hiểu làm sao khi sách Tông đồ Công vụ nói rằng: “trong 40 ngày, Chúa Giêsu đã hiện ra nói chuyện với các Tông đồ” (Cv 1, 3). Thưa phải hiểu theo nghĩa này là Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại 40 ngày, có nghĩa là Chúa Giêsu lên trời hữu hình trước mắt các môn đệ, là chấm dứt công trình dạy dỗ, an ủi các Tông đồ sau cuộc Thương Khó và Phục sinh. Hay nói cách khác, đây là lần hiện ra cuối cùng, để không bao giờ Người hiện ra cách công khai nữa, cho đến khi Người trở lại trong ngày tận thế.

Một câu hỏi chúng ta cũng thường đặt ra nữa là: Chúa Giêsu về trời rồi Chúa Giêsu ở đâu? Thánh Phaolô nói rằng: Chúa Cha đặt Chúa Giêsu ngự bên hữu Ngài. Thế thì, Chúa Cha cũng có tay hữu, tay tả như chúng ta hay sao? Thưa dĩ nhiên là không, vì Ngài là Đấng thiêng liêng. Ơû đây, Thánh Phaolô chỉ mượn cách nói của con người để diễn tả về Thiên Chúa cho con người hiểu rằng: ngồi bên hữu Chúa Cha là ngự chỗ vinh dự nhất trên trời. Nói cách khác, Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha là nói rằng Chúa Cha tôn vinh Người một cách vô cùng đặc biệt.

Như thế, mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên, Chúa về trời có liên hệ gì đến đời sống chúng ta không? Thưa là có. Trong sách TĐCV, chúng ta thấy, trước khi từ giả các môn đệ để về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các ông trọng trách rao giảng Tin Mừng của Người và đã hứa ban cho các ông được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8). Và các môn đệ đã thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu. Các ông đã đi từ Giêrusalem, đã đi vào Samari, vùng đất mà người Do Thái cho là lai căn lạc đạo và đến tận Rôma là trung tâm thế giới lúc bấy giờ. Các môn đệ phải ra đi, chứ không phải đứng đó mà nhìn lên trời. Khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ đứng nhìn đăm đăm lên trời, cho nên các thiên thần phải nhắc các ông: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời?” Các ông phải trở về với hiện tại, phải nhìn xuống đất nơi môi trường mà mình đang sống để mà làm chứng cho Chúa Giêsu.

Là người môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải nhìn xuống đất để mà làm chứng cho Chúa. Thế nhưng, làm chứng về điều gì? Thưa, trước hết là làm chứng về sự kiện Phục sinh, chúng ta phải tin rồi đi loan báo Tin Mừng ấy để mọi người trở lại với Thiên Chúa, được thứ tha tội lỗi, được cứu thoát và được sống. Chúa Giêsu bảo các môn đệ phải làm chứng từ Giêrusalem, Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất, nghĩa là từ gần đến xa, cho người quen thuộc cũng như cho kẻ hận thù. Đối với chúng ta, có lẽ Chúa Giêsu cũng sẽ bảo chúng ta phải làm chứng từ gia đình hoặc họ đạo của mình cho đến xóm làng, thành thị. Cách làm chứng về Chúa cho người khác tốt nhất, cụ thể nhất, hữu hiệu nhất là bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta, nhất là bằng đời sống thể hiện tình thương của chúng ta. Do đó, chúng ta hãy sống tốt đẹp trong gia đình, làng xóm, trong họ đạo và với những người chung quanh, bất kỳ là lương hay giáo, có đạo hay không có đạo. Một đời sống đạo đức, chân thành, cởi mở, yêu thương là một tấm gương sáng trước mặt mọi người, đặc biệt là thể hiện tình yêu thương của chúng ta trong đời sống.

Chính vì thế, mừng lễ Chúa lên trời hôm nay, chúng ta không phải chỉ đăm đăm ngước mắt nhìn về trời để nuối tiếc, để tìm kiếm như các môn đệ ngày xưa, nhưng chúng ta phải nhìn xuống đất, nhìn vào môi trường mình đang sống, để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa Giêsu cho anh chị em chung quanh mình bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta. Chúa Giêsu đặt hết niềm tin tưởng nơi chúng ta, để rồi một khi chu toàn bổ phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về trời với Chúa của mình. Amen

LỄ THĂNG THIÊN  
Mc 16, 15 - 20

Hôm nay mừng kính Chúa về trời, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nước trời, về thiên đàng, về quê hương vĩnh cửu của chúng ta.

Những kẻ không có một niềm tin thì cho rằng chết là hết. Nhưng với chúng ta thì khác, cái chết chỉ là một khởi điểm cho một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Cái chết chính là khung cửa hẹp dẫn chúng ta vào quê hương nước trời. Ý tưởng về nước trời, về thiên đàng vốn được Kinh Thánh nói tới nhiều lần.

Trong Cựu ước, ông Gióp một con người khổ đau đã kêu lên: Tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi hằng sống và trong ngày sau hết, tôi sẽ từ bụi đất sống lại và tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.

Vua thánh Đavid thì xác quyết: Sống công chính tôi được nhìn thấy Chúa. Thức giấc rồi, tôi no thỏa thánh nhan.

Sách Khôn Ngoan diễn tả: Bấy giờ người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao .

Trong Tân ước, Chúa Giêsu khuyên nhủ cho chúng ta hãy thu tích cho mình những kho tàng ở trên trời, ở đó sẽ chẳng có mối mọt và trộm cắp: Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước trời, còn mọi sự khác sẽ được ban thêm cho các con.

Nhất là trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã yên ủi những người bị đau khổ, bị bắt bớ bằng niềm hy vọng nước trời: các con hãy mừng rỡ hân hoan vì phần thưởng của các con sẽ to lớn ở trên trời.

Và trong ngày sau hết, Ngài sẽ phán với những người lành: Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần thưởng nước trời đã được sắm sẵn cho các ngươi từ thuở tạo dựng thế gian.

Thánh Phaolô cũng nói: hiện nay chúng ta như đang nhìn vào gương, nhưng bấy giờ, chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt.

Vậy thì nước trời hay niềm hạnh phúc thiên đàng là gì? Tôi xin thưa: đó là sự chiếm hữu Thiên Chúa như thánh Phaolô nói: “Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy và trái tim chưa một lần cảm nhận được những gì Thiên Chúa dành cho những kẻ yêu mến Ngài. Tất cả những khổ đau trong cuộc sống hiện tại sẽ chẳng là gì cả, nếu đem so với hạnh phúc nước trời. Đó là nơi vinh quang, đó là nơi ánh sáng, đó là nơi ân thưởng cho những người đã trung thành phụng sự Chúa.”

Tuy nhiên, niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy không phải như là một món ăn quý giá đã nấu chín và chúng ta chỉ việc dùng mà thôi. Trái lại, chúng ta phải cố gắng, phải chiến đấu thì mới đạt tới.

Chúa Giêsu đã nói: chỉ những kẻ khỏe mạnh can trường mới chiếm được nước trời.

Thánh Phaolô đã diễn tả: Như các lực sĩ nơi thao trường, phải cố gắng giao đấu và phải giao đấu theo đúng những qui luật thìmới đạt được tấm huy chương vàng.

Có một em nhỏ bị đau nặng. Biết mình sắp chết, em nói với người mẹ: má ơi, khi con chết đi, thì má hãy mặc cho con bộ quần áo đẹp nhất nhé… Ngày rước lễ lần đầu, con đã mặc quần áo đẹp, thì ngày con về trời, con còn phải mặc đẹp hơn thế.

Hãy ra sức xa tránh tội, để khi xuất hiện trước ngai tòa Chúa, tâm hồn chúng ta trong trắng như tấm áo ngày rửa tội, nhờ đó mà chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào quê hương nước trời.

HÃY ÐI RAO GIẢNG TIN MỪNG
Mc 16, 15 - 20

Thông thường, ai có Tin mừng mà không muốn chia sẻ cho những người xung quanh, cũng như có ai đốt đèn rồi lại lấy thùng che ánh sáng lại. Chúa Giêsu đến cứu chuộc chúng ta thì người rất muốn Ơn Cứu Độ đó được loan truyền đến mọi người để họ được hưởng phúc lộc Ngài ban. Phúc lộc mà Ngài phải trả giá bằng chính mạng sống của Ngài.

Trước khi về trời, Ngài đã trao lại cho các Tông đồ sứ mệnh loan Tin mừng cho toàn thế giới để ai tin và chịu Phép Rửa thì được ơn cứu độ. Theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, biết bao người đã tiếp tục sứ mạng của các Tông đồ, đi rao giảng Tin mừng khắp nơi. Họ là những linh mục, tu sĩ tận hiến đời mình cho Nước Chúa, đáp trả triệt để lời mời gọi loan báo Tin mừng; họ là những người giáo dân nhiệt tình dấn thân phục vụ, hy sinh cầu nguyện, và làm chứng cho Chúa bằng đời sống của mình.

1. Việc loan báo Tin mừng:

Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 20 đã có biết bao Thừa sai đến truyền đạo, không ngại gian khó, hy sinh dù gặp khó khăn về ngôn ngữ, tập quán, có khi chịu sự hiểu lầm của vua quan mà tử vì đạo. Các ngài đã hiến thân cho Nước Chúa trên cánh đồng truyền giáo việt nam này. Đứng trước tấm lòng và sự hy sinh của các ngài, nhiều người Việt nam đã nhận ra tình yêu Chúa, trở nên những linh mục, tu sĩ, những kitô hữu đáp trả tiếng gọi của Chúa và đã thể hiện niềm tin của mình vào sự sống đời sau. Các Ngài sẵn sàng phục vụ cho Tin mừng và phần rỗi của tha nhân đến cùng. Ở Việt nam có 118 vị tử đạo đã được phong thánh và còn biết bao thánh nhân vô danh khác khác đã và đang làm chứng cho Nước Chúa. Chúng ta là con cháu cũng được kế thừa và tiếp tục làm chứng về niềm tin đó.

2. Việc hy sinh cầu nguyện :

Bên cạnh những linh mục tu sĩ phục vụ trong các họ đạo, còn có biết bao đan sĩ và những tu sĩ dòng kín đêm ngày ăn chay, hy sinh, cầu nguyện cho việc truyền giáo, cho thế giới nhận ra và sống theo chân lý. Điển hình như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Ngài thường dâng những hy sinh trong ngày cho Chúa để cầu xin cho việc rao giảng Tin mừng được sinh hoa kết quả dồi dào. Nhờ đó mà nhiều người được ơn trở lại. Sau này, ngài được phong làm bổn mạng các xứ truyền giáo vì đã xin ơn trở lại cho rất nhiều người, dù không đi rao giảng ngày nào. Ngài là tấm gương hy sinh cầu nguyện cho chúng ta noi theo.

3. Dấn thân phục vụ:

Hiện nay có biết bao tu sĩ thuộc các dòng tu khác nhau đang dấn thân phục vụ bằng nhiều cách khác nhau. Gần đây, dòng của Mẹ Têrêsa Calcuta chú tâm phục vụ những người bị bỏ rơi trong xã hội; nhiều nữ tu thuộc các dòng khác nhau đang hy sinh lo cho người bị AIDS. Tất cả những việc làm đó nhằm để sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mọi người chúng ta đều được mời gọi sống đạo gương mẫu, phục vụ tha nhân theo đấng bậc mình. Nếu chúng ta không trực tiếp truyền giáo thì hãy chu toàn bổn phận hàng ngày và sống đúng tinh thần bác ái như Chúa đã truyền dạy. Đó cũng là một cách nói về Chúa cho những người xung quanh.

Lạy Chúa Giêsu xin cho con biết sống tốt theo gương mẫu Chúa và làm chứng về Tin mừng Phục sinh của Ngài để mọi người nhận biết Chúa và qui hướng về Ngài mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống này.

VỀ ĐÍCH
Mc 16, 15 - 20

“Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa ” (Mc 16,19)

Trong tất cả mọi cuộc đua, cuộc thi. Điều mà người tham dự mong chờ nhất là được về đến đích, được cầm tấm huy chương vàng đầy danh dự. Kỳ vọng đó rất chính đáng và rất được hoan nghênh. Bởi nếu không có mục đích, không biết thi để làm gì thì chẳng ai muốn tham dự cho “mất công”. Nhưng rồi chúng ta cũng thấy có những người chơi dẫu biết mình không đạt thứ hạng cao nhưng họ vẫn cố hết khả năng để về đến đích. Đây quả là những con người dũng cảm, và cũng đáng hoan nghênh tinh thần thượng võ của họ.

Sống trên đời ai mà chẳng có một khát vọng, một ước mơ. Và vì điều đó mà con người cố gắng để điều mộng ước của mình thành hiện thực.

Người Kitô giáo có một mộng ước cao siêu hơn, mà nhiều người có thể cho là điên rồ, “lảng nhách”, không thực tế, mà cũng chẳng có tính khoa học. Đó là ước mơ được lên trời. Ở đây không phải là lên trời bởi những phi thuyền như các phi hành gia, nhưng là lên trời như chính Đức Giêsu đã lên trời, là lên cỏi sống vĩnh hằng – nơi không còn đau khổ và sự chết .

Đúng. Chúng ta có quyền đặc đích đến của chúng ta như thế. Nếu Đức Kitô phục sinh đem đến sự phục sinh cho chúng ta, thì Đức Giêsu lên trời cũng mở đường về trời cho chúng ta. Bởi chẳng phải Ngài đã từng nói: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con” sao? để Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó (Ga 14,3). Hơn nữa chúng ta biết rằng chúng ta được dựng lên là bởi và cho chính Chúa. Mục đích cuộc đời con người không gì khác hơn là tìm về với chính Đấng Tác tạo ra mình. “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (Eph 1,4).

“Hỡi người Galilê sao còn đứng nhìn trời?”(Cvtđ 1,11). Không phải các Tông đồ nuối tiếc vì phải xa Thầy, cũng không lo sợ vì sau khi Thầy ra đi rồi tương lai họ sẽ ra thế nào như lần Thầy bị quân dữ bắt đi. Nhưng lần nầy, lòng các Ngài đầy hân hoan, “ngây ngất nhìn về trời” (Cvtđ 1,9-10). Một cảnh tượng vinh quang chói lọi mà Gioan, Giacôbê, Phêrô đã từng chứng kiến (X. Mt17,1…). Đó không phải là một vinh quang ảo mà là một sự thật. Một sự thật mà Phaolô sau nầy cũng được chứng kiến khi ông được nhắc lên tầng trời thứ ba (2 Cr 12,2). Đến nỗi Phaolô đã quả quyết rằng: “Những đau khổ đời nầy không đáng là gì so với vinh quang đã hòng tỏ hiện cho ta” (Rm 8,18). Tất cả những điều đó đưa các tông đồ quyết tâm để đạt được Nước Trời. Cũng phải thôi bởi đó là nơi vốn đã dành sẵn cho con người.

Như vậy, mộng ước về trời không là một điều “sa sỉ” hay một ảo tưởng ngây thơ nhưng là một khát vọng chính đáng, là một điều tất yếu cho tất cả những ai mang trong mình một lương tâm trong sáng. Nếu Thiên đàng không là đích đến của chúng ta chẳng lẽ chúng ta chọn hỏa ngục? Giả thuyết như Pascal nếu không có Thiên đàng thì cũng chẳng hại gì. Ít ra ta cũng để lại tiếng thơm trên thế gian nầy nhờ vào một đời sống lành thánh. Chúng ta cũng “thánh hóa được bản thân, tha nhân, và thế trần” (Kinh Hiến Dâng).

Đức Giêsu về trời và Ngài đang chờ đợi chúng ta sum hợp với Ngài trên trời. Ngài cũng chẳng câu nệ, hay lựa chọn màu da, sắc tộc. Tất cả nhân loại đều được quyền vào Nước Trời nếu biết chọn Nước Trời làm gia nghiệp đời mình. Như Thánh Phaolô đã giải thích: “Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt phần thưởng chóng hư, trái lại chúng ta dành phần thưởng không bao giờ hư mất (1Cr 9,25). Nên Thánh nhân đã quyết định “chạy thẳng đến đích để chiếm được phần thưởng từ trời cao, Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Phil. 2,18).

Còn bạn, bạn quyết định thế nào?

HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI CAO
Mc 16, 15 - 20
Huệ Minh

Mở lại những trang thơ của nhà thơ Hàn Mạc Tử, ta bắt gặp bài thơ : "Những giọt lệ":

Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi!

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Bao giờ mặt nhật tan thành máu

Và khối lòng tôi cứng tợ si??

 

Họ đã xa rồi không níu lại

Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa....

Người đi một nửa hồn tôi mất

 

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

 

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

Tâm tình sao mà da diết quá !

Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

 

Người đi thì mặc kệ người đi chứ có mắc mớ gì đến ta, dính dáng gì đến ta mà hồn ta bỗng dại khờ ?

Nói như thế, ắt hẳn không thỏa đáng bởi lẽ là con người, bên cạnh lý trí, con người còn có những cảm xúc, tình cảm hết sức đặc biệt. Nhất là với những người thân quen, những ai đã hơn một lần gặp gỡ, hơn một lần sống chung, làm việc chung. Đặc biệt với người mà mình thương mến, khi xa cách sẽ có một cảm xúc khó tả và thật khôn lường.

Với những lẽ như vậy, ta hiểu được phần nào tâm trạng của các môn đệ khi xa cách Thầy mình. Khi chứng kiến cảnh Thầy lên trời, lòng cứ lâng lâng, cứ bâng khuâng nhìn mãi. Đang lâng lâng, đang bâng khuâng đó thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: "Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời".

Tiếc thương cũng rồi ! Đành thôi đã lên trời ! Còn đâu, ước mơ gì cũng thế !

Nếu ta là các môn đệ, ta cũng tiếc nuối, cũng nhớ nhung, cũng bâng khuâng nuối tiếc vì sự ra đi của Thầy Chí Thánh.

Nhìn vào cuộc đời các môn đệ, ta bắt gặp được những tình cảm hết sức tự nhiên, rất thật của con người. Các môn đệ tiếc nuối đó, đau đớn đó nhưng rồi nhờ ơn Chúa Thánh Thần, nhờ Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giêsu hứa sẽ gửi đến đã đồng hành, đã cùng hoạt động nơi các ông. Các môn đệ tưởng chừng như mất phương hướng, tưởng chừng như buông xuôi đó nhưng lại mãnh mẽ lên đường để loan tin mừng Phục Sinh cũng như loan tin rằng Chúa đã lên trời để gọi là dọn chỗ cho những ai muốn đi theo Ngài.

Biến cố lên trời thật sự là một biến cố mất mát dưới cái nhìn của trần gian, dưới cái nhìn của tình cảm con người nhưng việc Chúa Giêsu lên Trời "có lợi hơn cho anh em" như Chúa Giêsu đã từng nói với các môn đệ. Hẳn nhiên không ở lại mãi ở dưới đất với các môn đệ được. Và nếu cứ ở mãi dưới cái cõi nhân gian này thì cũng chẳng có gì để bàn, để nói cả.

Đọc và suy mầu nhiệm thứ hai trong mầu nhiệm Mân Côi mùa Mừng như thế này : Thứ hai thì gẫm Đức Chúa Giêsu lên Trời, ta hãy xin ái mộ những sự trên Trời ! Lời gẫm, lời xin ấy xem ra đơn giản nhưng thật sự là khó bởi lẽ ái mộ thì ai cũng có thể ái mộ bằng lời nói, bằng cái miệng của mình nhưng để sống mầu nhiệm Nước Trời không phải là chuyện giản đơn.

Thật khó khi ta sống trong cái thân phận làm người mà Chúa lại mời gọi ta hướng lòng về Trời cao mà Trời cao đó chưa ai thấy, chưa ai nếm, chưa ai biết cả. Có chăng chỉ biết qua lời mà Thiên Chúa nói nơi Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa, là Con Một của Thiên Chúa mà thôi.

Lời của Chúa Giêsu, sứ mạng của Chúa Giêsu khép lại ở trần gian nhưng đã mở ra một cửa ngõ khác là cửa ngõ về trời. Như Chúa Giêsu đã hứa là Chúa đi và dọn chỗ cho chúng ta. Chính vì vậy, ta lại hoàn toàn tin tưởng và lại ngong ngóng hướng về Trời cao, nơi Chúa đã dọn sẵn cho mỗi người chúng ta.

Quả thật là khó khi ta sống trong cái thân xác này mà lại đòi hỏi lòng hướng về Trời. Quá khó để sống tâm tình đó vì lẽ trong ta mãi mãi có sự giằng co của sự thiện và sự ác, giằng co của cái bám víu vào thực tại trần gian và cái làm cho ta bay bổng lên cùng Thiên Chúa.

Ta thấy, như cánh diều biếc, càng nhẹ nhõm thì càng dễ vút lên trời. Ngược lại, con diều nặng nề sẽ không dễ dàng hay dù có lên trời đi chăng nữa cũng sẽ chòng chành và sẽ dễ rớt.

Nghĩ về con diều, nhớ về con diều để ta nhìn đến phận người của chúng ta. Cuộc đời của chúng ta cũng như những cánh diều biếc như vậy. Càng nhẹ nhõm, càng thanh thoát thì ta càng dễ đến gần Chúa và ở bên Chúa hơn.

Nhìn vào cuộc sống, đôi khi ta mãi mê thế sự trần gian nhưng ta quên điều chắc chắn của đời người đó chính là ai ai trong chúng ta không thể nào thoát ra khỏi cái chết. Chính cái chết đã bắt buộc ta phải bỏ lại những cái gì mà ta từng trân quý, ta từng ấp ủ trong đời, ngay cả người mà ta gọi là cha, là mẹ, là vợ, là chồng, là con cái ... những người thân thương. Yêu lắm, thương lắm, nhớ lắm nhưng buộc lòng ta phải để lại chứ không ai có thể mang theo được. Và, dù người còn lại có yêu ta cỡ nào đi chăng nữa cũng không thể nào đi theo ta hay níu kéo ta được.

Thực tế là ta phải khép cuộc đời ta ở trần gian này tùy theo thánh ý Chúa cho ta sống bao nhiêu năm trên trần gian. Khi ta khép cuộc đời ở trần gian này ta bước qua ngưỡng cửa khác, ngưỡng cửa mới đó chính là ngưỡng cửa Nước Trời.

Nước Trời thật ra cũng dễ vào nhưng cũng rất ư là khó vào bởi lẽ Chúa Giêsu đã hơn một lần nói cho ta biết là phải vào cửa hẹp mới vào được Nước Trời, phải bỏ của cải thế gian, phải làm tôi Thiên Chúa, phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nước Trời.

Ngày hôm nay, mừng kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu lên Trời, ta không được dừng lại ở cái nhìn của trần gian, của con người xác thịt nhưng ta xin Chúa cho lòng ta hướng lên Trời thật sự. Lòng hướng lên Trời thật sự khi và chỉ khi ta bỏ bớt những đam mê của trần gian, những quyến rũ của trần gian.

Vẫn là con người mong manh mỏng dòn và yếu đuối, chính vì thế ta lại càng cần xin ơn Chúa hơn nữa để ta bỏ đi những gì là dính bén vào đời ta làm cho ta nặng nề và khó siêu thoát. Xin Chúa thêm ơn cho ta để dù sống trong cuộc đời này nhưng lòng ta luôn hướng về Quê Trời nơi quê hương đích thực của mỗi người chúng ta.

HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG VĨNH CỬU TRÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Trần Bình Trọng

Là con người sống trong không gian và thời gian, chúng ta thường suy nghĩ và tưởng tượng theo chiều kích của không gian và thời gian.

Vì thế, khi Kinh Thánh nói “Chúa Giêsu lên trời” chúng ta cũng dễ hình dung Chúa Giêsu như một “phi hành gia” hoặc như “người bay” tự động cất bổng mình lên trời, để rồi không biết dừng lại ở hành tinh nào khi ra ngoài quỹ đạo của trái đất? Vậy thì sau khi sống lại 40 ngày, Chúa Giêsu đi về phương trời nào? Các phi hành gia đầu tiên vào vũ trụ cho biết họ chẳng thấy trời, cũng chẳng thấy Thiên Chúa!

Thời Trung cổ, có hai tu sĩ tình cờ đọc thấy trong một cuốn sách cổ chép rằng: ở tận cùng trái đất sẽ có một nơi mà trời đất gặp nhau. Họ quyết định ra đi tìm cho bằng được điểm gặp nhau ấy và thề quyết sẽ không trở về nhà nếu không tìm ra nơi ấy, vì họ đã đọc được trong quyển sách cổ rằng tại điểm giao nhau giữa trời và đất, một cánh cửa sẽ mở ra và họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa tỏ tường. Họ vượt thác băng rừng, không quản ngại hy sinh. Cuối cùng thì họ cũng đứng trước giao điểm ấy. Với tất cả xúc động, họ đưa tay gõ vào cánh cửa hẹn hò, cánh cửa mở ra và họ bỡ ngỡ nhận ra đó chính là căn phòng của mình. Họ chợt hiểu rằng nơi gặp gỡ giữa trời và đất, nơi hẹn hò giữa Thiên Chúa và con người không gì khác hơn là chính cuộc sống hằng ngày của họ.

Chúa Giêsu “được rước lên trời”: đó là một lối nói của Kinh Thánh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay trở về với Cha. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã-từ-trời xuống” (Ga 3,13). Câu chuyện Chúa lên trời được sách Công vụ Tông đồ kể lại ở bài đọc 1 hôm nay là một kiểu nói bình dân để diễn tả một mầu nhiệm của Chúa Kitô Phục Sinh: ngay sau khi được Phục Sinh, nhân tính của Chúa Giêsu đã được tôn vinh rồi, hay nói cách khác, đã được vào trong vinh quang. Tuy vậy vinh quang này vẫn còn bị che khuất. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các môn đệ dưới dáng dấp của một người bình thường. Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu đánh dấu một bước chuyển mới. Từ này nhân tính của Ngài được đưa vào trong vinh quang Chúa Cha, được đặt ngồi bên hữu Chúa Cha.

Lễ Chúa Thăng Thiên không phải là một cuộc chia ly, tiễn đưa Chúa Giêsu vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan với Ngài. Chúa về trời là để có thể ở lại với mọi thời, mọi nơi. Điều duy nhất mất đi là chúng ta không còn có thể thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Nhưng chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của lòng tin. Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Tin Mừng hôm nay cho thấy các tông đồ có cảm nghiệm rằng “Chúa đang làm việc với họ và xác nhận lời họ rao giảng bằng những dấu lạ kèm theo” (Mc 16,20). Như thế sự vắng mặt hữu hình của Chúa Giêsu không cản trở việc Ngài tiếp tục hiện diện và hoạt động bên họ. Kitô giáo sống còn chính là nhờ Chúa Giêsu đang sống và hoạt động nhờ Thánh Thần của Ngài. Được tôn vinh trên trời không phải là để làm sứ vụ giữa lòng thế giới. Ngài là Thượng Tế cầu bầu cho chúng ta trên trời (Dt 7,25) và không ngừng thu hút, nâng dậy cả nhân loại (Ga 12, 32).

Mừng lễ Chúa Thăng Thiên là mừng ngày Đức Giêsu được tôn vinh. Có một con người mang tên Giêsu nay được hưởng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa. Lễ Thăng Thiên thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người. Tất cả chúng ta đều hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa, bên Chúa Giêsu, người Anh Trưởng. Trời là đích điểm của đời Kitô hữu. Nhưng trời đã bắt đầu rồi từ khi chúng ta bước vào vũ trụ của Chúa Giêsu Kitô, qua đức tin và các bí tích. Nói cho cùng, Kitô hữu chỉ có một cuộc đời. Chẳng có cuộc đời nào khác ngoài cuộc đời hiện tại và sẽ gắn liền với ta mãi mãi. Trời không khiến ta tránh né bổn phận ở trần gian. Trời không phải là nơi đến của một người chỉ biết chăm lo cho ơn cứu độ của mình một cách ích kỷ. Trời cũng không chỉ là phần thưởng cho con người, là sự “bù lỗ” cho những khốn khổ ở đời, là cớ khiến chúng ta tránh né việc xây dựng trái đất hay phá đổ bất công.

Sứ thần của Chúa hôm nay đã quở trách các môn đệ: “Hỡi người Galilê! Sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời?”. Các môn đệ đã hiểu ý. Các ông đã trở về với nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc dang dở của Chúa ở trần gian, làm chứng về tất cả những gì các ông đã được nghe, được thấy. “Các ông đã ra đi khắp nơi, rao giảng Tin Mừng cho mọi người; có Chúa cùng hoạt động với các ông, củng cố lời rao giảng bằng các phép lạ kèm theo” (Mc 16,20).

Rõ ràng, Chúa lên trời không làm cho các môn đệ lên trời, không làm cho các môn đệ tê liệt, không giải nghệ các ông, mà còn thúc giục các ông lập tức bắt tay vào việc xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian này và bảo đảm cho các ông thành công. Cũng vậy, đối với chúng ta ngày nay, Chúa lên trời nhắc chúng ta nhớ rằng: “Quê hương chúng ta ở trên trời… Anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời” (Pl 3,20; Cl 3,1). Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải “xuất thế”, phải xa lánh trần gian. Trái lại, cần phải nổ lực dấn thân “vào đời”, “nhập cuộc”. Có Chúa cùng hoạt động với chúng ta để “mở một tuyến đường lên trời từ mặt đất này” bằng những công việc xây dựng Nước Trời ngày này qua ngày khác; loại trừ những khổ đau, tội lỗi, tạo cho mọi người được sống ấm no, hiệp nhất, yêu thương nhau, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người. Đó là con đường lên trời của chúng ta.

Vui sướng biết bao: “Chúa vẫn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài không bao giời rời bỏ chúng ta. Thật là ích lợi cho chúng ta khi Ngài khuất mắt chúng ta về phương diện thể lý để chúng ta khi gặp Ngài hiện diện ở khắp mọi nơi mọi lúc: trong kinh nguyện và hoạt động, trong bí tích và trong anh chị em. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, Chúa đến ở trong chúng ta, ban nguồn sinh lực giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nước Trời ở trần gian này, để một khi Nước Trời được hoàn thành Ngài sẽ trở lại trong vinh quang đón chúng ta lên trời về với Chúa Cha.

CHÚA LÊN TRỜI, TA HÃY YÊU MẾN NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Hôm nay mừng Chúa lên Trời, vâng, toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả và nội dung gồm tóm trong những lời sau : "Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong... ". Và sau đó " Người lên Trời " (x. Cvtđ 1, 1- 11).

Các Tông đồ tận mắt chứng kiến cảnh Chúa lên Trời, lòng các ông ngây ngất dõi theo đến nỗi cần phải "có hai người mặt áo trắng đứng gần" (Cvtđ 1, 10) và nhắc nhở : "Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời?" (Cvtđ 1, 11). Sự kiện ấy cũng lôi kéo tâm hồn chúng ta lên với Chúa, làm chúng ta nhớ lại lời Chúa hứa trước khi về Trời, để Người ở đâu chúng ta cũng ở đó. Vì thế, chúng ta nuôi dưỡng lòng ái mộ những sự trên Trời và mong cả xác lẫn hồn về trời với Chúa. Đây là niềm vui lớn lao và tràn đầy hy vọng khi chúng ta hướng về tương lai trên hành trình dương thế.

"Đã đến giờ Chúa Giêsu rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha". Lời này được lặp đi lặp lại mỗi đoạn Tin Mừng trước lễ Chúa về Trời. Theo sự quan phòng trong kế hoạch đời đời của Thiên Chúa, Chúa Giêsu từ giã Đức Maria Mẹ Người và nhất là tâm sự với các môn đệ nhiều điều. Hôm nay Người bảo các ông : "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất" (Cvtđ 1, 8 ). Từ đây nhiệm vụ được ủy thác, đến lượt mình các Tông đồ phải thi hành cách trung thành.

Đang lúc chờ đợi Chúa Thánh Thần, Món Quà do Chúa Cha tặng ban, Ngài là sức mạnh của các Tông đồ. Chính Ngài hướng dẫn Giáo hội đi trên đường chân lý, Tin Mừng phải được rao truyền bởi quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải do sức mạnh hay khôn ngoan của người đời. Trước khi về Trời, Chúa Giêsu " đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa " (Cvtđ 1, 4). Người nói với các ông : "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật " (Mc 16, 15). Dựa trên lời Thầy, các Tông đồ có trách nhiệm phải loan báo Tin Mừng cho thế giới, làm phép cho họ, nói cho họ biết về Thiên Chúa để họ tin mà được cứu độ, nhất là phải làm chứng về Chúa Kitô "cho đến tận cùng trái đất" (Cvtđ 1, 8). Giáo Hội sơ khai thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, nên đã khai mở thời kỳ truyền giáo, dẫu biết rằng thời kỳ này chỉ kết thúc vào ngày Chúa lên Trời, và trở lại.

Những lời Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội là kho tàng vô giá. Giáo hội không những phải gìn giữ, loan báo, suy niệm mà còn sống nữa. Chúa Thánh Thần sẽ làm bén rễ sâu trong lòng Giáo hội ơn đặc sủng được sai đi. Vì thế, Giáo hội nhận ra sự cần thiết phải trung thành với kho tàng đức tin và những lời Chúa truyền dạy, đồng thời thông truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, tới chúng ta ngày hôm nay. Lời Chúa và chỉ có Lời Chúa là nền tảng cho mọi sứ vụ, cũng như tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo hội. Thẩm quyền của Lời Chúa là nền tảng mà Công Đồng Vatican II và Thánh Gioan XXIII đã nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc : "Mối quan tâm chính của Công đồng Đại kết, là kho tàng thiêng liêng Kitô giáo phải luôn được giữ gìn và giảng dạy" ( Bài phát biểu của ngày 11 tháng 10 1962 ). Thách thức lớn nhất của chúng ta là trung thành với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Suy tư thứ hai về ý nghĩa Chúa Giêsu lên trời dựa trên cụm từ : " Chúa Giêsu lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa " (Mc 16, 19).

Sau khi hạ mình xuống trong cuộc thương khó, Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu Thiên Chúa đến muốn đời. Theo lời thánh Lêo Cả, khi Vị Thủ Lãnh của chúng ta bước vào thiên đàng và ở trên đó, "vinh quang của Đầu" đã trở thành "niềm hy vọng cho thân xác" (x. Sermo Ascensione Domini). Chúa Giêsu đã vĩnh viễn bước vào thiên đàng, " Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc" (Rm 8, 29). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta (thân xác), Chúa Giêsu là (Đầu) hằng sống đến muôn thủa muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha ( x. Dt 7 , 25). Từ trên cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.

Nhờ công nghiệp và lời cầu bầu của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha, chúng ta có hy vọng đạt tới sự công chính và sống thánh thiện nơi Người. Giáo hội có thể gặp phải những khó khăn, việc loan báo Tin Mừng có thể bị thất bại, nhưng vì Chúa Giêsu ngự bên hữu Thiên Chúa, Giáo hội sẽ không bao giờ bị đánh bại. Sức mạnh của Chúa Kitô vinh hiển, Con yêu dấu của Chúa Cha hằng gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta tận tụy và trung thành với Nước Thiên Chúa một cách quảng đại. Sự kiện lên Trời của Chúa Kitô ảnh hưởng cụ thể đến đời sống hàng ngày của chúng ta. Vì mầu nhiệm này, toàn thể Giáo hội có ơn gọi đợi chờ trong niềm hân hoan hy vọng ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến.

Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, hiển vinh về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên trời và tích cực làm việc vì Nước Trời.

Hướng về Mẹ Maria "Nữ Vương Thiên Ðàng", chúng ta xin Mẹ bảo vệ gìn giữ chúng ta là con cái Mẹ, biết sống và thực hành lời Chúa truyền dạy, để một ngày kia chúng ta cũng được về Trời với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh vui hưởng tôn nhan Chúa Ba Ngôi đến muôn thủa muôn đời. Amen.

CHÚA VỀ TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Về trời vẫn là đích nhắm của mỗi Kitô hữu. Trời là chốn hầu như chỉ có trong trí óc của mỗi người. Khung hướng của con người là nhìn lên cao và định vị trời là nơi cao thẳm, xa vời vợi, mắt thường không thể nào nhìn thấy trời.Tuy nhiên, với đức tin, Trời là Thiên Đàng nơi người tín hữu mong và ước mong đạt tới. Trời là nơi Thiên Chúa ngự. Hôm nay, Chúa về trời là về với Thiên Chúa Cha đúng như lời Ngài căn dặn, ra lệnh cho các tông đồ :” Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho tất cả loài người…”. “ Nói xong, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa “.

Vâng, Chúa về trời là một mầu nhiệm.Bởi vì, Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Nagiarét giờ đây được Thiên Chúa tôn vinh, được chia sẻ quyền thống trị của Thiên Chúa, được tôn lên làm Đức Chúa. Đó chính là sự kỳ diệu, là sự mới lạ, là mầu nhiệm. Cụm từ “ về trời “ vẫn là điều người tín hữu chúng ta hằng mong đợi, chờ mong sau khi đã chiến đấu anh dũng trong cuộc hành trình đức tin đầy khó khăn ở trần thế. Tuy nhiên, cụm từ “ lên trời “ không được hiểu theo nghĩa vật chất nghĩa là được bốc đi, đưa đi đến một nơi chốn mà phải hiểu theo nghĩa :” Này các bạn Galilê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các bạn và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các bạn đã thấy người lên trời “ ( Cv 1, 11 ). Như người Galilê xưa, chúng ta đừng cứ đứng bỡ ngỡ nhìn trời, nhưng phải trở về với thực tế đời thường. Đừng mải nhìn trời rồi ước vọng cao xa. Chúa muốn con người phải sống với thực tế của con người. Bổn phận và nghĩa vụ của con người vẫn còn đó. Chúa muốn con người chúng ta phải làm chứng cho Chúa như các môn đệ, các tông đồ đã làm chứng cho Chúa Phục Sinh :” Anh em sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất “ ( Cv 1, 8 ). Chúa về trời là để được tôn vinh là Đức Chúa, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ. Chúa về trời là lúc sứ vụ rao giảng, sứ mạng làm chứng cho Chúa. Lúc Chúa ra đi, về trời không phải là lúc các môn đệ mơ tưởng đến một cõi trời xa xăm, mơ mộng, hão huyền. Chúa vể trời là lúc các môn đệ bắt đầu một sứ mạng mới, một cuộc sống mới. Các môn phải bắt đầu xuống núi để đi vào một cuộc sống thực tế, một cuộc sống gần gũi với anh em: đến với những người nghèo, những người bơ vơ vất vưởng, những người không nhà không cửa.Đến với những người bệnh hoạn tật nguyền, những người tội lỗi. Đó là những thực tế ờ trần gian. Các môn đệ và chúng ta phải lê những bước chân đi vào thế giới để đến với mọi lớp người như Chúa Giêsu khi Người đi rao giảng. Những bước chân của Chúa quả không bao giờ mệt mỏi để loan báo Tin Mừng. Bởi vì rao giảng Tin mừng, chính là loan báo Chúa yêu thương con người, yêu thương loài người. Tin Mừng cứu độ, chính là ai tin thì sẽ được lãnh nhận phép rửa. Tin Mừng chính là có Chúa cùng hoạt động với chúng ta, với con người với những dấu lạ kèm theo.

Đã đến lúc, chúng ta phải vứt bỏ quan niệm nhìn về trời như tìm một nơi chốn, Trời hay Thiên Đàng không phải là một nơi chốn treo lơ lửng ở trên không và cứ ráng nhìn là thấy được. Người Kitô hữu chúng ta nhìn về trời nhưng không quên nghĩa vụ, bổn phận trần thế: đó là ra đi loan báo Tin Mừng vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúa về trời nhưng Ngài nhờ miệng lưỡi chúng ta, nhờ đôi chân, đôi tay của chúng ta để giúp đỡ nhiều người. Chúa về trời nhưng ngài vẫn hiện diện với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày để giúp chúng ta làm chứng cho Ngài. Chúa về trời những Ngài vẫn tiếp tục làm nhiều dấu lạ, điềm thiêng cho con người tin vào Ngài. Chúa về trời nhưng Ngài luôn muốn mọi người tin vào Ngài sẽ cùng về bên Ngài khi Thiên Chúa gọi họ ra khỏi cõi đời này. Đây không chỉ là ước mơ nhưng là có thể nói được là niềm tin cho tất cả những môn đệ của Chúa.

Vâng “ Quê Hương “ của chúng ta là trời mới đất mới, là quê hương trần gian được biến đổi nhờ Thần Khí của Chúa Giêsu Phục Sinh. Do đó, chúng ta những môn đệ của Chúa phải làm tốt công việc của chúng ta là xây dựng trời mới đất mới ngay trần thế này bằng chính những hy sinh, bác ái và bằng chính thân xác của Chúa Giêsu Phục Sinh.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa về trời để được Chúa Cha tôn vinh làm Đức Chúa, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ, đồng chia sẻ với quyền thống trị của Thiên Chúa Cha.Xin cho chúng con đừng mải mê nhin trời mà quên đi sứ mạng Chúa trao phó là rao giảng Nước Thiên Chúa và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen.

CHÚA LÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Lúc còn nhỏ mỗi lần chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu về trời, đặc biệt vào chính ngày lễ Chúa thăng thiên, như một tập quán quen thuộc nào đó, tôi thường làm một cử chỉ: nhìn lên trời. Tôi nghĩ rằng nhìn lên trời biết đâu tôi sẽ bắt gặp Chúa đang bay về trời bởi vì theo Tin Mừng thánh Máccô, sau khi Chúa nói với các tông đồ lệnh truyền giáo, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa ( Mc 16, 19 ). Do đó, nhìn lên trời để biết đâu bắt gặp được Chúa đang được rước về trời thì thật hạnh phúc biết bao !

Những suy nghĩ của tôi lúc còn nhỏ tuổi, thật ngộ nghĩnh, nhưng tôi cho rằng thực tế vì Chúa về trời là về với thế giới của Thiên Chúa Cha, có nghĩa khác với thế giới trần gian này. Con người đang sống nơi gian trần với những vẻ đẹp tuyệt mỹ: vũ trụ, sông, biển, đại dương, núi đồi, cây cỏ. Đó là thế giới khiến con người, khiến chúng ta ưa thích và say mê. Tuy nhiên, Chúa về trời cũng khiến chúng ta nhớ lại đời chúng ta là một cuộc hành trình dài mà đích đến là nước trời, là nơi xa xăm vv… Đã xác định được đích đến, chúng ta phải hiểu được lệnh truyền của Chúa: “ Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án “ ( Mc 16, 15-16 ). Các tông đồ của Chúa đã chứng kiến cuộc vinh hiển khải hoàn của Chúa, được nhìn thấy Chúa được rước về trời trong vinh quang, do đó, các Ngài không thể im lặng, các Ngài không thể làm ngơ, các Ngài đã mạnh mẽ làm chứng: ” Thiên Chúa đã làm cho sống lại Đức Kitô mà anh em đã giết chết, rồi treo trên cây gỗ…và tôn Ngài làm thủ lãnh và Đấng cứu độ để đem lại cho Israen ơn tha thứ và hoán cải. Về những việc đó chúng tôi đây là những chứng nhân cùng với Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người “ hoặc “ Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính “.

Vì tin vào Chúa Phục Sinh, cũng vì làm chứng cho Đấng sống lại mà các tông đồ tất cả đều bị bách hại, tất cả đều bị đổ máu, họ đã bị giết chết vì tin vào Đấng phục sinh.

Riêng đối với chúng ta, những Kitô hữu, những người theo Chúa, chúng ta luôn phải can đảm, quảng đại làm chứng cho Chúa phục sinh không chỉ bằng lời nói suông, nhưng phải làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống thật, đời sống chân chính của mình và cảm nghiệm sâu xa cuộc sống tốt lành của chúng ta là những bước tiến gần Chúa Kitô, đồng thời những thử thách gian nan, những hy sinh, đau khổ, cam go của chúng ta là cần thiết để thanh luyện và làm rạng rỡ đức tin của chúng ta.

Mọi Kitô hữu đều muốn về trời với Chúa phục sinh, nhưng muốn về trời chúng ta phải hy sinh, lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc đời của chúng ta. Thực hành Lời của Chúa, đồng nghĩa thực hiện tình yêu thương của Chúa: ” Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu “.

Vâng, nhìn lên trời không có nghĩa là để thấy Chúa bay vụt vào một nơi chốn nào đó, vào một khoảng không mịt mù nào đó. Nhìn lên trời để hiểu rằng Chúa đã được tôn vinh, được hiển trị với Thiên Chúa Cha. Những suy nghĩ nhỏ bé của tôi hồi xưa như được sống lại với biết bao kỷ niệm êm đềm. Xem ra mừng Chúa Kitô lên trời có vẻ như mừng những lễ kính Đức Kitô khác, nhưng đây quả thực là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm cao vời vì nếu Chúa không chết, không sống lại và không về trời, thì thực tế Chúa Thánh Thần đã không đến với thế giới, đến với mỗi người.

Thiên thần đã nói: ” Hỡi người Galilê, sao các ông cứ đứng nhìn trời “ ( Cv 1, 11 ). Chúa Kitô đã về trời thật, và cái thực nhất là sứ mạng rao giảng Tin Mừng như lời Ngài đã truyền dạy. Thế giới thực bao la, nhân loại còn biết bao người chưa biết Chúa. Sứ mạng của chúng ta là loan báo, làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh. Sống cái kiếp người, nhưng điều lôi cuốn và thu hút chúng ta đó là Nước Trời, đó là phía bên kia mà chúng ta phải hy sinh khám phá.

Chúa thăng thiê đang mời gọi chúng ta: “ Hãy sống trọn kiếp người, nhưng đừng quên sứ mạng người Kitô hữu “. Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, đang ở trên ta, mỗi lần chúng ta sống bác ái yêu thương làm cho người khác nhận ra Chúa là chúng ta đang sống sự phục sinh của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con biết sống thế nào để nhiều người thấy chúng con là nhận ra sự hiện diện của Chúa sống lại. Amen.

XIN ĐƯỢC THEO CHÚA VỀ TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Jos Tạ Duy Tuyền

Có một gia đình kia: chồng là người ngoại đạo. Ông không tin Chúa. Ông còn luôn miệng nhạo báng, khinh miệt những hành vi thờ phượng kính mến Chúa. Ngược lại, bà vợ lại rất sùng đạo. Ngày nào bà cũng dắt con đi lễ cầu nguyện. Dù sống giữa hai chiều hướng trái ngược đối nghịch nhau, đứa con trai duy nhất của họ vẫn hiếu thảo với bố mẹ. Một hôm em lâm bệnh hiểm nghèo, em hỏi bố rằng: “Bố ơi! Trong ít ngày nữa con sẽ không còn sống ở dương gian.Con xin bố dạy con phải tin ai? Theo bố hay theo mẹ? Tin theo bố thì chẳng có thiên đàng, chẳng có Chúa hay có mẹ để được yêu thương ở đời sau! Còn tin theo Mẹ thì có Thiên Chúa là Cha nhân lành. Có cõi trời để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa là Cha. Có Đức Mẹ luôn bầu cử chở che?”

Người cha quá sững sờ và kinh ngạc. Ông ôm con vào lòng và nói: “Con hãy tin theo Mẹ. Con cưng của cha! Đứa bé liền nói tiếp: “Nhưng nếu bố không tin theo Mẹ, thì làm sao con có thể chờ đợi bố ở trên thiên đàng được?”. Trước lời đơn sơ và chân thành của em bé, người cha đã không kiềm nổi những giọt nước mắt ứ tràn nơi khoé mắt. Ông đã để những giọt nước mắt xót xa tuôn rơi trên gò má già nua của mình. Kể từ ngày đó, người cha đã chọn Chúa là lẽ sống, là Đấng ông tôn thờ.

Vâng, nếu cuộc đời này sinh ra lớn lên rồi chết đi thì cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì! Con người sinh ra để được sống mãi chứ không phải để nhào lộn trong bể khổ và chết là hết kiếp người! Điều quan yếu là chúng ta phải tìm ra lẽ sống, và cùng đích đời người là gì? Sống để làm gì? Và chết rồi đi đâu? Đó là những vấn đề làm nên nhân cách con người. Chúng ta chọn cách sống nào cũng tuỳ thuộc vào việc chúng ta hiểu ý nghĩa và cùng đích đời người ra sao?

Chúa Giê-su trong tư cách một con người trần thế. Ngài đã sống cả cuộc đời để tôn vinh Thiên Chúa Cha trong việc phục vụ tha nhân. Ngài đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha. Thánh ý đó Ngài đã thực thi trọn vẹn cho dù phải trả giá bằng cả mạng sống, miễn sao cho ý Chúa Cha được thực hiện, cho danh Cha được cả sáng, cho Nước Cha mau hiển trị.

Là người ky-tô hữu chúng ta được mời gọi bước theo con đường Chúa Giê-su đã đi. Đó là con đường đi tìm thánh ý Chúa và thực thi cho đến hơi thở cuối cùng. Đó không phải là con đường trải thảm rộng thênh thang, mà là con đường hẹp, đầy chông gai giăng kín hành trình. Đó là con đường từ bỏ, đường thập giá, đường hiến tế đẫm máu trên đỉnh đồi Cal-vê.

Hôm nay Chúa về trời, Ngài vẫn mang theo dấu vết của thương tích, của thương đau, của sự chống đối, xỉ nhục, đòn roi mà Ngài đã từng trải qua.. . Ngài đã mang theo tất cả những giai đoạn đau thương đẫm máu đó, như dấu tích cho lời xin vâng trọn vẹn theo thánh ý Chúa Cha. Nay, Ngài cũng muốn tất cả chúng ta hãy đi con đường này để tiến về trời cao. Đó là con đường làm chứng nhân cho Tin mừng của Chúa bằng chính đời sống tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Một cuộc đời làm chứng không nhất thiết phải đổ máu nhưng quan yếu là phải thể hiện tình yêu bằng những nghĩa cử cụ thể trong lời nói, trong việc làm luôn bao dung, kính trọng, bác ái và công bình. Một cuộc đời làm chứng không nhất thiết phải có một bản án để người ta thoá mạ, tay chay, nhưng chỉ cần biết hy sinh từ bỏ ý riêng của mình trong từng giây, từng phút để thánh ý Chúa luôn được thi hành trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Hôm nay mừng Chúa về trời, chúng ta cũng nghe vang vọng đâu đây lời mời gọi thiết tha của Thầy Chí Thánh Giê-su: “anh em hãy làm chứng nhân cho Thầy. Khởi từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng thế giới”. Xin cho mỗi người chúng ta đang khi hướng lòng về trời cao cũng biết chu toàn sứ vụ trần thế trong niềm hân hoan để: “Ra đi tay ôm bó lúa đi gieo – Ngày trở về, miệng reo vang câu hát mừng”. Amen

SỐNG MẦU NHIỆM CHÚA LÊN TRỜI1
Mc 16, 15 - 20
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Mùa Phục Sinh theo niên lịch Phụng vụ sắp kết thúc. Hội Thánh dẫn đoàn con đến với mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên. Dĩ nhiên là Kitô hữu trưởng thành, hẳn chúng ta không còn ngây ngô nhìn lên khoảng không gian trên trời để tìm xem nơi Chúa đã về. Chúa về trời nghĩa là Chúa lấy lại vinh quang của một Thiên Chúa có từ đời đời với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Điều này được Thánh Kinh trình bày khi nói Chúa Kitô về trời ngự bên hữu Chúa Cha (x. Eph.1,20-21 ). Và chúng ta có thể nói rằng mầu nhiệm Chúa về trời như là một trong những điểm tới của nhiệm cục cứu độ.

1. Mầu nhiệm Chúa về trời khẳng định “thần tính” của Đấng vào đời: Không ai có thể lên trời nếu người đó không từ trời mà xuống ( x.Ga 3,13 ). Đấng từ trên cao xuống là Đấng vượt trên muôn vật muôn loài. Khi tuyên xưng Đức Kitô về trời chúng ta không chỉ tuyên xưng một biến cố mà là tin nhận một quá trình. Đó là “ Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” ( Phil 2,6-11 ).

2. Mầu nhiệm Chúa về trời là nền tảng cho niềm hy vọng của con người: Chúa Kitô bỏ vinh quang danh dự của mình khi vào đời để rồi sau đó lấy lại thì có liên quan gì đến loài người chúng ta cũng như mọi loài thụ tạo ? Xin thưa rằng có. Khi về trời, ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang bất diệt thì trong Chúa Kitô đã có tất cả những gì là thuộc nhân tính, thuộc thế trần. Bởi vì những gì thuộc thế trần, thuộc nhân tính đã được Đức Kitô tiếp nhận khi vào trần gian. Chính vì thế, từ đây mọi sự mọi loài, đặc biệt loài người chúng ta có thể đi vào cõi vinh quang vĩnh hằng chính là nhờ, với và trong Đức Kitô. Cái hữu hạn từ đây có thể trở nên thường tồn. Sự chóng qua từ đây có thể trở nên bất diệt. Và điều này đáp ứng nỗi khát mong muôn thưở của con người đó là được sống mãi. Niềm hy vọng của con người về sự trường sinh đã được mở ra với mầu nhiệm Chúa Kitô lên trời. Đức Giáo hoàng Lêô Cả khẳng định rằng khi mừng mầu nhiệm Chúa lên trời là “chúng ta đang tưởng niệm và long trọng cử hành ngày bản tính yếu hèn của chúng ta nơi Đức Kitô được đưa lên cao hơn các đạo binh trên trời, hơn tất cả các phẩm thiên thần, hơn tất cả các quyền thần, để cùng hiển trị với Chúa Cha” (Bài đọc 2 giờ Kinh Sách Thứ Năm tuần VI mùa Phục Sinh).

3. Mầu nhiệm Chúa về trời mời gọi, đúng hơn là thúc bách ta rao truyền tin vui: “ Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28,17-20 ).” Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” ( Mc 16,15 ) Tin nhận Chúa Kitô là Thiên Chúa thật, đồng thời tin nhận Người đã đưa các thực tại trần thế vào vinh quang Thiên Chúa với mầu nhiệm Thăng Thiên, không chỉ củng cố niềm hy vọng của chúng ta mà còn thúc bách ta rao giảng Tin Mừng. Nội hàm chủ yếu của Tin Mừng chính là Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân trần mãi đồng hành với nhân loại mọi nơi, mọi thời. Thiên Chúa đã cắm lều giữa trần gian là ở mãi với nhân loại. Người mãi đồng hành với chúng ta, đặc biệt bằng Thánh Thần Người ban tặng, bằng Lời của Người đã trao ban, bằng các Bí tích, bằng Hội Thánh Người đã thiết lập…

4. Mầu nhiệm Chúa về trời đòi hỏi chúng ta làm cho cuộc đời hữu hạn này trở nên thường tồn. “Hởi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời ?…” ( Cvtđ 1,11 ). Ái mộ những sự trên trời không có nghĩa là ái mộ những sự gì đó trên cao xanh mà là ái mộ những sự vĩnh hằng, những sự không thể bị kẻ trộm lấy mất hay mối mọt làm hư hoại ( x. Mt 6,20 ). Lòng ái mộ này thúc bách ta không ngừng tìm cách vĩnh cửu hóa các thực tại chóng qua. Mọi sự, dù là bình thường hay tầm thường đều có thể trở thành phi thường trong tình yêu của Đấng Cứu Độ dành cho nhân trần. Tình yêu ấy có thể hiện rõ qua Lời Chúa, qua các Bí tích, qua Hội Thánh. Nhưng tình yêu ấy cũng có thể bàng bạc khắp mọi nơi bằng quyền năng của Thánh Thần, Đấng luôn luôn tự do như “gió muốn thổi đâu thì thổi” ( x.Ga 3,8 ). Cùng với Thánh Thần, Hội Thánh không ngừng làm cho Nước Trời trị đến mọi lúc, mọi nơi, trong mọi thực tại của kiếp người: kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, giải trí, truyền thông…

Chính nhờ, với và trong tình yêu của Đức Kitô thì các thực tại trần gian trở thành vĩnh cửu. Đây là tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, một tình yêu hướng tha. Và Chúa Kitô đã cụ thể hóa tình yêu ấy bằng sự hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại ( x.Ga 15,13). Yêu thương mà tự nguyện nhỏ mình đi, ẩn mình đi, tự hủy mình đi để cho người mình yêu được sống, sống dồi dào, được triển nở và tinh tuyền thì đúng là yêu thương cách hoàn toàn vị tha, chỉ vì người mình yêu. “ Thầy ra đi thì có lợi cho anh em …” ( Ga 16,8 ). Có thể nói Chúa Kitô đã khởi đầu sự ra đi ấy với việc bỏ trời xuống làm người, với hiến tế thập giá và kết thúc bằng mầu nhiệm về trời.

Ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa ( x.1Ga 4,7-21 ). Ai ở trong Thiên Chúa là ở trong Nước Trời. Tuy nhiên, tình yêu ở đây phải là tình yêu một cách nào đó như Chúa Kitô yêu thương chúng ta ( x. Ga 13,34-35 ). Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã thực thi điều này. Dù ở trong đan viện, kín cổng cao tường, chị đã làm cho những việc bé nhỏ, bình thường, và cả tầm thường như quét nhà, giặt giũ…trở nên phi thường bất diệt bằng chính con tim tràn đầy tình mến của chị. Nước trời không ở đâu xa. Nước trời đang ở giữa chúng ta. Chính vì thế, ta có thể nói rằng đừng tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời ở một cõi nào đó trên cao, nhiều khi khiến chúng ta đâm ra ảo tưởng, xa rời thực tế, bỏ bê bổn phận, nhưng hãy làm cho hạnh phúc thành hiện thực ngay ở đây, lúc này.

PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐƯỢC LÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Giacôbê Tạ Chúc

Khi nói đến sự di chuyển, ai cũng nghĩ ngay đến các phương tiện. Từ những phương tiện thô sơ: xe đạp, xích-lô, xe ba gác… cho đến những phương tiện hiện đại: xe hơi, máy bay, xe điện ngầm, xe chất lượng cao…Thử hỏi Chúa Giêsu về Trời bằng phương tiện gì? Êlia thì được đưa đi trên chiếc xe rực lửa, còn Chúa Giêsu, chẳng ai biết. Phúc âm chỉ ghi lại:” Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”(Mc 16, 19).

Người Do Thái quan niệm vũ trụ được chia làm ba phần: phần ở dưới là âm phủ, nơi giam giữ những người tội lỗi, phần ở giữa dành cho thế giới con người. Và trên cùng là nơi Thiên Chúa cùng các thánh ở. Nói theo kiểu bình dân thì Đức Giêsu lên Trời nghĩa là Ngài đi lên theo thứ tự phân chia của vũ trụ. Chúa Phục sinh đã là một sự biến đổi trong vinh quang của Ngài, khi nói Chúa Thăng Thiên, các tác giả Kinh thánh cũng muốn diễn tả một thực tại siêu linh mà con người không thể thấu đạt bằng lý trí của mình, phải đón nhận với cả niềm tin. Như vậy để được lên Trời với Chúa mỗi người cần có những phương tiện tối thiểu, thử đề nghị ba phương tiện giúp chúng ta có”Passport” để về Trời:

Rao giảng Lời Chúa

Trong thư mục vụ 2005, Hội Đồng Giám Mục Việt nam nhắn nhủ các linh mục:” Loan báo Lời Chúa là sứ mạng chính yếu và là lẽ sống của chúng ta. Chính vì sứ mạng này mà chúng ta được chọn và sai đi”(Mt 10,4; Mc 3, 13-14). Đó cũng là di chúc của Thầy chí thánh trước lúc về trời:”Anh em phải đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi lòai thọ tạo”(Mc 16, 15 và Mt 28, 19-20). Đây là lệnh truyền của Chúa, mọi Kitô hữu cần áp dụng trong đời sống của mình. Sứ mạng ngôn sứ, phát ngôn viên của Lời phải được chính những anh chị em giáo dân thi hành trong nhiệm vụ của mình, rao giảng lời Chúa, dù thời thế thuận tiện hay không, thánh Phaolô cũng mãnh liệt xác tín niềm tin của mình:” Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1cr 9,16).

Cử hành các Bí tích

Chúa Giêsu lên trời nhưng chẳng bỏ con người mồ côi, Ngài thiết lập các bí tích để ở cùng nhân lọai mỗi ngày. Giáo hội cử hành Bí tích là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cộng đòan, sự vô hình của Thiên Chúa đã trở thành hữu hình khi con người cùng nhau sống mầu nhiệm Phục sinh. Sách Giáo lý công giáo dạy rằng:” Mỗi cử hành Bí tích là một cuộc gặp gỡ giữa con cái Thiên Chúa với Cha mình, trong Đức Kitô và Thánh Thần. Cuộc gặp gỡ này là cuộc đối thọai qua hành động và lời nói. Các hành động biểu trưng tự nó đã là một ngôn ngữ, nhưng cần có lời Chúa và việc đáp trả của đức tin đi kèm và làm cho những hành vi này nên sống động, để hạt giống nước Trời sinh hoa kết quả trong thửa đất tốt. Những họat động phụng vụ biểu thị những gì lời Chúa muốn diễn đạt: vừa là sáng kiến ân sủng của Thiên Chúa, vừa là lời đáp trả trong đức tin của dân chúa( Số 1153).

Phục vụ bác ái

Có thể nói Giáo hội như là cơ quan tình yêu, nếu sứ mạng truyền giáo là bản chất của Giáo hội thì bác ái là lẽ sống và hành động của Giáo hội. Không thực thi bác ái, Giáo hội sẽ vong thân. Thông điệp Thiên chúa là tình yêu, Đức Thánh Cha Bênêdictô 16 viết:” theo dòng thời gian và sự bành trướng dần dần của Hội thánh, việc thực thi bác ái được xác định như lãnh vực căn bản cùng với việc ban phát các bí tích và việc rao giảng Lời Chúa: việc thực thi bác ái đối với các góa phụ và trẻ mồ côi, với các tù nhân, với các bệnh nhân và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thuộc về bản chất của Hội thánh cũng y việc phục vụ Bí tích và rao giảng phúc âm” (số 22).

Rao giảng lời Chúa, cử hành các Bí tích và phục vụ bác ái là con đường dẫn đưa con người lên trời với Chúa Giêsu phục sinh. Con đường nào cũng có những khó khăn và ngăn trở, đã là người Kitô hữu, mỗi người hãy chọn lấy cho mình một con đường nên thánh, để mai ngày cũng được chung phần vinh quang với Chúa trong nước Trời.

Chúa Thăng Thiên không phải để xa cách con người nhưng để gần gũi hơn. Ngài có mặt một cách vô hình, vượt lên không gian và thời gian đó là cách thế mà Chúa dùng để cùng một lúc Ngài ở với hơn sáu tỷ con người trên trái đất này.

NGƯỚC MẮT NHÌN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc đạo. Sống dưới đất nhưng lòng trí để cả ở trên trời. Không tha thiết gì với những người chung quanh. Không tham gia những sinh hoạt xã hội. Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, bên kia là những người sống như chỉ biết có việc đời. Chỉ coi trọng những giá trị vật chất. Chỉ biết có đời này. Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ đều bất cập.

Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.

Đức Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.

Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.

Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.

Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với súc vật. Súc vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.

Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.

Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.

Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời.

Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đấy. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đấy.

Hôm nay Chúa cũng sai các môn đệ và chúng ta đi gieo Tin Mừng khắp thế gian. Hãy đi làm mọi việc tốt đẹp cho mọi người.

Làm việc tốt đẹp ở trần gian đó là góp phần xây dựng nước trời. Góp phần xây dựng trần gian đó là dọn chỗ ở trên nước trời. Trần gian không phải là nơi cho ta bám víu vì không vĩnh cửu. Nhưng trần gian là cơ hội cho ta đạt tới nước trời.
Chính vì thế, người môn đệ của Chúa phải sống giữa trần gian, phải yêu mến trần gian, phải xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.
Tuy nhiên người Kitô hữu làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết nỗ lực xây dựng trần gian trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

ĐƯỜNG VỀ TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Lúc còn nhỏ học giáo lý, mỗi năm lễ Chúa Thăng Thiên, tôi cứ ngước mắt trông lên trời xem có thấy Chúa về trời hay không và Chúa về trời như thế nào, ra làm sao ? Mà lạ thực chẳng bao giờ tôi nhìn thấy Chúa lên trời. Đó là suy nghĩ của tôi và tư duy ấy theo tôi mãi cho tới ngày tôi trưởng thành, cho tới ngày tôi được học hỏi kỹ hơn, tôi hiểu Chúa về trời không như cách suy nghĩ, tư duy của tôi.Tôi càng hiểu rõ hơn lời sách Công Vụ Tông Đồ 1, 1-11: ” Tại sao cứ đứng đó nhìn trời ? “.

Xem ra trời là một cái gì đó thật mông lung, một cái gì đó xa vời vợi ? Do đó, lên trời không phải là chuyện hàng không vũ trụ. Bởi vì, đã có những phi hành gia cứ tưởng mình lên được một góc nhỏ nào đó của mặt trăng là đã thấy trời. Nếu nghĩ như thế quả họ thất vọng. Trời không có nghĩa là ở đây hay ở chỗ nọ. Trời cũng không có nghĩa là lên hay xuống. Lên trời là gặp Thiên Chúa ngay trong lòng Ngài, ngay trong tình thương của Ngài. Chúa Giêsu được tôn vinh, được cất nhắc ngay trong cái chết và phục sinh của Ngài. Thăng Thiên là biểu hiện việc Chúa được nâng nhắc ngay chính nơi lòng của Thiên Chúa.Chúa về trời là về với Thiên Chúa Cha.” Ta ra đi thì ích lợi hơn cho các ngươi, vì nếu ta không trẩy đi thì Đấng Bàu chữa không đến cùng các ngươi”( Ga 16, 17 ).Chính vì thế, Chúa về trời là về với Cha, ngự bên hữu Cha của Ngài như lời Kinh Tin Kính chúng ta vẫn đọc, vẫn tuyên xưng. Trời không phải là cái gì xa vời như chúng ta thường lầm nghĩ, nhưng trời đang ở ngay nơi lòng Thiên Chúa Cha. “ Lời đã thành xác phàm “ ( Ga 1, 14 ). Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người. Ngài đang ở giữa nhân loại, đang ở giữa chúng ta. “ Ngay từ đầu đã có Lời và Lời ở nơi Thiên Chúa “ ( Ga 1, 1 ).

Thật khó nói nếu chỉ có đất và nếu không có trời, không có bầu trời như chúng ta thường học, thường biết, thường nghe thì quả thật chúng ta sẽ vô vọng. Đất là nơi chốn, là một cái gì hết sức thực tế vì chúng ta đang sống trên trái đất. Đất tạo cho chúng ta sự sống thì trời cũng là nơi, đích điểm chúng ta trông mong, ao ước. Đất cho con người chúng ta sự sống. Trời tạo cho mỗi người, tạo cho chúng ta lẽ sống. Do đó, có lúc chúng ta vẫn tưởng tượng và ước mong trời đất sẽ giao hòa. Trời và đất gặp nhau để con người được vui tươi, hạnh phúc. Trời xanh ca tụng vinh quang Thiên Chúa nhưng trái đất là nơi đã cưu mang Con Thiên Chúa làm người. Thánh Phêrô chờ đợi Nước Thiên Chúa, thế nhưng lại không nhận rằng, Nước đó trị đến qua chính sự kết hiệp sâu xa của Thiên Chúa với nhân loại chúng ta ( Eloi Leclerc ). Do vậy, chỉ biết có đất chúng ta sẽ thất vọng vì mình đất không thỏa mãn được những khát vọng của chúng ta, của mọi người.

Cuộc đời của người Kitô hữu là một cuộc hành trình đức tin, một cuộc trẩy đi lâu dài và xa vời vợi. Một cuộc hành trình mà đích đến là phía bên kia. Phía bên kia là một khoảng cách thật xa nhưng nó lại gần khi chúng ta biết tới với những người nghèo, khi chúng ta đi vào lòng đời để tới với tha nhân, khi chúng ta bước những bước chân đi loan báo Tin Mừng. Vâng, Tin Mừng là chính Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng chính là tình yêu của Chúa. Tin Mừng chính là lòng nhân từ, hay chạnh lòng xót thương của Thiên Chúa. Chúa về với Chúa Cha nhưng Ngài sai phái chúng ta đi vào đời để loan báo tình thương, để gặt lúa nơi những cánh đồng còn đầy ắp lúa chín vàng ở trái đất.

Chúa ra đi về với Chúa Cha thì ích lợi hơn bởi vì Chúa sẽ sai Thánh Thần xuống với chúng ta. Chúa về trời nhưng hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho tới tận thế. Chúa về với Cha nhưng Ngài vẫn dùng chúng ta để giới thiệu Ngài, vẫn dùng đôi tay chúng ta để thi ân giúp đỡ tha nhân, vẫn dùng đôi chân của chúng ta để dẫn chúng ta đến với những con người bơ vơ, những con người cùng khổ. Chúa về trời nhưng Ngài vẫn canh cánh trong lòng: ” Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng sẽ ở đấy với con “ ( Ga 17, 24).

Chúng ta xác tín mãnh liệt rằng: ” Mầu nhiệm Hội Thánh trong thế giới ngày nay đang gắn bó với trái đất, với mọi người nhưng vẫn không ngừng lên trời “.

Lạy Chúa xin cho mọi nẻo đường chúng con đi đều dẫn chúng con về trời.

BÌNH AN và RA ĐI
Mc 16, 15 - 20
Sr Mai An Linh OP

Như Thiên Chúa đã thổi hơi sự sống trên ngày thứ sáu (STK.2,7), thì cũng thế ngày hôm nay Chúa Giêsu thổi Thần Khí Thánh Thần cho các Tông Đồ và giờ đây các ông được tái tạo để thi hành sứ mạng. Việc Thánh Thần tràn ngập vào lòng là để tái sinh các Tông Đồ và được hưởng Nước Trời cùng sự sống, nhưng đúng hơn chỉ sứ mệnh được trao phó cho các Ngài để giúp vào việc đưa người khác vào cuộc sống mới này.

Đoạn Tin mừng của Thánh Gioan hôm nay “ Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” cho chúng ta thấy Chúa Giêsu trao sứ mệnh. Việc trao lại sứ mệnh là việc siêu phàm, đòi hỏi các Tông Đồ phải được biến đổi tận căn, phải được thánh hiến, phải dược nâng cao tầm vóc, hầu xứng đáng là kẻ được sai đi tiếp tục công việc của Thiên Chúa. Chính vì thế mà Chúa hứa ban Chúa Thánh Thần trước khi các Tông Đồ ra đi.

Nếu cần phải có Thánh Thần để các Tông Đồ có thể hiểu đựơc “ chân lý” thì họ lại cần đến Thánh Thần hơn nữa để giúp cho kẻ khác hiểu dược chân lý này. Chính trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần mà các Tông Đồ mới hiểu được sứ điệp, mới can đảm tới cùng, và mới truyền thông sự sống đời đời của Chúa cho người khác. Như thế, muốn thành công trong việc Tông Đồ phải có Chúa Thánh Thần.

Thật vậy, khi còn sống với các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã nói và làm nhiều điều nhưng các ông không hiểu bao nhiêu. Chúa Giêsu nói về men Biệt Phái, thì các ông tưởng Chúa Giêsu trách không mang theo bánh (x.Mc.8,14-16), Chúa Giêsu nói : Muốn vào được Nước Trời người ta phải dùng sức mạnh…thì các ông lại tưởng cần phải dùng khí giới nên đem theo khí giới và chém đứt tai Man-khô (x.Jn.18,10). Chúa Giêsu quả là một mầu nhiệm sâu thẳm khôn dò, nên cần phải có Chúa Thánh Thần để giúp các Tông Đồ hiểu việc làm và lời nói của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn.

Các Tông Đồ đã sống cùng với Chúa Giêsu còn cần đến Chúa Thánh Thần để hiểu thì Hội Thánh còn càng cần hơn. Chúa Thánh Thần sẽ như làn gió mới thổi vào Giáo hội để làm đổi mới mặt địa cầu và làm cho Hội Thánh tươi trẻ đáp ứng dược những đòi hỏi của thời đại. Vì thế, chúng ta phải trở nên mềm mại để

Chúa Thánh Thần dẫn vào sự thật về Thiên Chúa, về Đức Kitô và về con người.

Ngoài ra khi hiện đến với các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã hai lần cầu chúc “bình an”, rồi Người cho họ xem các dấu đinh ở tay và chân, lời chúc bình an thường mang một ý nghĩa đặc biệt. Thật vậy, việc lập lại lời chào gợi ý cho chúng ta thấy không phải là một công thức chào hỏi thông thường, và sự bình an mà Chúa Giêsu cầu chúc cho các Tông Đồ cũng vượt hẳn sự bình an bình thường, vì nó liên hệ đến các vết tích của cuộc tử nạn. Sự đau khổ vì xa cách không thể chuyển thành sự vui mừng trong chốc lát làm quên đi sự khổ nạn. Trái Lại, niềm vui ấy phải kéo dài, phải chín mùi trong đau khổ để niềm vui ấy không ai giựt mất được(x.Jn.16,20-22). Niềm vui ấy chính là sự vui mừng trong mùa gặt hái kết quả từ sức lao động và sự khổ nhọc trong cuộc thương khó.

Như thế, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống đã gửi đến cho Hội Thánh hai sứ điệp : Sứ điệp bình an và sứ điệp Thần Khí sai đi. Tất cả được qui tụ nơi Hội Thánh, một ơn ban sự sống bình an và ơn ban Thánh Thần nhằm qui tụ mọi người trong Đức Kitô.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổi mới tâm hồn chúng con, tái tạo trong chúng con thành những chứng tá sống động của Thiên Chúa giữa Hội Thánh, để chúng con sống xứng đáng ơn gọi Kitô hữu thực hành mệnh lệnh sai đi của Chúa Giêsu là loan Tin Mừng cứu độ cho toàn thế giới.

LỄ CHÚA THĂNG THIÊN
Mc 16, 15 - 20
LM Phạm Thanh Liêm, SJ

Bốn mươi ngày sau Chúa Phục Sinh là ngày thứ năm sau Chúa Nhật thứ sáu phục sinh. Như vậy lễ Chúa Thăng Thiên đúng ra đã được cử hành vào ngày thứ năm vừa qua, nhưng ở một số nơi lễ này được dời vào Chúa Nhật để tín hữu có dịp tham dự và hiểu hơn về mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể làm người.

1. Khỏi Bốn Mươi Ngày Ngài Lên Trời

Truyền thống Giáo Hội vẫn cử hành lễ Chúa Lên Trời bốn mươi ngày sau lễ Chúa Phục Sinh. Truyền thống này theo sát trình thuật sách Công Vụ Tông Đồ: “Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong 40 ngày Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa…. Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv.1, 3.9).

Bốn mươi ngày, là thời gian các tông đồ còn có thể nhìn thấy Đức Giêsu, có thể cùng ăn cùng uống với Ngài, còn được Ngài dạy bảo như những ngày nào. Trong thời điểm ngay sau khi Đức Giêsu phục sinh, các tông đồ cũng vẫn còn u mê, vẫn còn tưởng Ngài sẽ khôi phục nước Israel theo nghĩa phàm trần. Đức Giêsu vẫn tiếp tục kiên trì dạy dỗ những người học trò như thể “chậm hiểu” đối với con người ngày nay, nhưng thật sự những gì Đức Giêsu đề cập rất khó hiểu vì các tông đồ đâu có những khái niệm trước như những tín hữu hôm nay đã được nghe đi nghe lại nhiều lần.

Đức Giêsu “lên trời” ngay trước mắt các tông đồ (Cv.1, 9). Điều này đã xảy ra tại vườn dầu (Cv.1, 12). Bao nhiều lần Đức Yêsu hiện ra cho các tông đồ, và rồi Ngài lại biến đi trước mắt các ông. Những lần đó không có sách nào nói Ngài lên trời cả, chỉ coi Ngài hiện ra và Ngài lại đi thôi, và rồi Ngài sẽ lại thăm viếng các tông đồ khi các tông đồ cần và Ngài muốn. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay diễn tả rất cụ thể và rõ ràng về biến cố Đức Giêsu lên trời.

2. Này Đây Thầy ở Cùng Các Con Mọi Ngày Cho Đến Tận Thế

Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Mátthêu không nói Đức Giêsu lên trời, mà lại nói Đức Giêsu ở lại mãi với con người: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt.28, 20). Theo thánh Mátthêu, Đức Yêsu là Emmanuel, nghĩa là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Thiên Chúa ở với con người (Mt.1, 23). Nếu Đức Giêsu là Đấng qua Ngài Thiên Chúa ở với con người, thì đâu có khi nào Đức Giêsu rời con người nữa. Thiên Chúa không ở xa con người, nhưng ở gần thật gần con người, một cách đặc biệt qua Đức Yêsu.

Tin Mừng theo thánh Matthêu cũng cho thấy Đức Giêsu đã nói: “nơi nào có hai hay ba người họp nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở đó, giữa họ” (Mt.18, 20). Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Gioan cũng có những tư tưởng tương tự: “ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga.14, 23). Đức Giêsu ở với các tông đồ, ở với những người nhờ lời các tông đồ mà tin vào Đức Giêsu.

Ý niệm Đức Giêsu ở với con người, hàm chứa niềm tin Đức Giêsu “đang sống” một cách nào đó. Đây không chỉ là “đang sống” theo nghĩa những người còn đang sống tưởng nhớ tới Ngài, nhưng thật sự Ngài vẫn đang sống độc lập và khách quan đối với tư tưởng của con người. Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang sống và ở với con người bất chấp con người có biết hoặc ý thức điều đó hay không.

3. Lên Trời Ngự Bên Hữu Thiên Chúa

Một số người khi đọc tới đây có thể đã nói: “Kinh Thánh mâu thuẫn; như vậy biết tin thế nào đây, một đàng nói lên trời một đàng nói vẫn ở dưới thế”! “Phải chăng Kinh Thánh không đáng tin”. Thật sự trong Kinh Thánh có nhiều điều bị người ta nói “không lô gích và phản khoa học”, chẳng hạn trong Sáng Thế Ký nói “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St. 2, 7). Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng làm gì có tay mà nặn, làm gì có hơi thở mà thổi hơi vào hình đất đó. Khoa học cho thấy con người hình thành qua tiến trình tiến hóa.

Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng. Ngài ở khắp mọi nơi. Không có gì hiện hữu ngoài Ngài. Ma quỷ cũng luôn hiện diện trước Ngài, không thể tránh được Ngài. Nếu ai thù hận ghen ghét Ngài, thì sẽ muôn đời khổ vì không thể trốn đâu được với Ngài. Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, nên không có tay phải tay trái, không có bên phải bên trái. Những cách diễn tả như vậy, đó là cách diễn tả “nhân hình” về Thiên Chúa. Khi người ta nói “Thiên Chúa ở trên trời”, thì không có nghĩa Thiên Chúa ở trên trời thăm thẳm mà không ở dưới đất này, nhưng có nghĩa, Thiên Chúa là Đấng cao vời siêu việt, vượt quá sức hiểu và tưởng tượng của con người. Thiên Chúa là Đấng cao vượt trên con người như trời cao hơn đất: Thiên Chúa ngự trên trời.

Như vậy khi một số tác giả diễn tả Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, không có nghĩa đen hoàn toàn như vậy, nhưng phải hiểu là Đức Giêsu được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa. Công Nghị Do Thái đã hiểu theo nghĩa này, nên đã đồng thanh kết án tử hình Đức Giêsu: là người mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa: phạm thượng (Mc.14, 62-64). Khi nói Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, cũng không có nghĩa rằng Đức Giêsu ở xa con người, rời bỏ con người, nhưng có nghĩa, Ngài được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa làm người.

ĐƯA MẮT NHÌN TRỜI, KHÔNG QUÊN BỔN PHẬN DƯỚI ĐẤT!
Mc 16, 15 - 20
LM Nguyễn Hữu Thy

Qua bài Tin Mừng của đại lễ hôm nay chúng ta nhận chân được rằng điều chúng ta cần phải làm, không phải ngồi triền miên chiêm ngắm lại cảnh tượng Ðức Giêsu bay lên trời và khuất vào trong đám mây cũng như cảnh các môn đệ của Người đưa mắt chăm chú và đầy luyến tiếc nhìn theo Thầy mình đang xa dần khỏi tầm mắt họ, nhưng chúng ta làm sống động lại những cảm nghiệm của các môn đệ trong những ngày tiếp sau biến cố đau thương đã xảy ra cho Ðức Giêsu. Các bản Phúc Âm đều tường thuật lại những cuộc hội ngộ giữa họ với Ðức Kitô phục sinh. Nhưng đột nhiên Ðức Kitô đã trở nên xa lạ đối với họ, đến nỗi họ đã không còn nhận ra Người được nữa, dù rằng Thầy trò mới chỉ xa lìa nhau có ba ngày thôi. Ðiếu đó đã chứng tỏ rằng cuộc khổ nạn của Ðức Kitô đã gây ra một hậu quả trên tâm lý các môn đệ khủng khiếp như thế nào ! Và rồi qua các cuộc gặp gỡ và trò chuyện thân tình, họ đã cảm nhận được sự gần gũi của Người, họ đón nhận lời Người dạy. Tiếp đến mọi sự lại trở lại hầu như bình thường giống trước kia. Tất cả các môn đệ biết chắc chắn rằng đây không phải là một giấc mơ hay một sự ảo tưởng, nhưng là chính Người thực sự. Bởi vì, không phải một lần duy nhất, nhưng là suốt bốn mươi ngày liền tất cả họ đều đã được nhìn thấy Người tận mắt, đã được nghe Người nói và đã được thưa chuyện với Người. Nhưng rồi hôm nay sự quan hệ giữa họ với Sư Phụ lại một lần nữa bị cắt đứt. Ðiều đó xảy ra thế nào đây ?

Có môn đệ thì kể là Người đã ra đi, rời khỏi chúng tôi. Vâng, đúng là Người đã ra đi khỏi chúng tôi. Chúng tôi đã từng đi với Người từ Giê-ru-sa-lem qua Núi Cây Dầu và tiến về Bê-ta-ni-a. Ở đây Người đã giơ tay chúc lành cho chúng tôi khi chúng tôi đang đứng vây quanh Người. Trong khi Người chúc lành cho chúng tôi thì Người rời khỏi chúng tôi. Người đã giã biệt chúng tôi, hay nói theo kiểu khác, chúng tôi chỉ còn lại một mình.

Người môn đệ khác lại diễn tả là : một chiếc khăn lớn tựa hồ như một dãi mây bao phủ lấy Người và cuốn đưa Người cùng đi.

Người môn đệ thứ ba đã bổ xung là : Chúng tôi đang nói chuyện với Người thì đã xảy ra là bằng một cách nào đó Người đã cất bổng lên trời; và chúng tôi tin là Người đang ở bên Thiên Chúa.

Còn người môn đệ thứ bốn thì nói là Người đã được đón rước lên trời.

Ngày xưa, các nhân chứng đã tường thuật lại cách khác nhau theo cảm nghiệm riêng của mỗi người tất cả những gì họ đã chứng kiến tận mắt sờ tận tay, và Lu-ca đã thâu góp lại thành một chuyện kể. Thánh nhân muốn khẳng định rằng bây giờ chúng ta không có thể tiếp xúc với Ðức Giêsu trực tiếp bằng các giác quan thể xác như trước kia nữa. Thời gian lưu ký của Người ở trần gian đã mãn. Các môn đệ không còn có thể trực tiếp chạy đến với Ngưòi để trông mong cậy dựa, để Người can thiệp che chở mỗi khi găp thử thách khó khăn. Ðức Kitô không để các môn đệ của Người phải mồ côi, Người vẫn luôn hiện diện cách vô hình bên họ. Nhưng từ nay họ phải trưởng thành, phải tự túc tự cường, phải tự xoay xở lấy mọi sự. Người vẫn luôn bảo trợ và nâng đỡ họ khi cần thiết, nhưng Người không làm thay hết cho họ như trước kia nữa. Ðây không phải là điều dễ dàng và nhất là một điều mạo hiểm ! Một điều khác nữa là tất cả họ đều có thể sai phạm lầm lỗi. Rất có thể người ta sẽ dễ dàng tuân theo các hướng dẫn chỉ dạy của Chúa và thực hành theo đó. Nhưng Ðức Kitô chỉ có thể có được một bộ mặt mới mẽ, nếu các môn đệ của Người có được khả năng và sẵn lòng lấy cuộc sống và hành động của Người làm cuộc sống và hành dộng của mình.

Còn về các môn đệ có mặt trong lúc Chúa Lên Trời thì bài tường thuật cho hay là họ quá bỡ ngỡ mãi nhìn theo Chúa đang biến khuất vào sau đám mây, như thể họ muốn dùng cái nhìn của mình để giữ Người lại với họ như trong suốt thời gian đoàn tụ vừa qua. Nhưng hình bóng của Ðức Kitô vẫn biền biệt mất hút vào trong đám mây ! Tất cả họ hoàn toàn bất lực và trở nên buồn rầu thất vọng. Ðúng lúc đó có hai người bận áo trắng xuất hiện, để giải thích sự việc và dẫn đưa họ trở lại với thực tế đời thường, với sứ mệnh mới đang chờ đợi họ :

Các người đừng quá bám bíu vào Ðức Giêsu trong thể xác loài người như các người nữa. Thời gian Người lưu ký ở thế gian này đã hết. Vì thế các người nên nhìn vào tương lai và chờ đợi biến cố tái quang lâm của Người trong ngày sau hết. Trong khi chờ đợi ngày sau cùng đó, các người hãy chu toàn sứ mệnh đã được giao phó. Các người hãy nhớ đến sứ mệnh Ðức Giêsu từng giao phó cho các người : « Các con hãy là chứng nhân của Thầy ở Giê-ru-sa-lem, ở trong khắp xứ Giu-đê-a và ở xứ Sa-ma-ri-a, mãi tới cùng cõi trái đất ». Vào Lễ Hiện Xuống trong mấy ngày nữa, Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho các người hiểu biết mọi sự thật. Sau đó các người sẽ tự làm chứng cho Người trước mặt thế gian theo sự thâm tín riêng của mình. Các người sẽ không còn là những người học trò thơ dại và luôn cần đến sự hướng dẫn, sự săn sóc, sữa dạy và an ủi của Sư Phụ trong những khi thất bại chán nãn nữa.

Vâng, các người phải mau mắn vượt lên những lưu luyến đau buồn của lần từ biệt này. Các người phải chân nhận rằng Ðức Giêsu thực sự không hề xa lìa các người. Người không không hề dễ dàng ra đi để các người và nhân loại mồ côi một mình. Tuy con mắt thể xác của các người không còn có thể nhìn thấy Người được nữa, nhưng thực ra Người luôn hiện diện bên cạnh các người dưới một hình thức mới. Nói các khác, Ðức Giêsu vẫn sống. Người ta có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Người. Dĩ nhiên, các người phải có đôi mắt đức tin mới nhìn thấy được Người. Cần có một lỗ tai đặc biệt để lắng nghe được tiếng của Người. Người có thể tỏ mình ra một cách đột nhiên và không cần phải loan báo trước. Trong một cuộc chuyện trò nào đó Người cũng có thể có mặt, Người có thể nói chuyện hay thông báo cho một người nào đó qua trung gian một người khác. Người ta có thể nhận ra được Người khi ở đâu con người biết can đảm tìm kiếm một cuộc sống mới. Người ta có thể cảm nhận được sự sống động và sự gần gủi của Người khi ở đâu con người biết canh tân đổi mới đời mình. Sự hiện diện của Người có thể cảm nghiệm được khi ở đâu con người biết tin tưởng cầu khẩn cùng Người, khi ở đâu họ cùng nhau thân tình làm lễ « bẻ bánh » nhân danh Người.

Các người hãy gẫm suy về cách thức hiện diện mới này của Ðức Giêsu trong cuộc sống của mình. Tiếp đến, các người hãy ra đi và loan báo cho mọi người sự cảm nhận đó của mình. Và bất cứ ở đâu nếu còn có những người biết tìm kiếm chân lý và biết mong mỏi sự cứu rỗi thì ở đó các người sẽ tìm gặp được những tâm hồn biết lắng nghe lời loan báo Tin Mừng của các người và sẵn sàng tiếp nhận các người trong tình huynh đệ. Vậy, sao các người vẫn còn đứng lại đây mãi và cứ chăm chú nhìn lên trời như thế ?

Vâng, hai vị mặc áo trắng nói rất chí lý : Giáo Hội không phải là một hội bảo thủ của Ðức Giêsu, được lập ra để coi sóc và bảo tồn các đồ kỷ niệm của Người, Giáo hội cũng không phải là kho dự trữ các linh hồn đạo hạnh muốn xa lánh thế gian và loài người, cốt để có được những quan hệ tốt với Thiên đàng. Ngay từ đầu Giáo Hội đã ý thức cách rõ ràng sứ mệnh của mình là phải đi vào lòng thế giới để mang tình yêu Nước Trời đến cho họ, là phải đi gặp gỡ nhân loại giữa cảnh sống đầy bức xúc và cùng quẩn của họ. Hoàn tất sứ mệnh đó là trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta. Tất cả các Kitô hữu chúng ta, những người mang trên mình tên của Ðức Kitô, là chứng nhân cho Người, bằng lời nói cũng như bằng chính cuộc Kitô hữu của mình. Thế nhưng trong thực tế, chứng từ của chúng ta như thế nào ? Ðó là câu hỏi mà mỗi người trong chúng ta cần phải suy tư và tự trả lời lấy!

LÊN TRỜI LÀ LÊN ĐƯỜNG
Mc 16, 15 - 20
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời hay lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Thăng Thiên có một ý nghĩa rất quan trọng trong dòng lịch sử Giáo hội. Lý do là vì Thăng Thiên vừa kết thúc mùa Phục Sinh, vừa là một mạc khải cuối cùng nói về vinh quang của Chúa Phục Sinh. Tuy nhiên Thăng Thiên vẫn chưa là biến cố sau cùng mà là một khai mở cho biến cố mới: biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống như Chúa Giêsu đã hứa.

Chúa lên trời, cũng có nghĩa là từ nay Người không còn hiện diện cách hữu hình, cách khả giác nữa mà là một sự hiện diện khác – hiện diện bằng chính quyền năng của Chúa Thánh Thần, hiện diện qua chính Giáo hội. Hiểu được như thế chúng ta sẽ thấy rằng, việc Chúa lên trời quả là một niềm vui cho chúng ta. Vì nhờ đó, chúng ta cũng sẽ hướng về quê trời – nơi chúng ta sẽ được hưởng sự sống Thần linh với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Khi suy niệm Lời Chúa hôm nay, chúng ta có cảm giác dường như thánh sử Máccô muốn diễn tả sự kiện Thăng Thiên diễn ra một cách chóng vánh để cho các Tông đồ bắt tay ngay vào việc lên đường truyền giáo. “Lên trời là lên đường”, phải chăng đó là thông điệp mà thánh sử muốn gửi đến cho chúng ta? Dù sao, lệnh truyền của Chúa cho các tông đồ và cho cả chúng ta nữa cần được chúng ta suy chiêm và đem vào cuộc sống.

Lần hiện ra sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu trao cho các ông một sứ mệnh, là ra đi loan báo Tin mừng. “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo”. Đây chính là một lời mời gọi của Chúa và Người muốn các môn đệ đáp lại mời gọi này với sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Lời mời gọi đó đòi buộc các môn đệ rời bỏ quê hương – nơi chôn rau cắt rốn, thậm chí rời bỏ luôn dân tộc Israel để hướng về lương dân, công bố Tin mừng Phục sinh cho hết mọi người. Truyền thống Tân ước cho biết lời rao giảng đầu tiên của các Tông đồ là công bố việc Thiên Chúa cứu nhân loại khỏi chết, khỏi mọi tội lỗi nhờ cái chết, sự phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu. Vâng lời Thầy, các môn đệ ra đi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa và với sự hiện diện cách vô hình của Thầy Chí Thánh.

Sau khi Chúa về trời, và nhất là sau ngày lễ Ngũ tuần – ngày các môn đệ đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, sứ mệnh loan báo Tin mừng Phục sinh của các môn đệ mới lớn mạnh và ngày một lớn mạnh không ngừng. Tuy nhiên, chúng ta thấy, Tin mừng được loan đi, nhưng thái độ đáp trả của con người vẫn còn là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Bởi bên cạnh những người đón nhận lời rao giảng của các môn đệ và tin tưởng bước theo Chúa Kytô Phục sinh, thì vẫn còn đó không ít người không tin, thậm chí còn mỉa mai chê cười. Chính vì thế, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ về hiệu quả của việc đón nhận hay từ chối lời loan báo Tin mừng Phục sinh của Giáo hội. Đó là, “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” và, “Ai không tin, thì sẽ bị kết án”.

Chúng ta biết, đức tin - một hành động được diễn tả như là quá trình xuất phát từ chính trong tâm hồn để rồi biểu lộ ra bên ngoài bằng việc chịu phép rửa. Như vậy, tin và chịu phép rửa là đáp lại sứ điệp của Tin mừng và như thế sẽ nhận được ơn cứu độ, được thứ tha tội lỗi và huởng sự sống đời đời. Ngược lại, nghĩa là bị án phạt. Đây chính là án phạt trong ngày tận thế, ngày Chúa Kytô trở lại để khánh thành công trình cứu độ. Ai không tin Chúa, từ chối lời rao giảng tức là khước từ sự sống và như thế, bị luận phạt đời đời chính là hậu quả mà họ sẽ đón nhận. Ở đây cần phân biệt người chưa nghe lời Chúa với người nghe lời Chúa mà chối từ. Người chưa nghe lời Chúa không thể gọi họ là kẻ khước từ. Họ sống theo lương tâm ngay thẳng thì không thể kể họ là kẻ không tin.

Giai đoạn đầu của sứ mệnh rao giảng Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều dấu lạ đi kèm theo lời rao giảng của các môn đệ. Điều này được nói đến trong đoạn kết của Tin mừng Máccô cũng như được minh hoạ trong sách Công vụ tông đồ. Tất cả những dấu lạ như trừ quỷ (x. Cv 5, 12-16; 8,9; 16,16-18); nói tiếng lạ (x. Cv 2, 4-13; 10, 44-46); cầm được rắn (x. Cv 28, 3-6); đặt tay chữa bệnh (x. Cv 4, 30; 9, 10-17),v.v… phải chăng là những ma thuật để khuyến dụ những người thích phù phép hay những người kém hiểu biết? Hoàn toàn không phải như vậy. Tất cả chỉ để diễn tả quyền năng tất yếu của Đấng Phục sinh chiến thắng những thế lực sự ác và sự chết. Đấng ấy, nay thông qua các dấu lạ kèm theo lời rao giảng của các môn đệ, để minh chứng rằng rằng những ai tin và bước theo Người cũng sẽ chiến thắng mọi thế lực của ác thần.

Mừng lễ Thăng Thiên, xin cho mỗi người chúng ta biết hướng về trời cao, tiến bước lên đường rao giảng Tin mừng Phục sinh và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho khắp nhân trần. “Lên trời là lên đường”, đó là thông điệp, và cũng là sứ mệnh Giáo hội muốn nhắn gửi cho con cái mình trong thời đại hôm nay.

SAO CÒN MÃI NHÌN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Sau khi phục sinh, Đức Giêsu còn ở lại với các môn đệ 40 đêm ngày. Sở dĩ Chúa sống lại còn ở với các môn đệ lâu ngày như thế là vì Người thấy đức tin của các ông còn yếu kém. Do đó, Chúa Giêsu nói về Nước Trời để củng cố niềm tin cho các ông và để chuẩn bị cho các ông đi vào sứ mạng rao giảng Tin mừng. Chúa Giêsu đã lo lắng cho các môn đệ hết lòng bằng cách ban Thánh Thần cho các ông và luôn ở cùng các ông, luôn cùng các ông hoạt động.

Sau khi ban phép lành cho các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh đã được Chúa Cha cất nhắc về trời. Thế nhưng, các môn đệ vẫn cảm thấy bị hụt hẵng, bối rối, lo âu. Các ông cứ đứng đó mà nhìn trời. Cái trớ trêu của các môn đệ là vẫn còn sống trong ảo ảo hư hư. Các ông vẫn chưa nhận ra, Chúa phải về trời để chu toàn sứ vụ của Người:” ngự bên hữu Đức Chúa Cha”. Các môn đệ vẫn chưa nhận ra cái thực tế của đời mình : rao giảng và làm tròn sứ mạng Chúa trao phó. Nhìn trời được coi như hướng về sự thiện, hướng về mục tiêu cuối cùng của người có đức tin: Nước Trời.Tuy nhiên, các môn đệ vẫn bị trách “ làm sao các ông cứ mải nhìn trời ? “. Chắc rằng cái tiếc nuối của các môn đệ nếu có vẫn là mộng làm quan hụt. Vì rằng các ông cứ tưởng Thầy tới để củng cố vương quyền của Israen…Các ông mơ ước Chúa Giêsu sẽ làm vua theo quan niệm người đời. Khi ấy, các ông sẽ được Chúa chia chác cho các ông các ghế trong nội các của Chúa Giêsu. Điều mơ tưởng ấy chỉ là điều mơ mộng. Chúa Giêsu đã chẳng từng nói với Philatô:” Nước Tôi không thuộc thế gian này”. Quả thực, Chúa Giêsu đã xác định rõ ràng, Người là vua nhưng là vua khiêm nhu, vua nhân hậu. Nước của Người không thuộc thế gian mà thuộc về thượng giới. Vả lại, các thiên thần áo trắng đã chẳng hứa hẹn:”Ngài sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên Trời”( Cv 1, 11 ). Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một. Chính vì thế, tất cả mọi người có lòng tin như các môn đệ xưa đang hướng về ngày cùng tận, ngày tận thế, ngày Trời mới Đất mới. Vì Chúa đang lại đến. Các môn đệ sau khi mơ mộng đã được các Thiên Thần đưa họ về thực tế. Các ông bỗng tỉnh ngộ và trở về với con người thực của mình. Các ông đã sực nhớ lại Thầy của mình đã trao sứ vụ đi rao giảng cho muôn dân và họ bắt đầu đi rao giảng.

Trước khi đi vào cuộc thương khó cứu đời theo ý Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nhiều lần loan báo cái chết Ngài sẽ phải chịu để cứu độ nhân loại. Các môn đệ vẫn mù tịt, chẳng hiểu gì về những lời Chúa nói. Phêrô còn dám cản ngăn con đường của Chúa. Trong các lần tâm sự với các môn đệ Chúa Giêsu đã chẳng nói:” Ta ra đi thì ích lợi hơn cho các con”( Ga 16, 17 ). Hoặc “ Lòng các con chớ xao xuyến…Ta đi trước để dọn chỗ cho các con”( Ga 14, 1-2 ).” Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 20 ) và rồi Ngài cầu khẩn cho các môn đệ” Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ, trong danh Cha mà Cha đã ban cho con…Bây giờ con đến cùng Cha, và con…xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần”( Ga 17, 12.13.15 ). Đây là những lời tâm sự của Chúa đối với các môn đệ làm chúng ta hiểu được tấm lòng, hiểu được ước muốn của Chúa Giêsu. Chúa quả thực đã củng cố niềm tin, đã an ủi các ông, đã làm cho các ông càng lúc càng hiểu được cõi lòng sâu thẩm của Chúa. Nhờ đó, các môn đệ và mỗi người chúng ta đều nghiệm ra được tình thương vô biên của Chúa Giêsu. Các môn đệ vẫn hướng về trời, nhưng điều thực tế vẫn là các ông phải hành động ngay ở trần gian này như Đức Giêsu đã truyền:” Anh em hãy đi và và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…”( Mt 28, 19 ). Các môn đệ và mọi người Kitô hữu luôn phải trở về với thực tế của mình là “đi” và “ làm cho cho muôn dân trở nên môn đệ của Chúa Giêsu”.

Chúa Giêsu về trời không có nghĩa” Ngài trở lên ở một khoảng không gian mông lung nào đó”. Chúa Giêsu về trời cũng có nghĩa “ Ngài không còn hiện ra với các môn đệ như khi Ngài mới sống lại”. Chúa Giêsu vẫn hiện diện với nhân loại, với Hội Thánh nhưng theo một cách khác. Ngài không còn tỏ ra như đã từng cho các môn đệ thấy dấu đinh nơi chân tay Ngài, và cho các ông thấy cạnh nương long của Ngài. Chúa Giêsu về trời là để khai mạc một triều đại mới: triều đại của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Về trời cũng có nghĩa “ Chúa phục sinh đón nhận vinh quang từ Cha của Ngài”. Chúa về trời để cũng đưa nhân loại lên với Ngài. Mầu nhiệm Chúa Giêsu về trời cũng được hiểu là mầu nhiệm của Hội Thánh trần gian đang hiện diện tỏ tường nơi gian trần nhưng không ngừng lên trời, không ngừng hướng về Thiên Chúa Cha ngang qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin giúp mỗi người chúng con càng lúc càng hiểu rõ hơn sứ vụ rao giảng Tin Mừng mà Chúa đã truyền cho các môn đệ và cho toàn thể Hội Thánh.

SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI KITÔ
Mc 16, 15 - 20
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP.

Tin Mừng thuật lại hai điều : sự kiện Chúa Giêsu lên trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng. Trước hết, sự kiện Chúa Giêsu lên trời, Tin mừng thánh Mác-cô ghi lại rất vắn tắt : chỉ nói Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa, chứ không nói rõ Chúa lên trời ở đâu và sau khi Chúa sống lại bao lâu. Theo sách Công Vụ Tông Đồ, Chúa Giêsu lên trời sau khi sống lại 40 ngày, và nơi lên trời là núi Cây Dầu. Vậy Chúa Giêsu lên trời chính xác là khi nào ?

Có thể trả lời tóm tắt và rõ ràng như sau : Chúa lên trời ngay ngày phục sinh, tức là sau khi sống lại, Chúa lên trời ngay. Và sau đó Chúa đã hiện ra với các tông đồ nhiều lần để củng cố lòng tin của họ, trong một khoảng thời gian mà sách Công Vụ Tông Đồ xác định là 40 ngày. Sau cùng, Ngài cho các môn đệ biết Ngài chấm dứt việc hiện ra bằng sự công khai lên trời. Như vậy, mầu nhiệm lên trời mời gọi chúng ta nhìn nhận hai khía cạnh liên hệ nhưng riêng biệt nhau : một bên là Đức Kitô được vinh quang lên trời ngay lúc Ngài sống lại. Điều này giác quan các tông đồ không thể cảm nghiệm được mà chỉ có thể nhận thức bằng đức tin. Và một bên là Đức Kitô ra đi sau một thời gian hiện ra nhiều lần. Đó là cuộc ra đi trở về với Chúa Cha mà các tông đồ được chứng kiến trên núi Cây Dầu.

Chúa Giêsu lên trời là điều chắc chắn. Nhưng ý nghĩa thế nào ? Việc Chúa lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập thể và cứu chuộc của Ngài, như chu trình phát triển của một hạt lúa : phải tự mục nát trong đất mới đâm mầm và tăng trưởng dần cho đến thời kỳ trổ bông, sinh hạt. Chúa Giêsu, sau thời gian đi gieo lời hằng sống, thiết lập và xây dựng một nền móng đạo đức đặt căn bản trên tình thương, công bằng trong xã hội Do thái thời đó, mảnh đất thí điểm và khởi điểm…Ngài đã chịu chết, sống lại và vinh hiển về trời. Nói khác đi, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã từ trời xuống trần gian để thực hiện chương trình cứu chuộc của Chúa Cha. Ngài đã giảng dạy, phục vụ và cống hiến cả mạng sống. Nên sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh, được đặt bên hữu Thiên Chúa và ban cho quyền xét xử vũ trụ. Đây cũng là một câu trả lời vô cùng phấn khởi cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành tin theo Chúa, chúng ta cũng sẽ được về trời, chúng ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào trong nhà Cha cùng với Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời.

Nhưng làm sao người ta có thể biết Chúa, tin theo Chúa để rồi cũng được về trời với Chúa ? Chính vì thắc mắc đó mà trước khi về trời, Chúa Giêsu đã ra chỉ thị cho các môn đệ của Ngài. Ngài sai họ ra đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho họ nhiều quyền năng để rao giảng Tin Mừng và đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người. Chính nhờ các tông đồ đầu tiên ấy, rồi các tông đồ khác, lại các tông đồ khác nữa kế tiếp nhau trung thành thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng ấy mà người ta biết Chúa, tin Chúa, được cứu rỗi và rồi sẽ được về trời.

Nói khác đi, Chúa Giêsu đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Ngài, nghĩa là Giáo Hội như một nối dài của Chúa Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã đi lại, đã nói, đã làm nhiều điều tốt đẹp. Ngày nay, Ngài cũng muốn cho các hoạt động của Ngài được tiếp tục qua Giáo Hội. Sứ mệnh của Chúa Giêsu là một sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó cần phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mệnh đó cho Giáo Hội, Chúa Giêsu muốn nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống và dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.

Là chi thể của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi Kitô hữu cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Kitô, nhờ đó Ngài không ngừng giãi tỏa ánh sáng, trao tặng tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người. Để được như thế, cách tốt nhất là chúng ta hãy sống tốt. Hãy sống tốt với gia đình, với xóm ngõ, trong họ đạo và với những người chung quanh, bất cứ lương hay giáo. Sống tốt cũng có nghĩa là sống bác ái, sống chan hòa tình yêu thương với mọi người.

Người có lòng bác ái, yêu thương giống như một bông hoa đẹp. Bông hoa không nói gì cả, bông hoa không tuyên xưng gì cả, nhưng vì nó là một bông hoa đẹp, tuy không nói, nhưng người ta cũng thấy được cái đẹp của nó, cái hương thơm của nó. Mỗi người Công Giáo, mỗi giáo xứ, hãy là những đóa hoa, những bó hoa tươi, đẹp, thơm, do tinh thần bác ái cởi mở chan hòa. Và nếu được như vậy, đạo chúng ta sẽ mở ra, và đức tin ấy mới là đức tin truyền giáo thực sự.

Xin hãy nhớ : Chúa Giêsu về trời sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ ở trần gian. Chúng ta cũng vậy, bao lâu sống ở trần gian, chúng ta cũng phải nỗ lực hoàn tất nhiệm vụ Chúa đã trao phó và tích cực đóng góp vào sự mưu ích cho đồng loại, cho gia đình, xóm đạo, quê hương, Giáo Hội theo tinh thần phục vụ và bác ái của Tin Mừng.

TRẦN THẾ LÀ CON ĐƯỜNG VỀ TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Martin Lê Hoàng Vũ

Hôm nay lễ Chúa Thăng Thiên, tức là Đức Giêsu về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được tôn vinh là chủ tế của vũ trụ này. Nhưng thật ra Đức Giêsu đã lên trời sau khi sống lại, thời gian 40 ngày Ngài hiện ra với các tông đồ chỉ để củng cố đức tin cho các Ngài và ngày Chúa lên trời là chấm dứt những lần hiện ra của Ngài. Chúa lên trời để chỉ cho chúng ta con đường để về trời với Ngài. Con đường ấy rất thiết thân với mọi người. Đó là chúng ta sống trong trần thế có con người và biết bao điều phải yêu mến.

Trần thế cõi "hỉ, nộ, ái,cụ, ố, đục" này, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Tốt hay xấu là còn tùy con người hành xử ra sao. Nếu chúng ta tham lam ích kỷ, hận thù trần thế này sẽ mãi mãi là nơi bất ổn. Còn nếu chúng ta sống yêu thương, giúp đỡ, và có trách nhiệm thì trần thế này sẽ trở thành thiên đường đáng sống. Chúng ta tuy không thuộc trọn về trần thế này phải sống hết mình với nó. Chúng ta dùng trái tim yêu thương mà Chúa ban để mở lòng đón nhận tất cả mọi người. Sống liên đới yêu thương và gắn bố với mọi người. Sống trong trần thế chúng ta có rất nhiều bổn phận phải chu toàn.

Đức Giêsu trong cuộc đời trần thế là mẫu gương cho các Kitô hữu. Ngài đã sống hết mình vì mọi người đến cả hy sinh mạng sống cho mọi người. Ngài thấu hiểu tâm tư khát vọng của những người Do-thái đường thời. Ngài thông cảm với những đau khổ và nỗi cơ cực của phận người. Ngài nhìn thấy thực trạng xã hội Do-thái thời đó như thế nào. Để Ngài giúp họ, làm cho đời sống của họ nên tốt hơn và phù hợp với những giá trị của Tin Mừng.

Bởi thế không bao giờ Chúa muốn chúng ta tách mình ra khỏi trần thế hay chạy trốn những nghĩa vụ trần thế. Sống như Ngài là chia sớt những khổ đau và vất va cuả tha nhân Yêu thương là hành động cho cuộc đời của họ được hạnh phúc hơn và sống xứng với phẩm giá con người. Vì trần thế này là con đường đưa chúng ta về trời.

Chúa lên trời không có nghĩa là Ngài mất nút đi vào không trung mời "thần tiên" ở Lời Chúa luôn mời gọi chúng ta đến với tha nhân để tìm được niềm hạnh phúc của người biết yêu thương. Vì ngày nay con người thường tự tạo cho mình những "thiên đường mong manh". Nơi đó chỉ đóng khung trong bốn bức tường của ngôi nhà biệt thự sang trọng. Nơi đó không có tình yêu thương gia đình mà chỉ có bổn phận và cảnh giả tạo của cuộc sống bên nhau và chính những nơi đó càng ngày con người càng xa rời Chúa và thực tại nước trời vĩnh cữu.

Ước chi chúng ta đừng chỉ đứng nhìn trời mà phải quay về cuộc sống bình thường để chẩn bị hành trang lên đường về quê trời vĩnh cữu sau này.Một hành trang gọn nhẹ vô cùng quý giá là trái tim mến Chúa và yêu người cùng với sự nỗ lực muốn làm điều tốt đẹp cho tha nhân.

TRỞ NÊN MỘT TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA BA NGÔI
Mc 16, 15 - 20
Lm. Paul Đào

Đức Kitô cầu nguyện cùng Chúa Cha xin thánh hiến các môn đệ, và qua các môn đệ chúng ta cũng được ơn thánh hiến trong tình yêu Thiên Chúa. Mỗi lần chúng ta đọc kinh: Thánh, Thánh, Thánh… Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng siêu việt, nổi bật cao trọng khác thường. Và chính trong sự thánh thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa mà chúng ta được kêu gọi thánh hiến bằng sự hiệp nhất trong tình yêu Thiên Chúa. “Cầu cho chúng nên một như chúng ta là một.” Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba ngôi: Ba ngôi hiệp nhất trong một Bản tính Tình yêu. Hiệp nhất nên một trong tình yêu đó là giấc mơ của con người trong tình bạn hữu, trong tình yêu vợ chồng, trong tình yêu nhân loại: “Tứ hải giai huynh đệ.” Và trong Tình yêu Thiên Chúa.

Chính Đức Kitô đã sống sự hiệp nhất với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong suốt cuộc đời cứu thế của mình. Mỗi hoạt động của Đức Kitô đều quy tụ về Tình yêu hiệp nhất Thiên Chúa Ba Ngôi.

Giáo hội hiện hữu và sinh sống hoạt động trong Thiên Chúa duy nhất nhưng Ba ngôi Thiên Chúa. Giáo hội phản ảnh sự hiệp nhất tình yêu Thiên Chúa trong sự khác biệt chủng tộc màu da tiếng nói: đó là hình ảnh thông hiệp ở trần gian bằng sự cầu nguyện, cử hành các bí tích, thực hiện bác ái yêu thương nhau. Nhưng trước tiên, Giáo Hội là hình ảnh thánh thiện của Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh!

Đức Maria cũng là hình ảnh thánh thiện trong sự sống kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa xuống thế làm người trong lòng Đức Trinh Nữ Maria bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Đức Maria cho chúng ta thấy quyền lực Thiên Chúa Cha, bản tính nhân loại nơi Đức Kitô và sức sống hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có cố gắng đem lại chút tình yêu cho tha nhân trong việc giao tiếp chuyện trò, trong công việc làm, trong đời sống gia đình bạn bè, trong sự dấn thân phục vụ tha nhân… để chúng ta trở nên một trong Tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi.

Mỗi người chúng ta là Kitô hữu, là người đã nhận bí tích Rửa tội, cũng là con người như bao nhiêu người khác, nhưng chúng ta có cái khác là thông phần thánh thiện của Thiên Chúa. Đó là chân lý mà Đức Kitô muốn bày tỏ và thực hiện trong sứ mạng của mình. Sự thánh hiến của Đức Kitô cho Chúa Cha, trong Tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi được thể hiện cách trọn vẹn khi Đức Kitô phó mình chịu chết trên cây thánh giá: “Chỉ căn cứ vào điều này chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã thí mạng sống vì chúng ta; như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta phải thí mạng sống vì anh chị em” (1 Ga 3,16).

Chúng ta có ý thức nhận đặc ân cao trọng nầy là được hiệp thông, được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa Ba Ngôi, được thánh hiến trong Tình yêu Thiên Chúa Ba ngôi. Và đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải thánh hiến tha nhân, hiệp thông với tha nhân trong tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi!

LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm. Nguyễn Văn Phan CSsR.

Lễ Thăng Thiên vừa nhắc đến một mầu nhiệm và vừa nói đến quyền năng vươn tới một chiều kích mới. Lễ này chấm hết sứ vụ Đức Kitô trên trần gian và mừng đón Chúa vinh hiển trở về cùng Chúa Cha trên trời. Mặc dầu là hành động cuối cùng của Chúa trên cuộc đời dương thế, hôm nay không phải là một ngày buồn, mà là một ngày vui chan chứa hy vọng. Siêu thăng lên chốn trời cao, Đức Kitô đã đưa mình thoát khỏi chốn “bình thường” để đi vào chốn “khác thường”, từ đất Galilê này mà đến mọi nơi trên trái đất. Người không còn tự giới hạn mình vào một cõi thời gian, cõi không gian, hay một nhóm người nào nữa. Nhờ sức mạnh Thần Khí, Người trở nên hiện diện vô hình và sẵn sàng đến với bất cứ ai muốn tiếp xúc với Người, đảm nhận công việc và chia sẻ vinh quang của Người.

Đối với các tông đồ, hôm nay là ngày bế giảng mãn khóa, là thời gian huấn luyện đã qua, nay bắt đầu nhiệm vu mới, “đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi loại thụ tạo” (Mc 16,15). Lúc Chúa ra đi, các tông đồ chỉ biết đứng trời trồng, bất động. Nỗi buồn bên trong lòng các ông chúng ta có thể hiểu được, vì đây là lần thứ hai các ông trải qua kinh nghiệm đau lòng phải xa cách chia phôi với Thầy chí thánh, biết rằng từ đây cuộc đời không còn được như trước nữa. Có hai người mặc áo trắng xuất hiện lôi các ông về với thực tại, cắt đứt giấc mơ màng và bảo các ông đi làm việc của Thầy mình đã giao phó. Vâng, nhiệm vụ của các ông không phải là đứng nhìn trời, trông chờ điều gì xảy đến. Trong khi Đức Kitô vắng mặt, các ông sẽ là sứ giả của Người, công bố Tin mừng cho người nghèo khó, bị áp bức và cho mọi người.

Đức Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha trong vinh quang hôm nay cũng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một tương lai vĩ đại, dành sẵn cho chúng ta mai sau, đúng hơn là một tương lai mà chúng ta được kêu mời đi tới. Nếu chúng ta vẫn trung thành với giáo huấn của Người, thì ngôi nhà sau hết của chúng ta cũng sẽ là nơi mà Đức Giêsu vừa mới siêu thăng trở về cùng Cha trên trời. Giống như các tông đồ ngày xưa, Đức Kitô ra lệnh cho chúng ta làm chứng nhân của Người trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cho đến tận cùng bờ cõi trái đất. Đó là một công việc dào lâu dễ làm nản lòng thối chí, nhưng chúng ta đã được bảm bảo rằng Người sẽ không để chúng ta mồ côi, nhưng nhờ sức mạnh của Thần khí, Người sẽ ở cùng chúng ta trong mọi nỗi gian truân thử thách cũng như trong mọi nỗ lực phấn đấu của chúng ta.

Cuộc đời này thường được ví như một cuộc lữ hành và chúng ta hết thảy đều là lữ khách đang cùng đi trên con đường thiên lý này. Nhiều anh chị em trong chúng ta do thử thách khổ đau, thất vọng trong cuộc đời, lắm khi ngã lòng trông cậy đến nỗi không còn biết mình đang đi về đâu, không hề biết sẽ có gì đang chờ đón mình ở cuối con đường. Họ luôn tìm hạnh phúc bằng cách sống dựa trên ký ức của quá khứ. Họ thường dành thời gian cuộc đời này để chờ ngóng một cái gì đó không có mục đích nào cả, như các tông đồ xưa ngong ngóng nhìn lên bầu trời. Việc Đức Chúa Giêsu thăng thiên bảo đảm với chúng ta rằng có một mục đích tối hậu cho cuộc đời lữ thứ này, đồng thời đảm bảo với chúng ta rằng hành trình nơi dương thế này, tuy muôn vàn khó khăn, nhưng chắc chắn sẽ dẫn đưa chúng ta về cùng Cha trên trời. Trong lúc này chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng rằng lời Chúa Giêsu hứa khi xưa sẽ trở thành sự thật: “Thầy ở đâu, thì anh em sẽ ở đó”. (Ga 14,3)

ANH EM SẼ LÀ CHỨNG NHÂN CỦA THẦY
Mc 16, 15 - 20
Lm.Giuse Vũ Thái Hòa

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Qua những hình ảnh, lễ Thăng thiên diễn tả việc Chúa Kitô phục sinh từ nay sống trong thế giới của Thiên Chúa mà người ta thường gọi trong ngôn từ tôn giáo là trời (bài đọc 1 và Tin Mừng). Vào thời Đức Giêsu, để diển tả sự vĩ đại, vinh quang của Thiên Chúa, con người không thể đạt tới được, người Do thái dùng hình ảnh của chiều cao: Chúa ở trên cao, ở trên trời. Thiên Chúa được gọi là Đấng Tối Cao (Lc 1,76; Cv 16,17). Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta cũng tuyên xưng: “Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.”

Điều quan trọng đối với các Kitô hữu tiên khởi cũng như đối với chúng ta hôm nay, không phải ở việc muốn biết Đức Giêsu lên trời như thế nào, nhưng là tận hiểu ý nghĩa sự ra đi của Người.

Sau khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Đức Giêsu trở về với Chúa Cha. Từ nay, Chúa Kitô phục sinh vắng mặt về thể hình, không ai có thể thấy hoặc nghe tiếng Người nữa. Tuy nhiên, Người luôn hiện diện với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Sự hiện diện vô hình của Người, chỉ có con mắt đức tin mới thấy được.

Lễ Thăng Thiên là sự kết thúc công cuộc truyền giáo của Đức Giêsu thành Nazarét, và là khởi đầu thời gian của Giáo Hội. Dĩ nhiên, giai đoạn mới này luôn là giai đoạn của Chúa Kitô, vì tất cả đều hướng về Người, cũng như Người là đích điểm của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng đó cũng là thời kỳ của Giáo Hội và các môn đệ để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng : “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8). Đó là ý nghĩa mọi hoạt đồng truyền giáo của Giáo hội. Trước khi lên trời, Đức Kitô giao phó cho tất cả các môn đệ, tức là tất cả Kitô hữu trên toàn cầu, sứ mạng tiếp tục công trình của Người cho đến ngày tận thế.

Chúng ta hãy nghe câu chuyện có thật và rất cảm động sau đây.

Nhà soạn nhạc vĩ đại người Ý Giacomo Puccini (1858-1624) đã viết nhiều vở nhạc kịch lừng danh. Năm 1922, lúc ông được 64 tuổi, thì ông mắc bệnh ung thư. Dầu vậy, ông vẫn quyết định hoàn thành vở nhạc kịch cuối cùng của mình, tức vở Turandot mà hiên nay nhiều người xem như vở nhạc kịch hay nhất của ông. Ông miệt mài làm việc ngày đêm. Nhiều người ép ông nghỉ ngơi, vì theo họ nghĩ, ông không thể nào hoàn tất nổi vở nhạc kịch ấy. Khi thấy căn bệnh ngày càng nặng hơn, Puccini nói với các đệ tử: “Nếu ta không hoàn tất được vở Turandot thì các trò hãy cố gắng hoàn tất nó cho ta.”

Vào năm 1924, Puccini được học trò đem đến Bruxelles để giải phẫu, nhưng hai ngày sau cuộc giải phẫu đó, thì ông qua đời. Trở về Ý, các đệ tử của Puccini nghiên cứu kỹ lưỡng vở Turandot và tiếp tục viết cho đến lúc hoàn thành trọn vở nhạc kịch đó.

Hai năm sau, vở nhạc kịch được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát lớn La Scala thuộc thành phố Milan, do Arturo Toscanini, người học trò ưu tú của Puccini điều khiển. Mọi sự đều trôi chảy tốt đẹp cho đến khúc nhạc mà Puccini buộc phải ngừng bút. Nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt Toscanini. Anh cho giàn nhạc dừng bản nhạc kịch lại, đặt cây gậy điều khiển xuống rồi quay về khán thính giả và nói lớn: “Sư phụ chúng tôi đã viết được đến đây, rồi người qua đời.”

Lúc đó toàn thể nhà hát đều im bặt, không cử động. Sau vài phút, Toscanini cúi xuống cầm gập điều khiển lên, quay về cử tọa mỉm cười qua dòng lệ rồi thốt lên: “Nhưng các đệ tử đã hoàn tất công việc của người”. Vở Turandot vừa dứt thì toàn thể khán thính giả vỗ tay ầm ầm như sấm vang. Những người có mặt lúc đó không thể nào quên được giây phút ấy.

Câu chuyện sáng tác vở nhạc kịch Turandot của Puccini có nét rất giống với công việc truyền giáo của Giáo hội chúng ta.

Trước khi su phụ Giêsu hoàn tất công trình lập nước Thiên Chúa trên trần gian, thì Người lên trời. Nhưng trước đó, Người đã yêu cầu các môn đệ hoàn tất việc ấy y như Puccini đã yêu cầu các đệ tử hoàn tất vở nhạc kịch Turandot.

Trước khi lên trời, Đức Giêsu nói với các Tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Công việc của Puccini được một vài đệ tử hoàn tất trong vòng ít năm, còn công việc của Đức Giêsu cần đến rất nhiều thế hệ mới có thể hoàn tất được; và đó không phải chỉ là việc của vài môn đệ, mà là tất cả các môn đệ thuộc mọi thời đại. Thánh Phaolô có nói: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Co 9,16).

Nhưng truyền giáo không chỉ là công việc của các Linh mục và Tu sĩ mà là của tất cả các Kitô hữu. Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta có bổn phận cộng tác vào việc xây dựng và mở mang Nước Chúa. Tất cả chúng ta đều có thể rao giảng Tin Mừng ngay trong gia đình, trong khu phố và trong cộng đoàn chúng ta. Mỗi người đều có thể là sứ giả Tin Mừng, thợ xây hoà bình và là người gieo niềm vui và hy vọng.

Ngày xưa, chỉ với 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho hơn năm ngàn người ăn no nê, thì bây giờ Chúa cũng muốn và cần đến sự cộng tác, tuy nhỏ bé và hạn chế, của mỗi người chúng ta hầu hoàn thành những kỳ công của Người.

CÁC CON HÃY ĐI RAO GIẢNG VÀ RỬA TỘI CHO HỌ
Mc 16, 15 - 20
Lm. Thu Băng CMC.

Trong một cuộc tổ chức cho các em chạy đua tiếp sức, tôi thấy lúc quan trọng nhất mà các em cổ động mạnh là lúc em đang chạy đưa cây gậy tiếp sức cho em kế tiếp, vì lúc đó là lúc quyết định được sự thành bại của cuộc chạy đua. Ai trao chậm là phần thắng chậm lại.

Cũng thế, Chúa Giêsu chính là người chạy xong phần của mình và đang trao cây gậy trách nhiệm tiếp sức cho các tông đồ chạy tiếp. Ngài ủy thác cho họ chu toàn công việc của Ngài đã làm nơi trần gian: "Hãy đi rao giảng, dạy cho muôn dân" (Mt. 28). "Hãy tiếp tục thay nhau làm chưng nhân về Thầy cho đến tận thế" (Eph.1:17-23).

Trong thế kỷ này chúng ta làm cách nào để thi hành sứ mệnh Chúa trao ban: Làm nhân chứng và chỉ cho mọi người biết về Chúa?

Có nhiều phương cách để thực hiện:

- Nếu bạn vừa tốt nghiệp đại học, bạn hãy thực hiện như hai bác sỹ vừa ra trường: một người từ Chicago, một người từ Dallas được nhà thương Israel tại Boston nhận việc. Cả hai hợp tác với nhau, bàn chuyện với nhau để phục vụ bệnh nhân, khiến nhiều bệnh nhân kính nể và khen trường học đã đào tạo nên hai người (phục vụ tốt là đem bình an hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người).

Hoặc như anh chị T... N.... tại St.Louis (MO) khi lập gia đình anh chị hứa với tôi sẽ tình nguyện đi phục vụ đồng bào tị nạn Hongkong 4 năm. Sáu năm sau gặp lại anh chị với 3 cháu nhỏ, tôi hỏi lại điều quyết định ấy, anh chị trả lời cách vui vẻ:

- Chúng con mua nhà ngay bên đó sinh sống và làm việc giúp dân tị nạn cho tới ngày nào đóng cửa trại, vì nhờ việc phục vụ này, nhiều người nhận được ơn cứ rỗi lắm.

Chúng ta cũng có thể làm điều mà nhiều người đang thực hiện mà không sợ xấu hổ, đi lượm lon trên các ngã đường đem bán lấy tiền giúp cho các trại cùi. Một người nói nhỏ với tôi: "Con làm việc thiện không sợ cùi" tức là bất chấp tiếng chê, dèm pha, chỉ trích, xét đoán lệch lạc.... "Con đã gửi về các trại cùi một số tiền không ai nghĩ tới $ 5,000 Đollas Mỹ".

Tuy nhiên còn nhiều phương thế khác chúng ta đã và đang chu toàn việc Chúa ủy thác và có lẽ còn về lâu về dài, còn đòi nhiều hy sinh cam đảm hơn nữa. Đó là làm chứng nhân và làm thầy dạy ngay trong gia đình, trong xứ đạo, trong sở làm, trong chủng viện, trong môi trường cuộc sống.

Hãy cố gắng chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao ban; hãy nhẫn nại chịu đựng mọi phiền toái khi phục vụ; Hãy sống với mọi người như Chúa sống bên họ.... cũng chính là đem Chúa đến cho mọi người. Robert nói trong cuốn "Bản vũ nhạc của lý trí - Masque of Reason: Phần lớn người ta không thể nghĩ ra hết các sự việc đâu. Họ chỉ nhìn thấy những việc ấy qua hành vi người khác làm mà thôi".

Ông Trung Thành bạn tôi kể rằng: Ngày đó vợ tôi bị đau và cơn bệnh kéo dài khiến nàng bị kệt quệ cả về tinh thần lẫn thể xác. Cơn thử thách đè nặng trên tôi và làm sức khoẻ tôi cũng bị suy sụp. Bỗng một biến cố đã bị quên lãng từ hồi tôi mới 10 tuổi, chợt loé lên trong lòng. Biến cố ấy xảy ra khi mẹ tôi bị đau nặng. Nửa đêm hôm ấy tôi thức giấc vì khát nước, tôi đi ngang qua phòng ngủ của bố mẹ tôi, chợt tôi thấy bố tôi đang ngồi bên cạnh giường của mẹ và mẹ đang ngủ say. Tôi bước vào hỏi bố:

- Bố ơi, bệnh mẹ nặng lắm hả? Bố tôi bình thản trả lời:

- Không nặng đâu con, bố chỉ ngồi đây chờ đợi khi mẹ con thức giấc có cần gì thì bố làm cho mẹ thôi.

Nhờ nhớ lại biến cố ấy mà tôi có đủ can đảm cần thiết để phục dịch và đương đầu với hoàn cảnh.

Làm chứng cho Chúa và giúp cho người khác biết về Ngài chỉ là chia sẻ cho họ niềm tin và tình yêu mà chính mình đã tiếp nhận từ nơi Chúa, cho người khác. Sứ điệp Thăng Thiên chỉ đơn giản có thế. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tiếp nhận từ nơi Ngài, đồng thời Ngài sai chúng ta tiếp tục trao ân cho đồng loại, giúp mọi người, tốt với mọi người theo bất cứ cách thức nào Chúa Thánh Thần soi sáng cho chúng ta.

PHẢI HIỂU THẾ NÀO KHI NÓI CHÚA LÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Ngày còn nhỏ, sống gần vùng có nhiều máy bay Mỹ bay ngang dọc bầu trời. Những chiếc máy bay, dù là tuổi nhỏ, tôi vẫn mơ màng hiểu rằng, chúng đang tác oai, tác oái để phục vụ cho mục đích chiến tranh. Những lần nghe tiếng gầm rích xé tan bầu trời, bọn trẻ chúng tôi kéo nhau chạy ra khỏi nhà nhìn lên trời xem máy bay bay mà khoái chí, mà thỏa thích và lắm lúc còn hun đúc ước mơ được phóng lên trời bay như máy bay, oai biết mấy.

Cũng vẫn là những ngày còn nhỏ, ngày lễ Chúa Giêsu lên trời, tôi lại ra sân tìm kiếm. Không phải đi tìm máy bay nhưng là tìm Chúa Giêsu xem Chúa lên trời thế nào. Trong tưởng tượng, tôi cảm nhận rằng, chắc Chúa đẹp lắm, không đen sì như những chiếc máy bay, chắc Chúa hiền từ lắm, không ồn ào như máy bay… Trong tư tưởng non nớt của tôi làm sao hiểu nổi chuyện Chúa lên trời. Tìm kiếm trên bầu trời chán và mỏi, tôi đến gặp mẹ. Mẹ tôi cũng chẳng thể cho tôi một điều gì khá hơn. Bà chỉ biết có mỗi một chuyện: “Hôm nay Chúa lên trời”, và không giải thích gì thêm để một thằng bé như tôi hiểu được. Và trong tôi còn mãi một thắc mắc, Chúa đã lên trời sao không thấy. Máy bay lên trời còn thấy bay đi bay lại kia mà! Ngày ấy, hình như tôi hiểu Chúa lên trời quá là nghĩa đen. Dù vậy, bây giờ đã có một hiểu biết nhất định, sao tôi vẫn không thể thay thế được cái nghĩa đen ấy!

Đúng là ngôn ngữ của Thánh Kinh cho phép chúng ta hiểu Chúa lên trời theo nghĩa đen. Chẳng hạn bài đọc một, trích sách Công vụ Tông đồ cho biết:
“Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông” (Cv 1, 9). Nhưng với một sự kiện của lòng tin lớn như biến cố Chúa thăng thiên mà lại chỉ dừng lại ở nghĩa đen như thế, thì quả là làm thiệt hại đức tin biết bao nhiêu. Bởi điều quan trọng không nằm ở sự kiện Chúa lên trời cho bằng khám phá lại ý nghĩa của lễ Chúa lên trời hôm nay.

Bạn và tôi có quyền hiểu Chúa thăng thiên theo nghĩa đen, nhưng bạn và tôi không được quyền dừng lại ở đó. Ta không bao giờ được phép xem Chúa lên trời như là một chiến thắng đang say trong men chiến thắng, một cao ngạo, một sự trả thù của người bị hại đối với những người đã từng treo Chúa lên thánh giá. Nếu chỉ như thế thì chắc Chúa đã không lên trời!

Lên trời là một sự chiến thắng, một vinh quang. Đúng! Nhưng chiến thắng và vinh quang theo nghĩa nào?

Bài Tin Mừng cho biết,
Chúa Giêsu lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Giáo Hội không ngừng lặp lại lời tuyên xưng này qua mọi thời, mọi thế hệ trong lời tuyên tín của mình.

Cụm từ “CHÚA LÊN TRỜI” đủ để cho thấy VINH QUANG THIÊN CHÚA của Người. Chúa đã một lần làm người. Nghĩa là đã một lần Người hạ mình hóa nên nhục thể. Vinh quang của Người là vinh quang Thiên Chúa. Nhưng vinh quang ấy đã bị che lấp trong cuộc đời trần thế, đến nỗi có lần thư gởi tín hữu Do thái phải bộc bạch: “Khi còn sống kiếp phàm nhân Chúa Giêsu đã lớn tiếng kêu vang khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết… Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”. Hôm nay về trời cũng là chính lúc Chúa Kitô về lại với vinh quang mà Người vẫn có. Nói cho thật nôm na, dễ hiểu: Về trời chính là lúc Chúa Kitô trở lại “kiếp Chúa” của Người. Vinh quang bị che lấp, giờ đây tỏ lộ. Nếu trong quá khứ, “Người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn”, thì giờ đây, “Người được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên” (Dt 2, 9). Vinh quang danh dự mà Chúa Kitô lãnh nhận hôm nay là vinh quang cao cả, là chiến thắng lớn lao: Chúa bước vào vĩnh cửu. Trong vinh quang vĩnh cửu ấy, chính “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Để khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Phil 2, 9- 11). Cũng chính trong vinh quang Đức Chúa của mình, Chúa Giêsu làm chủ mọi loài,, Người làm vua toàn vũ trụ. Vì nơ Người chính “Thiên Chúa đã đưa thời gian tới hồi viên mãn, đã quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Eph 1, 10). Hay như bài đọc hai diễn tả: Chúa Kitô “Vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này, lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Người, và tôn Người làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Người, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người” (Eph 1, 21- 23).

Nhưng vinh quang thiên quốc của Chúa Kitô, không chỉ quy tụ nơi chính bản thân Người mà thôi. Vinh quang của Chúa Kitô là ánh sáng chói ngời chiếu thẳng vào niềm hy vọng của chúng ta. Chúa thăng thiên để nhờ Người, trong Người và với Người, ta cũng được thăng thiên. Vì nếu đã có một con người mang tên Giêsu được vinh thăng, thì mọi người có quyền hy vọng nếm hưởng vinh quang Thiên Chúa với Người. Như vậy lễ thăng thiên là lễ thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người: sống đời đời trong hạnh phúc và vinh quang vĩnh cửu.

Vì thế, hôm nay mừng lễ Chúa thăng thiên, hướng lòng về Thiên Chúa, và chiêm ngắm vinh quang của Chúa Kitô, loài người chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ. Xin dâng muôn lời cảm tạ tri ân Thiên Chúa. Bởi thân phận bé nhỏ là thế, nhưng loài người lại có vận mạng được đặt nơi Thiên Chúa. Do đó dẫu là thuộc về đất thấp, loài người vẫn mang nơi mình một chiều cao thăm thẳm: vận mạng được vĩnh cửu hóa và Thiên Chúa là Chúa vĩnh cửu đã thương trao ban cho loài người, cho từng người một, một vận mạng không bao giờ có thể lạc mất.

Lạy Chúa, chúc tụng tình yêu vô ngần của Chúa, vì nhờ đó, thân phận bụi tro của chúng con được hóa thần nhờ ơn thần hóa Chúa ban. Amen.

SỨ VỤ LÊN ĐƯỜNG
Mc 16, 15 - 20
Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

Hôm nay cộng đoàn chúng ta họp nhau trong ngôi thánh đường này để mừng trọng thể lễ Chúa Thăng Thiên. Đây cũng là ngày Giáo Hội dành làm “Ngày truyền thông thế giới”. Khi chọn ngày lễ này làm ngày truyền thông, Giáo Hội muốn nhắc nhở từng người chúng ta ý thức hơn đến việc loan truyền cho mọi người Tin Mừng Phục Sinh, một Tin Mừng vĩ đại nhất qua mọi thời đại và có khả năng biến đổi cuộc sống của những ai tin nhận.

Không chỉ hôm nay, nếu để ý, chúng ta sẽ thấy trong suốt những tuần lễ vừa qua, dưới nhiều hình thức khác nhau, phụng vụ lời Chúa cũng đã luôn mời gọi chúng ta phải lên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Đức Kitô.

Ngay trong Chúa Nhật Phục Sinh, Maria Mađalêna đã là người đầu tiên loan báo cho hai môn đệ Phêrô và Gioan về sự kiện ngôi mộ trống, dấu chỉ của Đấng Phục Sinh. Rồi tám ngày sau, vào Chúa Nhật II Phục Sinh, trong lần hiện ra với các tông đồ có cả Tôma, chính Đấng Phục Sinh đã truyền cho các tông đồ “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20, 21). Kế đến, trong Chúa Nhật III, Tin Mừng Luca còn thuật lại cho chúng ta việc Đấng Phục Sinh hiện đến với các tông đồ khi đó đang tụ họp cùng với hai môn đệ vừa từ làng Emmaus trở về. Và cả lần này, Đấng Phục Sinh cũng giao cho các ông sứ mạng “nhân danh Người rao giảng sự thống hối… bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24, 47). Ngài còn nhấn mạnh: “Còn các con, các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy” (Lc 24, 48). Còn trong Chúa Nhật IV, chúng ta đọc được tâm sự của Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành: “Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn” (Ga 10, 16a). Được gia nhập vào đoàn chiên duy nhất của Đấng Phục Sinh như cành nho liên kết với thân nho, từng người chúng ta cũng được mời gọi sinh hoa trái bằng đời sống bác ái yêu thương. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người tin nhận Đấng Phục Sinh. Đó chính là giáo huấn của lời Chúa trong Chúa Nhật V Phục Sinh. Còn trong Chúa Nhật vừa qua, Đức Kitô xác định rõ với từng người chúng ta: “Chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái” (Ga 15, 16). Và hôm nay, trước khi chấm dứt giai đoạn hiện diện hữu hình của mình với các môn đệ, một lần nữa, Đấng Phục Sinh đã giao cho các tông đồ sứ mạng: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật”.

Như thế, loan báo Tin Mừng Phục Sinh không còn là một điều mà chúng ta muốn làm hay không tuỳ thích, nhưng là một sứ mạng, một bổn phận bắt buộc cho tất cả những ai muốn xưng mình là kitô hữu. Ý thức điều đó, Công đồng Vatican II, trong Sắc lệnh về truyền giáo, số 2 đã nói: “Bản chất của Giáo Hội là truyền giáo”. Giáo Hội phải loan truyền cho mọi người về Tin Mừng Phục Sinh, vì từ đây, Đấng Phục Sinh không còn hiện diện hữu hình với chúng ta nữa. Chúa lên trời, không phải là Ngài không còn hiện diện với con người nữa, nhưng là hiện diện với một cách thức mới, hiệu quả hơn, như lời Ngài đã hứa: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Lịch sử Giáo Hội đang bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn mở ra cho muôn dân. Đó cũng là một trong những lý do khiến Giáo Hội chọn ngày lễ hôm nay làm ngày “Truyền thông thế giới”. Từ đây, Giáo Hội có nhiệm vụ truyền thông cho thế giới về Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng của Tình yêu và Sự sống, Tin Mừng của niềm Hy vọng.

Chúa lên trời, Ngài không trực tiếp hoạt động nữa nhưng trao cho các tông đồ và từng người chúng ta tiếp tục sứ mạng đem ơn cứu độ của Ngài cho muôn dân. Ngài muốn mượn đôi tay, đôi chân, và cả con tim của chúng ta để thông truyền Tin Mừng đó cho mọi người ngay trong chính môi trường chúng ta đang sống. Sách Công vụ Tông đồ thuật lại, sau khi Đức Giêsu Phục Sinh về trời, đang lúc các môn đệ vẫn còn ngước mắt lên trời, thì thiên sứ đã nhắc các ông: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn trời…”. Các tông đồ không được phép đứng đó mãi nhìn trời. Các ông phải trở về với cuộc sống hiện tại để làm chứng cho Đấng Phục Sinh.

Cũng thế, là một kitô hữu, chúng ta không chỉ đọc kinh, tham dự các nghi lễ phụng vụ ở nhà thờ, chúng ta phải trở về nhà, đối diện với mọi vất vả trong cuộc sống thường ngày như những người khác. Các bậc phụ huynh vẫn phải vất vả đi biển, ngược xuôi buôn bán, các em nhỏ cũng phải bận rộn với việc học hành các kiến thức văn hoá, xã hội… tắt một lời, trước mắt mọi người, mỗi người chúng ta vẫn phải sinh hoạt, lo toan mọi điều trong cuộc sống như bất cứ một người nào. Tuy nhiên, ngay giữa cuộc sống đó, chúng ta vẫn có thể thông truyền Tin Mừng Phục Sinh, loan báo cho mọi người biết rằng sau cuộc sống hiện tại này, còn có một quê hương vĩnh cửu trên trời, nếu chúng ta giữ mình không gian dối, lừa đảo, không tham lam bất chính, luôn chung thuỷ trong đời sống gia đình.

Chúng ta không được phép chỉ nhìn trời, nhưng phải nhìn đến những người đang sống quanh ta, đó là người chồng, người vợ, là cha mẹ, con cái, là anh chị em và cả những người hàng xóm, láng giềng, những người hợp ý với chúng ta lẫn những người làm chúng ta khó chịu. Nếu trong một gia đình Công Giáo luôn trên thuận dưới hoà, anh chị em luôn biết tha thứ, đùm bọc yêu thương nhau. Nhất là nếu chúng ta luôn biết quan tâm chia sẻ, nâng đỡ những người hàng xóm, không phân biệt lương giáo những lúc “tối lửa, tắt đèn”, thì tôi thiết nghĩ, đó là cách tốt nhất để chúng ta thông truyền cho mọi người về một Tình yêu phổ quát của Đấng Phục Sinh, Đấng đã chết và sống lại cho tất cả chúng ta.

Để sống được như vậy không phải là điều dễ dàng. Với kinh nghiệm bản thân của mình, chắc hẳn mỗi người chúng ta cũng có cùng một cảm nghiệm với thánh Phaolô: “Điều lành tôi muốn tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn, tôi lại làm” (Rm 7, 20). Những điều đối với chúng ta là không thể, thì đối với Thiên Chúa lại là có thể. Do đó, mỗi người chúng ta hãy hoạt động trong sức mạnh của Đấng Phục Sinh và dưới tác động của Thánh Thần. Thánh Phaolô trong bài đọc hai đã nhắc bảo chúng ta hãy luôn cậy trông vào ơn Chúa: “Xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi… và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta”.

Lòng trông cậy của chúng ta không phải là một sự trông cậy viễn vông, nhưng dựa vào chính lời hứa của Đấng Phục Sinh trước lúc về trời: “Hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa… Phần các con, …, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần… Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con”. Lời hứa này đã được chứng thực qua hoạt động rao giảng của các tông đồ thuở ban đầu. Thánh sử Marcô thuật lại: “Các ông đi giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo”.

Tóm lại, chúng ta có thể chu toàn sứ mạng thông truyền Tin Mừng bằng chính đời sống công chính, yêu thương, nhường nhịn, tha thứ cho dù chỉ là một câu nói và một tấm lòng mở rộng sẵn sàng cảm thông của chúng ta. Chính đời sống đó sẽ là một dấu lạ cho mọi người nhận ra rằng có một Thiên Chúa đang ở với chúng ta. Chớ gì nhờ sức mạnh của Thánh Thể nâng đỡ, từng người, từng gia đình và cả cộng đoàn giáo xứ chúng ta sẽ trở thành một lời chứng hùng hồn cho Tin Mừng yêu thương và hy vọng của Đấng Phục Sinh. Amen.

LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI
Mc 16, 15 - 20
John Nguyễn

1. Lời trăn trối cuối cùng
Trước khi từ giã các môn đệ để về trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giêsu đã trăn trối nhiều điều. Những lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi về trời.

- Những trăn trối trong bữa tiệc ly nói lên tinh thần mà môn đệ của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau (Ga 13), tin và hợp tác với Thánh Thần (Ga 14; 16), liên kết chặt chẽ với Ngài (Ga 15), hiệp nhất với nhau (Ga 17), mong đợi Ngài trở lại (Ga 16).

- Còn lời trăn trối ngay trước khi Ngài về trời nói lên việc mà các môn đệ Ngài phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.

Về lời trăn trối sau, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì? Chẳng hạn biết rõ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rõ mình cần phải ăn gì để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy có ích lợi gì? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia! (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).

Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ. «Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc 2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Cũng như có đồ mà không đem ra dùng thì đồ ấy có ích lợi gì? hoặc cho người ta đồ mà không chỉ cho người ta cách sử dụng thì coi chừng kẻo làm hại người ta? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn», với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!

2
. Những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin

Theo lời của Đức Giêsu thì những kẻ có lòng tin đích thực - tức tin và sống điều mình tin - sẽ có được những dấu lạ theo mình: «Họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ». Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm, không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn cắn mà không sao! Vì thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu như sau:

- «trừ được quỉ»: quỉ tượng trưng cho thế lực của sự ác. Người thật sự tin vào Thiên Chúa - là nguồn sức mạnh của mình - có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay trong bản thân mình. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v… Nếu đức tin của họ mạnh hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế lực ác giống như họ.

- «nói được những tiếng mới lạ»: người có đức tin đích thực và sống nhuần nhuyễn đức tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và Đức Giêsu, tức chứng ngộ được chân lý nơi bản thân mình. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt đức tin của mình theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói sáo mòn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với trình độ của người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế đức tin như họ. Họ như một y sĩ đã nắm thật vững cốt yếu của y lý nên biết tùy bệnh mà tự mình cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ chưa nắm vững y lý. Hay như một thầy giáo đã tiêu hóa thật kỹ môn mình dạy nên chỉ cần nói tất cả những gì đang có sẵn trong bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một cách sáng tạo theo đủ kiểu đủ cách mới lạ để học sinh dễ hiểu mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo trình mẫu do người khác soạn sẵn.

- «cầm được rắn trong tay»: người có đức tin đích thực ắt nhiên có tâm hồn an bình và đầy tràn tình yêu. Họ coi mọi người - dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ - như anh em ruột thịt và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. Vì thế, họ có thể tiếp cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại, vì những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được tình thương của họ dành cho mình: không ai lại muốn hại người đang yêu thương mình.

- «dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao»: tất cả những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm mất được sự bình an và hạnh phúc của những người có đức tin thật sự. Với đức tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do tình thương của Ngài. Họ tin rằng: « Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người» (Rm 8,28) và «những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (8,18). Vì thế, họ rất vui khi đau khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào cũng không hề làm hại được họ.

- «nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ»: Ngoài ra người có đức tin đích thực còn có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác - là người bị bệnh về tâm linh - trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ cũng cảm thấy mình bình an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai mình hơn.

3. «Có Chúa cùng hoạt động» với người rao giảng Tin Mừng

Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: «Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng». Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu - nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà còn làm cho họ sống Tin Mừng nữa - đó là «có Chúa cùng hoạt động với họ». Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng? - Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có «những dấu lạ kèm theo» xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý. Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất - có khả năng thuyết phục những người nghe họ - chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục», đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ. Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn «có Chúa cùng hoạt động» như vậy!

Cầu nguyện

Lạy Cha, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách thực tế và sống động. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của mình hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu! Thế mà con lại rao giảng thật hùng hồn về đức tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống.

Nguồn vietcatholic.org

1001    16-05-2015 07:18:38