Sidebar

Thứ Bảy
13.04.2024

Chúa Nhật IV Mùa Chay C

  1. Chúa Nhật  IV Mùa Chay C
  2. Chúa Nhật IV Mùa Chay C
  3. Chúa Nhật IV MC Năm C
  4. Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm C
  5. Trở Về Với Tình Cha
  6. Trở Về
  7. Lý Lẽ Của Con Tim
  8. Người Cha Nhân Hậu
  9. Tình Cha
  10. Chúa Nhật IV Mùa Chay
  11. Trở Về
  12. Trở Về Với Cha 
  13. Trở Về Được Đón Nhận
  14. Trở Về Trong Tình Yêu
  15. Đáp Lại Lòng Cha Bao Dung
  16. Con Ta Đã Mất Và Nay Lại Tìm Thấy
  17. Làm Hòa
  18. Người Cha Nhân Hậu
  19. Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót
  20. Người Con Phung Phí
  21. Về Với Tình Yêu Chúa
  22. Hỏng Hết ! Hỏng Hết
  23. Tình Cha Hậu Hỉ
  24. Ơn Cha
  25. Người Cha Nhân Từ
  26. Thiên Chúa Nhân Từ Tha Thứ
  27. Đường Thành Công
  28. Người Cha Nhân Từ
  29. Chúa Nhân Hậu
  30. Đường Của Con Người Và Đường Của Thiên Chúa
  31. Trở Về Với Thiên Chúa
  32. Chúa Đang Khát Khao Mong Đợi
  33. Người Cha Nhân Lành
  34. Chúng Ta Phải Ăn Mừng Hoan Hỷ
  35. Có Một Người Cha
  36. Mở Tiệc Ăn Mừng
  37. Chúa Nhật IV Mùa Chay
  38. Gặp Được Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa
  39. Học Đòi Yêu Thương Như Cha Trên Trời
  40. Người Cha Nhân Từ

 

CHÚA NHẬT  IV MÙA CHAY C
Lc 15,1-3.11-32

Trong giáo lý nhà Phật cũng có câu chuyện gọi là "Dụ ngôn người con hoang đàng". Câu chuyện kể về một người con bỏ cha, lên đường đi đến một nơi xa xôi sinh sống theo sự tự do phóng khoáng của mình. Vì ăn chơi thái quá anh trở nên nghèo khổ. Người cha ở nhà, sau bao năm tháng chờ đợi không thấy con trở về, đành lên đường đi tìm con. Sau nhiều năm tìm kiếm, hỏi han, người cha đã tìm ra được tung tích của người con mình. Nhưng người con lại không thể nào nhận ra được cha nó, một ông già đầy quyền lực và cao sang. Người con vẫn tiếp tục từ chối và lẩn trốn. Người cha rất đau lòng để con mình lẩn trốn như vậy, nhưng ông ra lệnh cho gia nhân theo dõi cậu, mướn cậu vào nhà làm việc cho ông. Sau đó, người cha vứt bỏ quần áo sang trọng, ngọc ngà của mình đi, đóng vai một người đầy tớ để có cơ hội gần gũi và chinh phục người con. Qua nhiều năm thân thiết người cha đã chinh phục được trọn vẹn tình cảm của cậu. Sau cùng vào cuối đời, người cha mới tiết lộ cho biết anh là con của ông và được quyền thừa kế tất cả gia tài của cha để lại.

Câu chuyện này không khác gì lịch sử cứu độ của Thiên Chúa đối với loài người. Thiên Chúa luôn yêu thương tìm kiếm con người. Còn con người cứ lẩn trốn, để rồi sau cùng, Thiên Chúa phải sai Con Một xuống thế, làm người đầy tớ đau khổ (Is 53,10-12), dùng cái chết của mình để thuyết phục và nói cho con người biết chức vị làm con cái Thiên Chúa của mình với quyền thừa kế hạnh phúc đời đời trên Nước Trời (Ga 3,16-17).

Ta thường gọi dụ ngôn này là dụ ngôn "đứa con hoang đàng", nhưng có lẽ phải gọi là dụ ngôn "Người cha nhân hậu" mới đúng, vì nó cho ta biết về tình yêu của người cha hơn là về tội của người con.

Bài dụ ngôn chúng ta vừa nghe đó là một trong những bài dụ ngôn đẹp nhất trong Tin mừng, nó diễn tả tình thương của Thiên Chúa dành cho con người qua hình ảnh của người cha trong gia đình. Có lẽ người cha trong dụ ngôn có phần kém mai mắn, mặc dù ông rất giàu có nhưng có hai đứa con không có hiếu với mình. Người con thứ thì đã quá rõ, Khi lớn khôn thay vì anh phải phụng dưỡng cha già thì anh lại đòi chia gia tài, một hành động thất khó chấp nhận theo quan niệm của người Do thái. Vì người con chỉ được phép đòi chia gia tài khi cha chết hoặc người cha tự ý chia cho các con khi thấy mình già yếu. Hành động của người con thứ khác nào nguyền rủa cho cha mình mau chết. Người con cả xem ra có hiếu hơn, biết nghe lời cha hơn. Nhưng đáng buồn thay, bấy lau nay anh sống với cha chỉ là la\àm vì bổn phận hơn là vì yêu mến cha. Anh luôn nhìn cha mình bằng thái độ sợ sệt giống như người làm công hơn là con. Điều làm cho người cha đau lòng chính là thái độ của anh đối với em. Anh không muốn coi mình có người em này, anh không gọi nó là "em con" nhưng là "cái thằng con của cha kia". Anh không hề thông cảm và tỏ ra tha thứ cho những lầm lỗi của em, cũng không hề thấu hiểu cho nỗi đau của cha khi phải mất con. Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh của người con cả để cảnh tỉnh thái độ của những người Biệt phái và luật sĩ. Họ luôn coi mình là thành phần ưu tuyển của Chúa vì mình luôn chu toàn lề luật. Họ trách Chúa Giêsu vì đã đi lại với những người thu thế tội lỗi và lại còn ngôì ăn chung với họ nữa. Phải chăng đay cũng là hình ảnh gợi ý cho mỗi người chúng ta. Thay vì thấy mình tốt, mình được sống trong ơn nghĩa Chúa lẽ ra mình phải có bổn phận nâng đỡ những người lầm lỗi, biết vui mừng khi thấy họ ăn năn trở lại, biết yêu thương và nâng đỡ họ vượt qua mặc cảm để bắt đầu lại thì chúng ta lại thường tỏ vẻ khinh thường chỉ trích. Làm như thế khác nào chúng ta lại đẩy họ đi xa hơn.

Cách hành xử của Thiên Chúa khác xa con người. Bằng chứng sau khi người con thứ phun phí hết tài sản của mình, bước vào con đường nghèo đói, nghèo đến độ muốn ăn đồ ăn của heo mà cũng không được. Khi anh lâm vào con đường cùng thì anh mới nhớ đến cha, nhớ những ngày mình được sống sung túc trong nhà cha mà không phải lo nghĩ gì. Hành động quay về của anh có thể chỉ xuất phát từ sự cùng cực của mình, muốn trở về để tìm cái ăn mà sống, chứ chưa thật sự vì yêu mến cha. Anh chỉ muốn cha anh coi anh như là một người làm công thôi, chứ không dám nghĩ tới địa vị làm con của mình. Anh đau biết rằng ngày anh ra đi cũng là lúc mà hằng ngày người cha vẫn luôn trông ngóng mong anh trở về. Anh còn ở đằng xa thì cha đã thấy anh, chạy ra ôm lấy con mình. Ơng không đợi cho người con nói hết lời xin lỗi mà ngay lập tức đã sai đầy tớ mang áo, mang nhẫn ra đeo cho anh để phục hồi địa vị làm con cho anh. Dụ ngôn không kể cho chúng ta biết tâm trạng của người con thứ lúc đó như thế nào, chắc chắn đó sẽ là những giọt nước vì hạnh phúc vì được yêu thương và tha thứ của cha. Mahadma Gandhi nói "chỉ có người nào trải qua cảm nghiệm được yêu thương khi mình còn là tội lỗi mới cảm nhận được thế nào là tình yêu tha thứ". Đó cũng là cảm nghiệm của người con hoang đàng trong Tin Mừng hôm nay. Thiên Chúa muốn nói với chúng ta rằng: nếu chúng ta phạm tội Ngài vẫn yêu thương chúng ta, vẫn tìm kiếm và trông chờ chúng ta trở về. Điều mà ngài mong muốn nơi chúng ta là phải biết đứng lên và can đảm và trở về. Biết bỏ đời đi hoang để trở về sống hiếu thảo với Cha. Tình thương va lòng tha thứ của Thiên Chúa không bao giờ thiếu, quan trọng là chúng ta có biết đưa tay đón nhận hay không. Bên ngoài trời đang mưa nhưng chúng ta vẫn có thể chết khá nếu không biết dùng thau để hứng nước. Chúa không thể cứu con người nếu con người không chạy đến với Ngài. Bởi vì Ngài luôn trọng tự do của con người, đó là một tặng phẩm vô giá mà Thiên Chúa ban tặng cho con người,  tự do để yêu mến Thiên Chúa nhưng con người cũng có thể dùng nó để khước từ Thiên Chúa thậm chí chống lại Ngài.

Thiên Chúa dựng nên con người và đặ để mỗi người trong hoàn cảnh khác nhau. có những người giữ đạo sốt sắng, luôn chu toàn bổn phận với Chúa, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì ân huệ đó. Đồng thời Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy biết tha thứ và đón nhận những người lầm lỗi, yếu đuối. Bời vì họ là những con người đáng thương. Họ cũng là anh em với chúng ta là con cùng một Cha trên trời. Họ cũng đã được Chúa Giêsu đổ máu ra để cứu chuộc.

Chúng ta đã đi được chặng đường hơn nữa mùa chay, và đang chuẩn bị bước vào Cuộc khổ nạn và Phục sinh của Đức Kitô. Lời Chúa trong mùa chay luôn là lời mời gọi hoán cải và đổi mới để trở về làm hoà với Chúa. Chúng ta hãy can đảm nhận ra những khuyết điểm và tội lỗi  của mình không phải để mặc cảm tự ti nhưng là để mạnh dạn trở về cùng Chúa, Đấng luôn yêu thương và chờ đợi chúng ta. Đừng nghĩ rằng tôi tội quá nặng lỗi quá nhiều nên Chúa không thể tha. Chúng ta hãy nhìn lên thánh giá, Chúa Giêsu đã chết trên thập giá cũng là vì tội lỗi của chúng ta.

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY C
Lc 15,1-3.11-32

Chúng ta đang sống trong những ngày của mùa chay thánh, Lời Chúa trong các chúa nhật mùa chay luôn mời gọi chúng ta hãy trở về với Chúa bằng con đường sám hối. Bài Phúc âm chúng ta vừa nghe cũng là một lời mời gọi sám hối trở về với Chúa để đón nhận ơn tha thứ của Chúa.

Dụ  ngôn chúng ta vừa nghe đó là một trong những bài dụ ngôn đẹp nhất trong Tin mừng, nó diễn tả tình thương của Thiên Chúa dành cho con người qua hình ảnh của người cha trong gia đình. Các bạn có thể đặt tên cho bài dụ ngôn này là gì? Ta thường gọi dụ ngôn này là dụ ngôn "đứa con hoang đàng", nhưng có lẽ phải gọi là dụ ngôn "Người cha nhân hậu" mới đúng, vì nó cho ta biết về tình yêu của người cha hơn là về tội của người con.

Có mấy nhân vật chính trong dụ ngôn?

Người cha trong dụ ngôn có 2 người con. Có lẽ người ơng có phần kém mai mắn, mặc dù ông rất giàu có nhưng có hai đứa con không có hiếu với mình. Người con thứ thì đã quá rõ. Lẽ ra khi lớn khôn thay vì anh phải phụng dưỡng cha già( thì anh lại lm gì n  ).anh lại  đòi chia gia tài, một hành động thất khó chấp nhận theo quan niệm của người Do thái. Vì người con chỉ được phép đòi chia gia tài khi cha chết hoặc người cha tự ý chia cho các con khi thấy mình già yếu. Hành động của người con thứ khác nào nguyền rủa cho cha mình mau chết. Người con cả xem ra có hiếu hơn, biết nghe lời cha hơn.  Anh đang từ ngồi đồng trở về, anh cĩ thi độ thế no khi biết em mình đ trở về? anh cĩ vui ? Những lời của anh nĩi cho thấy tấm lịng của anh, bấy lu nay anh sống với cha chỉ là làm vì bổn phận hơn là vì yêu mến cha. Anh luôn nhìn cha mình bằng thái độ sợ sệt giống như người làm công hơn là con. Điều làm cho người cha đau lòng chính là thái độ của anh đối với em. Anh không muốn coi mình có người em này, anh không gọi nó là "em con" nhưng là "cái thằng con của cha kia". Anh không hề thông cảm và tỏ ra tha thứ cho những lầm lỗi của em, cũng không hề thấu hiểu cho nỗi đau của cha khi phải mất con.

Thái độ của anh cả như thế cịn thi độ của người cha như thế no? Ơng trch mắn quở phạt anh ta, ơng khơng muốn nhận lại con?. Chng ta nghe tiếp cu chuyện. Sau khi người con thứ phun phí hết tài sản của mình, bước vào con đường nghèo đói, nghèo đến độ muốn ăn đồ ăn của heo mà cũng không được. Khi anh lâm vào con đường cùng thì anh mới nhớ đến cha, nhớ những ngày mình được sống sung túc trong nhà cha mà không phải lo nghĩ gì. Hành động quay về của anh có thể chỉ xuất phát từ sự cùng cực của mình, muốn trở về để tìm cái ăn mà sống, chứ chưa thật sự vì yêu mến cha. Anh chỉ muốn cha anh coi anh như là một người làm công thôi, chứ không dám nghĩ tới địa vị làm con của mình. Anh đau biết rằng ngày anh ra đi cũng là lúc mà hằng ngày người cha vẫn luôn trông ngóng mong anh trở về. Anh còn ở đằng xa thì cha đã thấy anh, chạy ra ôm lấy con mình. Ơng không đợi cho người con nói hết lời xin lỗi mà ngay lập tức đã sai đầy tớ mang áo, mang nhẫn ra đeo cho anh để phục hồi địa vị làm con cho anh. Dụ ngôn không kể cho chúng ta biết tâm trạng của người con thứ lúc đó như thế nào, chắc chắn đó sẽ là những giọt nước vì hạnh phúc vì được yêu thương và tha thứ của cha.

Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến ai qua 3 nhân vật trong dụ ngôn?

Người cha? Ám chỉ Thiên Chúa

Người con thứ? Ám chỉ những người có tội biết ăn năn

Người con cả? Ám chỉ những người Biêt phái và những ai tự coi mình tốt và không biết tha thứ

Qua bài dụ ngôn hôm nay, Chúa muốn nói với chúng ta rằng: nếu chúng ta phạm tội Ngài vẫn yêu thương chúng ta, vẫn tìm kiếm và trông chờ chúng ta trở về. Điều mà Ngài mong muốn nơi chúng ta là phải biết đứng lên và can đảm và trở về. Biết bỏ đời đi hoang để trở về sống hiếu thảo với Cha. Tình thương va lòng tha thứ của Thiên Chúa không bao giờ thiếu, quan trọng là chúng ta có biết đưa tay đón nhận hay không. Mỗi khi chúng ta phạm tội, là chúng ta đang trở thành người con hoang đàng, là chúng ta đang bỏ Chúa đó. Vậy mỗi khi chúng ta phạm tội với Chúa thì chúng ta trở về với Chúa bằng cách nào? (qua bí tich giải tội- Chúa rất vui khi chúng ta đi xưng tội). Mỗi khi chúng ta phạm lỗi với anh chị em chúng ta phải làm gì? (xin lỗi- quyết tâm không làm điều đó nữa). Mỗi khi chúng ta phạm lỗi, chúng ta không được tuyệt vọng, và không được nghĩ rằng lỗi của tôi nặng quá không biết Chúa có tha hay không, Chúa luôn luôn tha cho chúng ta chỉ cần chúng ta biết chạy đến với Chúa. Chúa luôn mở rộng đôi tay đón chúng ta trở về

Một bài học khác chúng ta có thể thấy được qua bài dụ ngôn này đó là mình phải biết tha thứ cho người khác. Chúa tha thứ cho chúng ta khi chúng ta có lỗi, và Chúa còn thương chúng ta nhiều hơn vậy thì chúng ta cũng phải biết tha thứ cho những lỗi lầm của người khác. Mỗi khi chúng ta tha thứ cho người khác đó là chúng ta đang trở nên giống Chúa. Các bạn thấy khi mình làm ai giận, hay làm điều gì lỗi với người khác khi được ban mình bỏ qua không giận nữa, tiếp tục chơi với mình, mình có vui không nè?

Mùa chay luôn mời gọi chúng ta biết trở về với Chúa bằng cách từ bỏ con người tội lỗi của mình. Sám hối và trở về với Chúa bằng những việc làm cụ thể, chẳng hạn tôi quyết tâm bỏ bớt đi tật hay nói dối, hay chửi thề nói tục, hay cãi lại cha mẹ. Và sống con người mới là người con của Chúa biết yêu thương người khác, biết tha thứ cho anh chị em, và mau mắn chạy đến với Chúa qua bí tích giải tội khi chúng ta lầm lỗi. Khi làm như thế đó là chúng ta đang sống trong tâm tình là người con của Chúa.

CHÚA NHẬT IV MC NĂM C
Lc 15,1-3.11-32

Kính thưa OBACE! Mùa chay, GH mời gọi chúng ta sám hối trở về. Hôm nay, qua bài TM mà thánh sử Luca tường thuật, CG cho OBACE hiểu trở về để được ích lợi gì?

Trong bài TM chúng ta vừa nghe, người con thứ sau khi xài hết tiền, phải đi làm mướn để sống nhưng vẫn đói. Anh nhận ra tình trạng khốn khổ của mình và quyết tâm trở về với cha. Ích lợi mà anh hướng đến là xin làm đầy tớ để được ăn no, một mong muốn hoàn toàn vật chất. Nhưng thực tế, khi trở về, anh nhận được điều gì? PÂ cho ta thấy, anh nhận ra cha chờ anh từ xa, chạy lại ôm cổ anh, hôn anh hồi lâu. Nhưng trong lúc đang hôn hồi lâu ấy, anh hiểu ra chuyện đói no đối với mình không còn quan trọng nữa, không cần phải xin nữa vì anh đã nhận được thứ quý giá gấp trăm ngàn lần, đó là niềm hạnh phúc lớn lao khi đón nhận tình thương quá sức tưởng trong vòng tay của cha mình.

Kính thưa OBACE! Trở về với Chúa không phải để được Chúa ban làm ăn khắm khá, thăng quan tiến chức, được khỏi bệnh, thoát cảnh nghèo, hết cảnh khổ nhưng để được sống một cuộc đời Kitô hữu có Chúa thật sự sống trong vòng tay yêu thương, sống trong Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Đó là đủ, tất cả những thứ khác không cần thiết, không quan trọng nữa. Con nói như vậy, chắc có một số trong OBACE thắc mắc, mình nghèo, mình khổ thấy mồ, muốn trở về với Chúa để thay đổi hoàn cảnh mà lại bảo Chúa thương là đủ, làm sao người ta chấp nhận được? Bây giờ, chúng ta cùng quay về với LC hôm nay để tìm câu trả lời.

Đứa con thứ trở về được cha ôm vào lòng, lập tức cha sai đầy tớ mặc cái áo đẹp cho cậu, đeo nhẫn vào tay cậu, mang giày vào chân câu. Theo quan niệm người Do Thái lúc bấy giờ, cái áo tượng trưng sự tôn trọng, chiếc nhẫn tượng trưng sự thay thế quyền bính, mang giày nói lên dấu hiệu một đứa con. Như vậy, những thứ đồ đạc cần thiết của một đứa con, người cha đã trao lại cho người con thứ, cũng đồng nghĩa với tha thứ và sẵn sàng đón con vào nhà. Trong đời sống đạo của OBACE cũng vậy, một khi chúng ta hối cải trở về với Chúa và nhận ra mình đang sống trong vòng tay, trong lòng thương xót Chúa thì TC cũng sẽ trả lại cương vị đứa con thừa tự Nước Trời cho chúng ta vốn bị đánh mất do tội, hạnh phúc thiên đàng Chúa sẽ trao ban. Khi đó, mục đích sống đạo của mình đã đạt được, đã thành công. Như vậy, ở trong vòng tay yêu thương của Chúa không phải là đầy đủ lắm sao thưa OBACE?

Vậy thì đến với Chúa, phần thưởng thiên đàng được ban mà cuộc sống hiện tại vẫn khổ hoài thì tính làm sao? OBACE đừng quá lo lắng vì khi người con thứ được trao lại cương vị làm con thì cái nó muốn là ăn no dĩ nhiên cũng được đáp ứng, làm con thì muốn ăn thứ gì không được. Do vậy, chúng ta hãy can đảm trở về bên Chúa và trình bày với Chúa hoàn cảnh của mình, con tin rằng Chúa cũng sẽ sớm nâng đỡ OBACE, vì Chúa cũng từng hứa: "hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước, các thứ khác Chúa sẽ ban cho".

Nhưng bây giờ, OBACE phải trở về bằng cách nào đây? Cách thì có nhiều lắm: mau mắn đi xưng tội trong mùa chay này, đi lễ Chúa Nhật cho đầy đủ, đọc kinh sáng tối trong gia đình, nhớ tới Chúa trong ngày sống của mình. Vấn đề quan trọng không phải là cách trở về nhưng là với hoàn cảnh sống hiện tại nhiều trở ngại, OBACE có muốn trở về và có dám can đảm trở về hay không?

Trong khi OBACE đang trên đường trở về với Chúa trong mùa chay này, xin được nhắc lại với OBACE một ích lợi lớn lao chúng ta sẽ đạt được, đó là phần thưởng thiên đàng đó thưa OBACE.

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM C
Lc 15,1-3.11-32

Hôm nay là Chúa Nhật IV MC, còn gọi là Chúa Nhật của niềm vui, vui vì có một người cha già đang gấp rút tổ chức một bữa tiệc bê béo để ăn mừng đứa con hư đốn của ông nay đã trở về.

Tại sao người con hư này lại trở về? Theo như thánh sử Luca tuần thuật, người con thứ sau khi đòi cha chia gia tài , anh gom góp tất cả đem đi ăn chơi phun phí nơi xa. Đến khi tiền bạc đã hết, anh lâm vào tình cảnh đói khổ, đi làm mướn để kiếm sống nhưng vẫn đói. Anh hối hận vô cùng và quyết tâm trở về với cha Kính thưa OBACE! Cùng với người con thứ, xin mỗi người trong OBACE dành chút thời giờ để kiểm tra lại tình trạng tâm hồn của mình, tình trạng sống đạo hiện giờ của con cái mình, của những người Kitô hữu xung quanh mình. Nếu ai đang trong tình trạng đi hoang, hãy mau chóng trở về. Nếu người thân mình đi hoang, anh em bên cạnh mình đi hoang, bằng mọi cách, hãy nhanh chóng giúp họ quay về. Có người cho rằng từ từ rồi trở về với Chúa chứ gấp gáp gì. Xin thưa với OBACE, cần phải gấp chứ vì con nghe cha con kể lại một thái độ từ từ và cuối cùng cả gia đình phải hối hận.

Anh út bỏ MPS lâu lắm rồi. Nhiều lần hàng xóm khuyên, anh nói để từ từ, gấp gáp gì. Nhiều lần cha sở đến nhà thăm, anh trốn trong buồn không chịu gặp. Một hôm, cha sở mặc áo dòng đi thăm giáo dân, tình cờ gặp anh giữa đường. Thấy cha từ xa, anh nhảy qua mấy cái mương chạy mất tiêu. Cha sở chạy theo kêu, út ơi, cha gặp thăm con chút chứ có làm gì con đâu mà con chạy dữ vậy? Đùng một cái, anh ngã bệnh nặng, hấp hối, người nhà rước cha xức dầu. Cha đến, anh quay vào vách không chịu lãnh Bí tích xức dầu và tắt thở trong sự đau xót của gia đình. Cha sở ngồi trên giường anh khóc tại chỗ , vì không biết nên đưa tiễn một linh hồn đã vội vã ra đi hay níu kéo lại để tìm cách cứu vớt.

Kính thưa OBACE! Tình trạng sống đạo trễ nải, nguội lạnh của giáo dân là nỗi khổ tâm lớn nhất của cha sở, vì con cái mình đi hoang mà không báo trước ngày giờ trở lại. Người con thứ trong bài Phúc âm trở về làm cha nó mừng lắm. Con ước mong, vào những ngày cuối của mùa chay thánh này, OBACE đem niềm vui mừng đến cho cha sở mình, và trên hết là cho chính Thiên Chúa là cha. Để trở thành đứa con hiếu thảo đem niềm vui cho cha mình, xin được mời gọi OBACE làm những việc thực hành sau: Thứ nhất, những OBACE nào thấy tâm hồn mình đang trong tình trạng tội lỗi, hãy mau mắn đi xưng tội mùa chay để trở về với Chúa. Thứ hai, kiểm tra tình hình sống đạo của con cháu mình, đứa nào đang sống đạo trễ nãi, nguội lạnh, hãy hối thúc nó sớm đi xưng tội để trở về với Chúa, nó không chịu đi, cầu nguyện nhiều cho nó, tìm mọi cách giúp nó vì đó là trách nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ. Thứ ba: OBACE để ý xem trong họ đạo mình, những người chúng quanh mình, ai nguội lạnh, hãy cầu nguyện nhiều cho họ. Đây là việc làm bác ái mùa chay đẹp lòng Thiên Chúa nhất đó thưa OBACE.

Thay cho lời kết, nguyện xin Chúa ban ơn sám hối cho mỗi người trong họ đạo, để mùa chay năm nay, có nhiều người nguội lãnh, trễ nảy quay về với Chúa  qua Bí tích hoà giải. Và rồi ngày đại lễ mừng Chúa Phục sinh năm nay là ngày chính Thiên Chúa dọn tiệc bê béo và mở rộng vòng tay yêu thương đón lấy từng người con trong họ đạo chúng ta. Amen.

TRỞ VỀ VỚI TÌNH CHA
Lc 15, 1 - 3. 11 - 32

Bài Phúc âm mà chúng ta vừa nghe, là một câu chuyện tuyệt vời trong Tin Mừng Luca. Qua đoạn phúc âm ngắn này, Luca cho thấy lòng bao dung nhân từ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi qua hình ảnh người cha nhân hậu. Đức Giêsu dùng dụ ngôn này để trả lời cho những tiếng xì xầm, bàn tán của người Pharisêu và các kinh sư về việc Người hay tiếp đón những người thu thuế và những kẻ tội lỗi.

Người Pharisêu và các kinh sư tự hào về sự công chính của mình, họ cho rằng mình là người đạo đức vì họ tuân giữ các lề luật một cách nghiêm khắt, giữ các tập tục của họ đưa ra và buộc Thiên Chúa trả ơn cho họ. Vì thế, đôi khi họ tuân giữ hơn những gì mà luật đòi buộc. Họ thường khinh chê, xa lánh và kết án những người bị coi là "tội lỗi". Qua câu chuyện dụ ngôn, Đức Giêsu không những muốn người thu thuế và người tội lỗi ăn năn sám hối mà chính các người biệt phái và các kinh sư cũng cần phải sám hối để đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người. Thật thế, sau khi tội nguyên tổ xâm nhập, tội lỗi lan tràn vào thế gian. Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Người xót thương và tìm cách cứu thoát con người. Ngài hứa ban Đấng Cứu Chuộc để giải thoát con người, giao hoà con người với Thiên Chúa, với vũ trụ vạn vật và với chính họ - chính bản thân chính con người mình. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa của tình thương và lòng nhân ái. Ngài xót thương và thi ân. Ngài chờ đợi chúng ta từng giây từng phút. Tình yêu của Ngài vượt lên trên mọi tính toán, đo lường của chúng ta. Ngài thi ân cho chúng ta hơn cả sự mong đợi và cầu xin của chúng ta. Người con hoang đàng trong Phúc âm chỉ xin được đối xử như một người làm công trong nhà, nhưng người cha đã phục hồi anh trong tước vị làm con. Tấm lòng của người cha thật nhân hậu, tốt lành. Người con chỉ mong có được một chỗ ngủ, có cơm ăn, có áo mặc. Nhưng cha anh đã quảng đại vô biên, đã đón nhận người con với niềm vui rộn rã: xỏ nhẫn cho anh, mặc áo mới cho con, mang giầy dép cho con, rồi mở tiệc ăn mừng (Lc 15, 22).

Phải, Thiên Chúa yêu thương và tha thứ hơn cả sự chờ mong của chúng ta. Chính lòng thương xót của Ngài đã cứu người con. Người con ôm gia tài của cha ra đi mang theo bao nhiêu ước mơ của tuổi trẻ: tự do, tình yêu, hạnh phúc...Nhưng rồi tất cả chỉ là ảo tưởng. Ước mơ hạnh phúc không thành. Cuối cùng chỉ còn là bụng đói, xác xơ, đau khổ và tủi nhục.

Điều gì đã đưa chàng thanh niên đến quyết định trở về? Phải chăng đau khổ, thất bại, vỡ mộng, bế tắc? Thưa, không phải vậy đâu. Nếu chỉ có vậy thôi, có lẽ không đủ lý do để anh dám trở về. Bởi có biết bao người rơi vào tình cảnh túng quẫn như anh đã không dám trở về. Họ đã buông xuôi, tuyệt vọng và đã giải quyết bằng cách tự tử. Phải có một cái gì khác trở thành động lực thúc đẩy anh trở về. Đó chính là tình yêu của người cha, chắc chắn anh sẽ không dám quay đầu trở về. Nhưng anh vẫn tin tưởng vào lòng yêu thương và tha thứ của cha anh. Chính niềm tin vào lòng yêu thương của người cha đã đem lại tia sáng hy vọng, đã nâng anh đứng dậy, đã mở đường tạo lối thoát cho anh để trở về cùng cha.

Tội lỗi đưa đến chỗ bế tắc, đường cùng. Con người tự tách mình khỏi tình yêu của Thiên Chúa là đi vào chỗ chết, là "mất đi". Tình yêu Thiên Chúa đã mở ra lối thoát, đã cảm hóa con người tội lỗi. Nếu không có tình yêu, không có ý thức tội lỗi, thì chỉ có mặc cảm tội lỗi mà thôi. Không phải nước mắt đổi mới tâm hồn con người mà chính là tình yêu của Thiên Chúa đổi mới tâm hồn con người sám hối. Nếu không có tình yêu của Thiên Chúa, nếu không tin mình được Thiên Chúa yêu thương, con người sẽ không tìm được con đường trở về. Phải tin mình luôn được Thiên Chúa yêu thương, phải tin rằng mình luôn có một chỗ đặc biệt trong trái tim Chúa, dù có bỏ ra đi, chỗ ấy vẫn không mất, chỗ ấy vẫn còn để trống, để chỉ dành riêng cho ta.

Tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Tình yêu của Ngài vượt quá mọi mơ ước của chúng ta: "Nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, thì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự" (Rm 5,25).

Trở về là gặp lại niềm vui xum họp. Trở về là "tìm lại được", là "sống lại". Tìm lại được sự sống, đó là ý nghĩa đích thực của việc hoán cải và cũng là lý do của niềm vui sâu xa nơi người cha. Người cha vui mừng mở tiệc không phải vì từ nay đứa con trở về sẽ giúp cho công việc này sẽ làm cho ông việc nọ, mà chỉ vì từ nay anh sẽ được sống và được sống hạnh phúc dồi dào. Thật là một niềm vui hoàn toàn vị tha và rộng mở của người cha bao dung, nhân hậu,

Trong khi người cha tràn đầy niềm vui đón nhận sự trở về của người con với tất cả sự bao dung rộng mở: "Em con đã chết, nay lại sống" thì lòng người anh lại đầy tị hiềm và từ chối chia sẻ niềm vui của người cha: "cái thằng con của cha kìa...".

Rất có thể, chúng ta là những người con bướng bỉnh, những người con bụi đời, những người con ích kỷ của người cha nhân hậu. Người cha ấy đã đón nhận chúng ta trở về, không phải một lần, nhưng nhiều lần. Thiên Chúa là người cha luôn tha thứ cho chúng ta và đem chúng ta về với Ngài. Thế nhưng, tại sao chúng ta lại cứ muốn trốn khỏi người Cha đầy lòng khoan dung nhân hậu? Sao chúng ta cứ muốn tách rời khỏi tình yêu của Thiên Chúa khi chúng ta biết rằng Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi chúng ta trở về để tha thứ, để vui mừng, tiếp đón? Lòng nhân hậu Chúa vô biên, chúng ta đừng bao giờ quên điều ấy. Nếu chúng ta nhớ Thiên Chúa nhân lành vô cùng, chúng ta sẽ không chống đối Ngài, chúng ta sẽ cố gắng làm vui lòng Ngài. Vì thế, chúng ta hãy lắng nghe lời từ tốn nhân từ dịu dàng của người cha: con à! Lúc nào con cũng ở với cha. Tất cả những gì của cha điều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, vì em con đây đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. (Lc 15, 31 - 32). Mỗi lần sống ích kỷ cho riêng mình là chúng ta đã bỏ rơi người cha. Mỗi lần chúng ta xét đoàn, lên án hay không tha thứ cho anh em mình là mỗi lần chúng ta xa rời tình yêu Thiên Chúa. Mỗi khi chúng ta lỗi phạm đến Chúa chúng ta luôn xin Chúa tha thứ lỗi  lầm cho chúng ta; Thiên Chúa luôn tiếp nhận chúng ta, ngay cả những lúc chúng ta có nhiều lỗi lầm nhất. Vậy tại sao chúng ta không đối xử nhân từ với những thiếu xót và lỗi lầm của anh em mình. Chúng ta không đồng tình với tỗi nhưng chúng ta cảm thông với những người tội lỗi. Chúng ta phải mừng khi một người anh chị em nào đó trong cộng đoàn chúng ta đã phạm tội nhưng nay trở về. Hay một người nào còn sống trong tình trạng tội lỗi, chúng ta cần phải cầu nguyện nhiều hơn nữa. Nhất là chúng ta cần cảm thông nâng đỡ để người ấy có cơ hội quay về, đặc biệt trong mùa chay này. Mỗi lần làm như thế, chúng ta đón nhận được lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa, đồng thời chúng ta cũng muốn thể hiện lòng nhân từ ấy cho tha nhân.

Hôm nay, chúng ta cần nhìn lại bản thân mình. Chúng ta là những người đang sống tốt, sống đạo đức nhưng bấy lâu nay chúng ta có thật sự yêu mến Thiên Chúa hết lòng và bác ái đối với tha nhân chưa? Hãy tỏ lòng biết ơn Chúa vì đã được tha thứ bằng cách ở lại trong tình yêu của Cha trên trời. Nếu chúng ta lỡ xa cách Chúa, hãy mau trở về với Ngài. Hãy cầu nguyện cho mình và cho anh chị em khám phá ra tình yêu Thiên Chúa như Phê rô bắt gặp tia mắt của Chúa Giêsu khi chúng ta sa ngã. Chính tình yêu của Chúa mới cứu được chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con nhận ra tình thương của Thiên Chúa và biết trở về với tình Cha. Đồng thời xin cho chúng con sống yêu thương tha nhân và đối xử với họ như anh em mình. Amen.

TRỞ VỀ
Lc 15,1-3.11-32

Lời Chúa mà thánh Luca  trình bày cho chúng ta đó là câu chuyện người con trai hoang đàng trở về, được người cha nhân hậu tha thứ và đón nhận cách ân cần trong tình yêu thương.Tình yêu thương của người cha được diễn tả qua việc chấp nhận đề nghị của người con về việc chia gia tài. Và khi anh ta trở thành trắng tay, đánh mất danh dự và nhân phẩm của con người, đánh mất địa vị của một người con ... Khi anh ta quay về với "thân tàn ma dại", chính người cha đã ân cần đón tiếp anh."Ông chạy ra", hành động này cho thấy người cha luôn chờ đợi, mong ngóng ngày con trở về. Nhất là khi người cha biết rằng con mình sống trong cảnh đói kém, không có nơi cư ngụ, người cha nghẹn ngào xót xa. Ông không  muốn chờ đợi giây phút người con vào tới nhà gặp cha để nói lời xin lỗi. Ông vừa thấy con từ đàng xa, ông chạy tới mà ôm hôn con mình.

Người cha ôm lấy con mình như muốn ôm hết tất cả vết thương nỗi niềm đau xót và cả sự hối hận của người con vào lòng mình, điều hay là ông không hề nói một lời trách móc nào, nhưng trong cánh tay ôm choàng này, chắc chắn người con sẽ cảm nhận tất cả niềm hạnh phúc và tình yêu thương của cha đã dành cho anh. Chính lúc này đây tình yêu thương to lớn của người cha thoả lấp bao lỗi lầm của người con. Tôi tin chắc rằng cử chỉ của người cha này đánh động vào tâm hồn mỗi người chúng ta.


Tình thương đó được cụ thể hơn nữa qua hành động trao ban. Người cha đó đã cởi bỏ chiếc áo cũ của kiếp chăn heo, để mặc cho anh ta chiếc áo mới, chiếc áo con của ông chủ. Người cha đã phục hồi tư cách làm con khi trao cho anh ta chiếc nhẫn, dấu chỉ của người quý phái. Khi ông ta xỏ giày vào chân người con, như muốn khẳng định rằng, đây đích thực là con ông chủ và cũng là người trên, vì chỉ có chủ mới được mang giày mà thôi. Và sau cùng ông cho giết bê béo ăn mừng ...


Hình ảnh người cha trên đây chính là phát hoạ hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha luôn yêu thương con cái, tình thương đó luôn diễn tả qua hành động tha thứ cho chúng ta. Nhiều lần trong đời sống chúng ta cũng đi hoang bằng cách chúng ta phạm tội chống lại Thiên Chúa, xúc phạm đến tha nhân, và nhất là chúng ta tự làm những điều xấu huỷ hoại chính nhân phẩm của mình ... Nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương và chờ đợi chúng ta từng giây phút trở về với Ngài. Chúa không hề yêu thích tội lỗi của chúng ta, nhưng Ngài luôn yêu thương những người tội lỗi. Để như người cha trong Tin Mừng, Chúa muốn ôm choàng lấy chúng ta, và muốn chúng ta cảm nếm được tình yêu và lòng thương xót của Chúa trao ban.Tình thương đó ngày nay Thiên Chúa thể hiện cách đặc biệt qua Bí Tích Hoà Giải. Bí Tích Thiên Chúa dùng để thể hiện tình yêu và sự tha thứ cho con người. Nơi Bí Tích Hoà Giải, chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa là người Cha giàu lòng thương xót.


Chính lúc chúng ta đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, đó là lúc chúng ta được mời gọi sống tốt hơn. Mùa chay là dịp thuận tiện để mỗi người chúng ta nhìn lại chính đời sống của mình để trở về với Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Nếu chúng ta ý thức và mau mắn trở về với Thiên Chúa qua Bí Tích Hoà Giải thì mùa chay năm nay sẽ không qua đi một cách vô vị, nhưng sẽ mang lại cho chúng ta rất nhiều ơn lành từ Thiên Chúa giàu lòng thương xót . Amen   

LÝ LẼ CỦA CON TIM
Lc 15,1-3.11-32

Pascal đã nói một câu rất nổi tiếng: "Con tim có những lý lẽ của nó mà lý trí không hề biết đến". Kinh nghiệm cuộc sống cũng nhiều lần chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó.. Và nhất là trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta vô cùng ngạc nhiên khi thấy cách ứng xử xem ra "không hợp lý" của người cha. 

Thật tình chúng ta không thể hiểu nổi những gì mà người cha đã làm cho hai người con của mình, nhất là đối với người con thứ. Từ khi người con thứ đòi chia gia tài, rồi thu gom tất cả những gì được chia, anh ta đã ra đi thật xa để tiêu sài cho thoả tình dục vọng của mình, thì người cha của anh ở nhà đã tính đến chuyện anh sẽ trở về. Vì thế, ông đã may áo mới mua giày mới, sắm nhẫn để dành cho cậu. Ông còn sai người vỗ béo con bê để chuẩn bị cho cái ngày con ông trở về! Theo thói thường thì người làm cha mẹ cũng chuẩn bị chu đáo và hoành tráng như thế để mừng đứa con sắp thành tài, sắp thăng quan tiến chức; chứ ai lại mừng cho một thằng nghịch tử; một đứa con bất hiếu, bất tài bao giờ! Vinh dự gì mà ăn mừng chứ!? Lý trí không hiểu được rồi! Người con lớn không thể hiểu, người con hoang đàng kia cũng không nghĩ đến cái vinh dự mà anh có được trong giây phút hội ngộ ấy. Có thể chính chúng ta cũng không bao giờ chọn cách làm như người cha trong bài Tin mừng hôm nay. Không có ai theo lý trí tự nhiên mà có thể ngờ hay có thể hiểu được suy nghĩ và hành động của người ch này. Chỉ có con tim với lý lẽ riêng của nó mới có thể hiểu được thôi!

Với suy nghĩ hẹp hòi của mình, người anh cả khăng khăng trong đầu là đứa em tệ bạc kia sẽ không bao giờ còn chỗ trong tâm trí của người cha của anh nữa. Anh nghĩ rằng cha của anh đã khai trừ người con trai đó từ lâu rồi. Chính anh cũng không còn coi đứa em kia là em của mình nữa. Điều đó được biểu hiện rõ rệt qua cách nói của anh với cha mình: "Còn thằng con của cha kia"! Theo lẽ công bằng, theo thói thường thì người anh cả không thể hiểu tại sao cha của mình lại hành xử lạ lùng như thế. Đối với anh, đó là chuyện quá bất công! Người cha của anh hành xử như thế là coi thường anh, sỉ nhục anh và làm cho anh quá đau khổ. Quả thật, anh ở gần cha mà hoá ra tấm lòng của anh còn quá xa cha. Anh nghĩ rằng chỉ có anh mới xứng đáng được gọi là con, chỉ có anh mới có đủ tư cách để được cha anh khen tặng và thưởng công vì anh chưa bao giờ làm sai lệnh cha anh, chưa bao giờ anh phí phạm tài sản của cha anh. . . Cái sai lầm trong suy nghĩ của anh là làm việc để được thưởng công, để được trả công theo sự công bằng. Anh ở trong nhà cha mà lại coi mình như là tên đầy tớ không hơn không kém: "đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều chi, thế mà cha chưa bao giờ cho con . . ." Và theo anh, người cha hành động như thế là bất công rồi! Kẻ "có công" mà không được thưởng, không được khen! Còn kẻ đáng bị phạt thì lại được tiếp nhận huy hoàng, được ân "thưởng". Và như thế là anh đã kết án luôn cha của anh nữa!

Chúng ta hãy xét mình lại xem, hình ảnh của người anh cả có trong lòng chúng ta hay không? Có bao giờ mình nghĩ rằng: "Tôi giữ đạo sốt sắng; tôi đi xem lễ, đọc kinh lần hạt mỗi ngày nhiều chuỗi; tôi làm việc tông đồ hơn ai hết, tôi xông xáo trong mọi sinh hoạt của xứ đạo. . . và như thế là Chúa 
phải thưởng công cho tôi. Đó là chuyện công bằng. Chỉ mình tôi mới xứng đáng được thưởng công Nước Trời! Và vì suy nghĩ như thế mà ta thấy rất  khó chịu, thậm chỉ "nổi giận" với Chúa  khi thấy người này người kia mới vào đạo hay mới trở lại đạo mà được ơn này, ơn nọ, được mọi người chăm lo cho cái nọ cái khia. . . Đừng bắt Chúa làm theo ý ta. Chúa đã nói: "Cũng như trời cao hơn đất bấy nhiêu thì tư tưởng của Ta cũng trỗi vượt hơn tư tưởng các ngươi như thế" (Is 55,9). Chúng ta cũng đừng coi mình là đấy tớ trong Giáo hội, làm việc để mong hưởng Chúa trả công xứng đáng! Nếu chúng ta đòi hỏi như thế thì chúng ta là kẻ đáng thương hơn ai hết! Khôn ngoan là hãy coi mình là con cái trong nhà. "Mọi sự của cha đều là của con", còn gì bằng! Người con thì khi thấy cái gì phải làm và cần thiết thì hãy làm, vì mình là con. Nhất là phải biết ý Cha mình, hiểu Cha của mình cho thật nhiều và quyết tâm trở nên giống Cha ngày một hơn!

Đến mình, người con "hoang đàng" cũng hoàn toàn bỡ ngỡ trước cách hành xử "lạ lùng" của Cha. Anh đã chuẩn bị sẵn tâm lý rồi: sẵn sàng chịu mắng một trận tơi tả, thậm chí có thể bị đuổi đi và không cho vào nhà nữa. Anh ta đã chuẩn bị sẵn một "bài diễn văn" dài lắm, hay lắm, xúc động lắm . . . để khi gặp cha là tâu liền. Nhưng anh không ngờ và cũng không hiểu nổi tại sao người cha lại đối xử quá tốt với mình như thế! Cha anh không cần nghe hết những gì anh đã chuẩn bị để nói. Hình như trong ông  chỉ còn là khao khát được gặp lại con, ông "thèm" được ôm con vào lòng và vui sướng phục hồi lại cho con mình những gì nó đã tự đánh mất (mất tình nghĩa với cha, mất tư cách làm con, mất phẩm giá làm người...). Chúng ta cũng cần ở vào vai của người con thứ trong Tin mừng hôm nay để cảm nghiệm được tình thương mà Chúa Cha dành cho chúng ta thế nào! 


Người cha trong Tin mừng chính là Thiên Chúa. Ngài cũng là người cha đầy lòng nhân hậu với và rất yêu thương của chúng ta. Ngài yêu chúng ta bằng một thứ tình yêu lạ lùng, mà theo lý trí chúng ta không tài nào hiểu được. Chúng ta chỉ có thể hiểu được Thiên Chúa phần nào khi chúng ta biết đến với Ngài bằng tình yêu. Ta hãy chọn cho mình một tư thế trước mặt Thiên Chúa: làm con hay làm đầy tớ? Dĩ nhiên, ai trong chúng ta cũng muốn làm con của Chúa rồi. Vậy chúng ta đừng nhìn và đừng suy nghĩ về Chúa như ông chủ nữa, nhưng là người cha rất nhân hậu và yêu thương chúng ta. Chúng ta cũng rất cần có một tấm lòng, một cái nhìn giống như Thiên Chúa: yêu thương, tha thứ và sẵn sàng đón nhận mọi anh chị em của mình như Thiên Chúa đã từng yêu thương, tha thứ và đón nhận chúng ta trong những ngày tháng chúng ta lầm đường, lạc lối và đi hoang! Chúa Giêsu vẫn đang mời gọi chúng ta: "Hãy nên hoàn thiện như Cha các ngươi trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5, 48)

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
Lc 15,1-3.11-32

Thiên Chúa luôn đối xử nhân hậu với loài người. Từ thuở ban đầu, Ngài đã tạo dựng và thông ban cho con người sự sống thần linh. Sau khi con người sa  ngã, Ngài hứa ban Đấng Cứu Thế để phục hồi tình trạng nguyên thủy. Trong chương trình cứu chuộc đó, Ngài đã lập dân riêng là Israel, ban truyền lề luật yêu thương và cứu dân Israel  khỏi cảnh nô lệ Ai Cập mà đưa về Đất Hứa... Nhất là Ngài đã cho Con Một mình xuống thế chuộc lại lỗi lầm cho loài người. Mặc dù loài người hay ương ngạnh nhưng Chúa lại sẵn sàng nhận làm con và đối xử hết sức quãng đại với chúng ta. Dụ ngôn người cha nhân hậu là một minh họa cho tình thương vô bờ đó.

Người cha có hai đứa con. Đứa con thứ thì bỏ nhà, bỏ cha đi xa, ăn chơi phung phí hết tiền của, trở thành kẻ làm mướn, kẻ nô lệ, thiếu ăn thiếu mặc, hèn mạc đến độ muốn được ăn đồ của heo cho đầy bụng mà người ta cũng không cho. Lúc đó, anh mới nhận ra là mình sai lầm và tự nhủ: những người làm công nhà cha mình còn được đối xử rất tử tế, còn bản thân anh bị người ta coi như đồ bỏ đi, không quý bằng heo cúi của họ. Và anh đã trở về với 1 câu nói chuẩn bị sẵn: 
"Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy". Xem ra anh trở về vì lý do cái ăn cái mặc, hơn là vì nhận ra tình thương của cha. Và anh sợ rằng cha sẽ không chấp nhận việc anh trở lại làm con, nên anh chỉ mong làm đầy tớ. Thế nhưng, khi anh trở về thì thật quá sức tưởng tượng của anh. Người cha lúc nào cũng nhớ thương anh, mong chờ anh, sẵn sàng đón nhận anh. Có lẽ người cha hằng nhắc anh trước mặt mọi người và chuẩn bị quần áo, giày, nhẫn, bê béo... để khi anh về thì có sẵn những thứ đó.

Với tình thương vô điều kiện của người cha, đứa con đi hoang đã thật sự cảm động và cảm thấy thương mến cha mình thật sự. Nhờ tình thương vô biên của cha, anh đã được cảm hoá và nhận biết tình cha đối với mình. Mặc dù anh là người tội lỗi nhưng từ lúc đó anh đã hoàn toàn biến đổi, anh cảm thấy hạnh phúc vô vàn trước tấm lòng của người cha và tình yêu xoá tan mọi lỗi lầm.


Tuy nhiên, hậu quả của việc bỏ nhà đi hoang phung phí tiền của đã là nguyên cớ gây sứt mẻ tình anh em. Khi anh trở về thì người anh cả không chấp nhận được, nhất là khi thấy cha hậu đãi em mình. Anh cảm thấy ganh tỵ và có phần bực tức: 
"Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!". Điều này cho thấy, hoá ra, bao năm qua anh ở nhà, gần gũi cha, nhưng lại không cảm nghiệm được tình cha yêu thương mình. Vì vậy, anh không thấy hạnh phúc.

Người con cả đại diện cho luật sĩ và biệt phái, kẻ xưng mình là đạo đức. Đối với anh thì điều anh cậy dựa vào là việc giữ luật nghiêm ngặt, và công cán chứ không phải cậy vào tình thương của cha, nên lúc nào anh cũng cảm thấy bực tức với em, bất bình với lòng quãng đại nhân từ của cha. Chính lúc đó, anh lấy mình làm chuẩn mực phán xét, kết án kẻ khác và xét đoán cả Thiên Chúa là cha. Anh cũng lỗi phạm đến tình thương của cha. Nhưng cha luôn kêu mời và như năn nỉ anh hãy nghĩ lại và nhận ra tình thương của cha

TÌNH CHA
Lc 15,1-3.11-32

"Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con nữa. Xin cha coi con như một người làm công cho cha vậy" (Lc 15,19).

Lewis Copeland có kể một câu chuyện như sau:

Một người cha muốn răn bảo đứa con có tật xấu đi chơi khuya, ngủ dậy trễ. Ông nói:
- Con sẽ chẳng làm được trò trống gì, nếu không biết sửa đổi. Hãy nhớ rằng con chim dậy sớm mới bắt được sâu.

- Nhưng con sâu ấy thì sao hả bố? Chẳng phải là ngu ngốc khi dậy quá sớm sao?


Bố nghiêm giọng bảo:

- Bởi con sâu ấy cả đêm không ngủ, mà nó đang trên đường trên đường về nhà.

Thằng nhỏ xem ra thông minh. Nhưng người cha thì khôn ngoan hơn. Ông thật nhạy bén ứng phó khiến thằng con phải tâm phục khẩu phục. Ông dạy con rất khéo, nhẹ nhàng mà hiệu quả.


Nói  đến câu chuyện "Người cha nhân hậu" của Chúa Nhật IV mùa chay này chắc là không ai trong chúng ta không biết. Người cha ấy không ai khác hơn là chính Thiên Chúa. "Con sâu cả đêm không ngủ" đang lần mò quay về trong cái tấm thân tàn ma dạy, trong cái nỗi lòng hối hận như kim đâm muối sát ấy, là người con thứ và cũng là chính chúng ta.


Tôi nhận thấy người cha trong câu chuyện này đánh một ván bài quá đậm. Ông dạy con bằng cách chia cho nó cả một tài sản lớn, cho nó tự do tung cánh thế nào tuỳ ý, chơi bời thế nào mặc tình. Con làm như thế cha đau lòng lắm. Nhưng vì tôn trọng tự do của con mà người cha phải chấp nhận để điều không tốt xảy ra. Để rồi sau cái kinh nghiệm vấp ngã đau thương, người con sẽ hiểu được thế nào là tình yêu, thế nào là tội lỗi. Nhưng có điều tôi hơi tiếc là tại sao người con thứ lại không nhận ra được tình yêu của cha dành cho anh cả trước, trong, và sau khi anh phạm lỗi? "Điều gì của cha là của con". Anh không cần đòi chia gia sản làm gì. Nó vẫn thuộc về anh. Cha anh vốn vĩ chỉ có hai người con thôi, và ông cũng không phải là người nghèo khó. Anh đương nhiên  được thừa kế khối gia tài thuộc phần mình. Rồi sau khi anh ra đi, nếu anh biết được rằng cha anh thương anh, mỏi mòn chờ anh thì anh đã sớm quay về. Tại sao phải bơ vất dưỡng nơi đầu đường xoá chợ, làm thuê cuốc mướn, sống còn không bằng một con heo thì mới nhớ đến cha? mới nghĩ đến chuyện quay về? Và khi đã về đến nhà. Đành là anh khiêm tốn thấy tội mình quá lớn, chỉ đáng là đứa đầy tớ trong nhà. Nhưng tại sao phải là đứa đầy tớ? Anh là con kia mà. Tình yêu của cha không đủ để phục hồi quyền lợi của con sao? Hùm dữ không ăn thịt con, sao cha có thể xoá bỏ thâm tình cha con một cách dễ dàng như vậy. Quá khứ, hiện tại, tương lai, con vẫn là con, mãi mãi con vẫn là con cho dù con có hư đốn thế nào. Tất cả việc làm của cha đã nói lên điều đó. Cha biết con sẽ quay về nên cha đã chuẩn bị mọi thứ cho ngày ấy. Nào là may áo mới, giày mới, làm nhẫn mới, vỗ béo bê bò. Có lẽ ngày nào ông cũng ra ngoài đường đón con nên ông là người đầu tiên phát hiện  con quay về. Và cũng không cần anh phải nói lời nào, ông đã chạy ra ôm chầm lấy con. Lập tức sai gia nhân làm tiệc mừng. Thật xúc động không sao kể hết.


Thiên Chúa là thế, tình yêu của Ngài để sẵn cho con người. Con người không cần phải lên tiếng van xin tình yêu ấy cho mình. Tình yêu ấy luôn luôn tồn tại ngay cả lúc con người tắc trách, phản bội, bất trung, hờ hững. Nếu tôi không nói là Thiên Chúa van xin con người "hồi tâm" để dành một tình thương cho Ngài. Vì chúng ta yêu nhiều thứ nhưng trong đó không hề có Thiên Chúa. Còn một điều khác cũng rất quan trọng là chúng ta không nghĩ mình là con, trong khi Chúa đã cho mình gọi Ngài là cha. Thiên Chúa đã nhận chúng ta làm nghĩa tử từ xưa lắm rồi. "Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định co ta làm nghĩa tử, nhờ Đức Kitô" (Ep 1,5). 


Và  hôm nay vẫn còn chưa muộn để "hồi tâm" quay về. Hãy trở về, trở về với Cha nhân lành. Trở về để sớm hồi sinh. Trở về để mãi mãi sống trong ân tình.


đối với người tội lỗi cũng như đối với anh. Người cha muốn anh hãy mặc lấy tâm tình nhân hậu của cha, để xứng đáng là con thảo, đẹp lòng cha mình thật sự. 


Trong mùa chay này, chúng ta hãy cùng nhau xét mình, xem chúng ta đã nhận ra tình thương của Chúa đối với mình hay chưa. Chúng ta có khi nào cố tình phạm tội trọng và muốn thoát ly khỏi Chúa như người con hoang để người ta khinh khi, ma quỷ đắc thắng vì có người lầm lạc theo đàng trái. Hay chúng ta như người con cả, ở trong nhà thờ với Chúa cho có hình thức mà chưa có cảm nghiệm yêu mến Chúa đã chết vì yêu thương chúng ta. Chúng ta cũng hãy học lấy lòng nhân hậu của Chúa khi đối xử với anh em đồng loại để xứng đáng là con Chúa và luôn cảm thấy vui mừng với Chúa khi đối xử với anh em đồng loại hầu xứng đáng là con cái Chúa và đáng được phần thưởng nước trời mai sau.

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
Lc 15,1-3.11-32

Anh chị em thân mến.

Trong trận chiến thế giới lần thứ hai 1939 - 1945 đã làm cho biết bao người rơi vào cảnh lầm than. Cũng vì con người không chấp nhận được nhau, không chấp nhận người khác cùng ngang hàng với mình, cùng chung sống với mình, và cùng tồn tại với mình. Trải qua hơn nữa thế kỷ, bài học đau thương của lịch sử ngày nay vẫn còn đang tiếp diễn: cuộc chiến ở Nam Tư, Châu Phi, hiện tại cuộc chiến làm cho cả thế giới phải đau đầu, đó là cuộc chiến của những quốc gia vùng trung đông châu A, họ cũng không thể chấp nhận nhau, không thể sống chung với nhau và cũng có thể không muốn cùng tồn tại. Họ quá tự tôn, chủ nghĩa cá nhân quá mạnh, họ chỉ đặt cá nhân và dân tộc mình trên hết , còn những người khác, dân tộc khác họ không coi ra gì, nên họ khinh dể và không chấp nhận.

Người cha nhân từ, ông thương yêu từng người con. Nhưng những người con luôn gây phiền cho cha mình.

Người con thứ chỉ nghỉ đến mình, chỉ biết lo hưởng thụ, tìm thú vui cho mình, sống theo những gì mình muốn, để rồi phải rơi vào cảnh khốn cùng. Anh đã làm ô danh cha mình qua con người của anh.

Người con cả luôn sống kề cận bên cha, chịu cực chịu khổ, nghe lời cha, không dám trái lệnh cha. Mặc dù không dám nói, nhưng anh cũng đang muốn sống theo ý riêng mình, anh cũng đang mong cha trả công cho mình, anh cũng đang muốn có chút lợi lộc riêng tư, nhưng không dám nói. Anh cũng chỉ là một cái máy sống bên người cha, một cái máy để làm việc chứ không phải là một người con đối với cha. Anh đành thốt lên một câu dường như xác nhận anh không phải là người con :" Còn thằng con của cha kia. . ." Anh không muốn chấp nhận người em của mình, anh cũng không muốn vào nhà cha của mình. Anh bực tức, nỗi nóng vì ý muốn riêng tư không thực hiện được: nào là không có con dê để ăn mừng với những bạn bè riêng tư, nào là không nhìn thấy cha trả ơn vì những công lao anh đã làm cho cha. Giờ đây anh kể công với cha mình để không chấp nhận người em.

Người cha ôn tồn xác nhận: "Chúng ta phải vui mừng vì em con ..."

Người cha cũng ôn tồn bảo những người con của ngày hôm nay như thế. " Con luôn sống bên cha, mọi sự của cha đều là của con. Chúng ta phải vui mừng vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Mỗi người trong chúng ta, nhìn lại chính mình, cách ứng xử hằng ngày, những tâm tư nguyện vọng trong cuộc sống, chúng ta sẽ thấy mình là người con đã ngã vào lòng cha, để được cha tha thứ. Cũng có thể chúng ta là người con ngoan cố, tưởng rằng những việc làm của mình có giá trị to lớn, khiến cho cha phải trả công, để rồi chúng ta đòi hỏi và làm khó dể cha mình, nên không thể nhận ra được tình thương yêu của cha.

Chúng ta là những người luôn sống kề cận bên cha, luôn tuân phục và làm việc theo ý cha. Nhưng chúng ta là một cái máy làm việc hay là một người con. Chúng ta tuân giữ kỷ luật, đọc kinh, dự lễ, có thể còn có những việc đạo đức khác. Vậy mà trong đời sống hằng ngày, chúng ta lại khó chịu với những người bên cạnh mình, khi thấy họ được ưu đãi cách này hay cách khác. Chúng ta tìm cách loại trừ họ bằng những lời nói xa gần, bằng những cử chỉ, những hành động có thể được. Chúng ta chỉ nhìn thấy được những sai phạm của người khác, còn chính chúng ta, thì tự cho mình là tốt đẹp, là ngay chính. Nhưng nếu chúng ta chịu để tâm chút thì coi chừng, chúng ta chỉ là một cái máy làm việc, vì con tim chúng ta nó đã chết từ lâu. Người cha nhân hậu của chúng ta, đã nhiều lần đến cạnh bên, nài nỉ chúng ta vào nhà, nài nỉ chúng ta vui mừng với Ngài vì những người anh em bên cạnh. Nhưng chúng ta vẫn bực tức khó chịu, vẫn có những lời chua cay, vẫn có ý muốn loại trừ để chiếm phần lợi về mình.. Như vậy tâm trạng của người con cả không ở đâu xa, mà ở ngay trong con người yếu hèn của chúng ta. Như vậy chiến tranh không phải ở đâu trên thế giới, cũng không phải ở trung đông, ở Nam tư hay ở Châu Phi mà ở ngay trong chính bản thân của mình. Vì chúng ta chưa biết chấp nhận người anh em trong cuộc sống, người anh em ở ngay bên cạnh và trước mắt chúng ta.

Xin Chúa ban cho chúng ta có được con tim quảng đại, để biết yêu như Chúa yêu thương chúng ta.

TRỞ VỀ
Lc 15,1-3.11-32

"chúng ta phải ăn mừng em con, vì nó đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy..." (Lc 15, 32)

Người ta gọi Phúc âm thánh Luca, là Phúc âm của Lòng Thương xót; điều này đúng lắm vì chủ đề của quyển sách chính là trình bày Tình thương và Lòng Thương xót vô biên của Thiên Chúa. Dụ ngôn người con trai hoang đàng được đọc trong chúa nhật hôm nay, chỉ một mình thánh Luca ghi lại, là một dụ ngôn ghi lại hình ảnh đẹp nhất về lòng Thương xót này...

*Xin mời anh chị em cùng suy niệm.

a. người con hoang đàng: anh này là đứa con bất hiếu, bất kính, tội lỗi, ích kỷ; bất hiếu vì cha còn sống mà dám đòi chia gia tài; bất kính vì dám lìa bỏ gia đình, quê cha đất tổ linh thiêng, dám chà đạp lên giá trị đạo đức của gia tộc; tội lỗi vì lúc đói quá, dám ăn cả thịt heo, con vật ô uế, người Do thái không dám nói tới, chỉ có dân ngoại ăn mà thôi; ích kỷ vì chỉ nghĩ đến tiền của, khoái lạc, bản thân mình; chỉ khi đói mới nghĩ đến chuyện trở về...

Người con cả: được coi là mẫu mực, đạo đức, thực chất chỉ là con người giả hình. Anh tự cho là mình ngay chính, không nhận ra lòng yêu thương nhân từ của cha đối với người em. Em của anh ta là hình ảnh người tội lỗi, nhưng anh lại là hình ảnh người ngay chính cứng lòng, tự mãn. Nếu đã nói anh là người cứng lòng, thì việc trở về của anh xem ra rất khó khăn....

Người cha nhân hậu: hình ảnh hai người con tội lỗi, xấu xa bao nhiêu, hình ảnh của người cha ở đây lại đầy bao dung, yêu thương bấy nhiêu. Tình yêu của người cha bao dung nhân hậu, dành cho hai con hư hỏng trong hai cách thức khác nhau. Tình yêu này đã không làm họ cảm thấy nhục nhã khi phạm tội; trái lại còn giúp họ hoán cải và tìm lại được giá trị nhân phẩm của mình. Đây là một mạc khải rất đặc biệt của Chúa Giêsu về Chúa Cha...

b. Hai điểm suy niệm về "Tự do" :

1. Tự do là tặng phẩm vô giá Thiên Chúa ban cho con người, nhưng nó lại là con dao hai lưỡi, có thể đem lại hạnh phúc cho, đồng thời nó cũng đủ khả năng giết chết con người, nếu dùng nó sai mục đích. Nguyên tổ loài người trong vườn địa đàng đã dùng sai tự do, nên họ và con cháu phải chết và bị phạt đời đời. Thánh Phêrô, thánh Phaolô, Maria Magdala, Augustinô, Charles de Foucault, dù họ có tội, nhưng họ đã biết ăn năn, nên họ đã thoát khỏi tối tăm, trở về vùng tự do, ánh sáng: chính họ cuối cùng đã sử dụng đúng tự do của mình. Người con trai hoang đàng trong dụ ngôn hôm nay, dù anh có tội, cuối cùng anh cũng biết dùng đúng tự do của anh, để trở về trong vòng tay nhân ái của người cha...

2. lòng nhân hậu vô bờ của người cha: dụ ngôn này còm được gọi dụ ngôn Người Cha nhân hậu. Chúng ta thử nghĩ: nếu người con hoang khi trở về, gặp người cha có tính hẹp hòi như con cả, chắc kể như anh ta "đi đứt", vì thế dụ ngôn này vừa nói lòng khoan dung vô bờ của Thiên Chúa trước sai lầm và tội lỗi của con người, đồng thời cũng nói lên sự hẹp hòi, ích kỷ của một số người Kitô hữu tự cho mình là đạo đức và đầy đủ bổn phận; trong khi thực chất họ chẳng hiểu và cũng chẳng sống cho Thiên Chúa.

c. Gợi ý sống và chia sẻ:

* nhận ra tội lỗi mình, người con thứ thấy chỉ còn con đường quay trở về nhà, về với cha, cầu mong ơn tha thứ. Anh đã đúng sự tự do của mình. Là kitô hữu, có khi nào ta thấy mình cần quay trở về với Chúa như người con thứ này ?

* Lòng tự mãn của người con cả làm cho anh ta ra hẹp hòi, ích kỹ, quá khác xa với lòng quảng đại vô bờ của người cha. Tội của anh không phải là nhẹ: đó là tội của người công chính tự mãn, cứng lòng. Còn ta, ta là hạng nào đây?

TRỞ VỀ VỚI CHA 
Lc 15,1-3.11-32

1. Tình cảm cha mẹ đối với con cái là một tình cảm vô cùng đặt biệt, vì thế dân gian ta có câu : "Không gì ngon bằng cơm với cá, không gì cho bằng má với con". Nhạc sĩ Y Vân cũng đã cảm nghiệm được tình yêu nầy, nên đã từng thốt lên: "Lòng mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào ". Thế nhưng chúng ta còn có Thiên Chúa là Cha, Đấng yêu thương hết mọi người, dù ta xấu tốt như thế nào, vì thế tiên tri Isaia từ xưa có ghi: "Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình mang nặng đẻ đau ? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ" (Is 49,15). Tấm lòng yêu thương khôn tả của Thiên Chúa dành cho con người đã được Đức Giêsu trình bày rõ nét trong dụ ngôn "Người cha nhân hậu" mà chúng ta vừa nghe, dù cho con người có bội bạc như người con thứ, hay kiêu căng tự phụ như người con cả. Trong tâm tình của mùa chay, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược qua 3 nhân vật chính yếu trong dụ ngôn này để rút ra những bài học, suy nghĩ cho đời sống thiêng liêng.

2. Trước hết, hình ảnh người cha trong dụ ngôn là người quá thương con cái mình. Ông tôn trọng tự do của con, sẵn sàng trao phần gia tài cho con. Thường thì cha mẹ chỉ chia gia tài khi mình sắp qua đời bởi "ai cầm tiền người đó có quyền" (x. Huấn Ca 33,20-24). Hoặc chỉ chia khi biết chắc con mình đã đủ chính chắn để gìn giữ được gia tài. Còn người cha này vì quá thương con, nên khi người con thứ đề nghị chia gia tài, không cần suy tính, ông bằng lòng chia ngay cho nó. Sau khi nhận được phần gia tài, anh ta sống phóng đãng, phung phí hết tiền của, rồi trở về.

Có điều lạ là người cha nầy không trách mắng, nghiêm phạt, từ con. Trái lại, qua bản văn cho thấy ông trông ngóng, mong chờ nó, vì vậy ngay từ đàng xa ông đã thấy nó rồi và ông chạy ra choàng lấy cổ ôm hôn lấy hôn để. Khi nó định xin lỗi thì ông chẳng thèm để ý tới mà bảo gia nhân đem áo quần đẹp nhất để mặc cho nó. Rồi ông sai đầy tớ mở tiệc liên hoan. Chúng ta lưu ý rằng ông bảo gia nhân đi bắt "con bê đã vỗ béo" làm thịt, nghĩa là không phải đi bắt bất cứ con bê béo nào, mà để sẵn riêng một con, chuẩn bị cho sự trở về của người con đi hoang.

Còn đối với người con cả thì người cha làm sao? Anh đi làm về, khi biết cha mở tiệc ăn mừng vì người em trở về, anh chẳng những đã không vui mà còn nổi giận, trách móc cha già. Khiến ông lại phải nhẫn nhục ra tận cổng phân trần, năn nỉ, mời cậu vào nhà để chung vui với ông và gặp lại đứa em. Ông khẳng định với cậu rằng: "tất cả những gì của cha đều là của con " (Lc 13,31).

Qua hình ảnh người cha này, Đức Giêsu cho chúng ta thấy rõ Thiên Chúa là Đấng đầy lòng yêu thương, quảng đại và hay tha thứ, "Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5,45). Cho dù lòng con người có đổi thay, nhưng Thiên Chúa một mực thương yêu con người: "Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương " (Tv 135).

3. Kế đến, hình ảnh người con thứ không phải xa lạ gì đối với chúng ta. Thật vậy, biết bao lần chúng ta đã lợi dụng lòng tốt của Thiên Chúa, chúng ta đã dùng cách sai lạc tự do của mình, giống như người con thứ này. Muốn thoát khỏi tình yêu thương chăm sóc của Thiên Chúa là Cha, muốn tìm cho mình một nơi nương tựa khác, muốn chọn cho mình một ngẫu tượng khác. Đó có thể là danh vọng, tiền bạc, lợi lộc, thú vui trần tục... ngay cả trong sự thoả hiệp với sự xấu, sự dữ để đạt được điều đó, mà quên mất tình yêu thương của Thiên Chúa, mà quên mất tình nghĩa anh em.

Và phải chăng, ngay khi chúng ta quay trở về với Thiên Chúa, không hẳn vì lòng yêu mến Ngài. Mà có lẽ giống như tâm trạng của người con thứ này, trở về vì lợi ích của mình chứ không vì lòng yêu mến cha, nghĩa là chúng ta trở về với Thiên Chúa vì sợ người ta chê cuời, sợ hình phạt luyện ngục, hỏa ngục. Nhưng, vì lòng nhân từ, Thiên Chúa chấp nhận mọi lý do để ta trở về, miễn làm sao Ngài muốn cho ta được sống trong vòng tay của Ngài, thế là đủ.

4. Cuối cùng, hình ảnh người con cả không xa lạ gì đối với nhiều người trong chúng ta. Anh ở trong nhà cha, nhưng lại rất xa cách cha. Bởi tính ích kỷ, kiêu căng và tự phụ đã làm mờ tâm trí của anh, nó đã bóp nghẹt con tim của anh. Anh ở bên cha, làm việc trong nhà cha, nhưng chẳng hiểu cha, chẳng nhận ra tình thương của cha dành cho mình. Cũng chẳng nhận ra tình thương của cha dành cho đứa em ruột mình. Cũng chẳng biết yêu thương em mình, nên không tỏ chút vui mừng khi người em của mình trở về! Không chừng, lại còn muốn nó đừng trở về vì có thể cha lại chia gia tài cho nó lần nữa ! Quên hết tình ruột thịt, đến nổi người cha phải nhắc:"...phải vui vẻ, vì em con đây...", vâng em con, chứ không phải người dưng, nước lã !

Đó là thái độ của không ít Kitô hữu chỉ giữ đạo cho mình, chỉ lo phần phúc cho mình, mà không biết quan tâm đến ý muốn cứu độ mà Thiên Chúa muốn dành cho mọi người. Không biết quan tâm đến những nỗi ưu tư của Giáo hội, của cộng đoàn Họ đạo, cũng chẳng thiết tha gì đến hạnh phúc của tha nhân "sống chết mặc bay". Đôi khi còn có thái độ ghen ghét với những ai tích cực xây dựng cộng đoàn vì sợ họ nổi nang hơn mình, không thích những người thành đạt hơn mình, không muốn đón tiếp những người lỡ bước trở về vì mang tâm trạng mình là người công chính, còn họ là người tội lỗi...!

5. Trước tấm lòng của Thiên Chúa hay thương xót, được thể hiện qua người cha trong dụ ngôn nầy, cả người em lẫn người anh đều phải quay trở về với cha. Cả hai đều phải rũ bỏ nếp sống cũ, cách nghĩ xưa để trở về mái ấm của cha. Vậy, như người em, tức những ai đang sống trong lầm lạc, tội lỗi hãy bỏ con đường cũ mà trở về sống trong tình yêu thương của Thiên Chúa; như người anh, tức những ai sống thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu sự liên hệ mật thiết với Thiên Chúa, thiếu yêu thương, quan tâm giúp đỡ tha nhân cũng hãy bỏ nếp sống cũ mà trở về sống trong tình nghĩa của Thiên Chúa là Cha và anh chị em với nhau.

TRỞ VỀ ĐƯỢC ĐÓN NHẬN
Lc 15,1-3.11-32

Chúng ta đã cùng với Giáo hội đi được hơn nửa chặng đường của Mùa chay năm nay. Mùa chay còn được gọi là mùa trở về. Thiên Chúa qua Giáo hội kêu gọi mọi người tín hữu nếu lỡ đi lạc đường hãy quay trở về với tình thương của Người. Vấn đề là họ có thật lòng muốn trở về hay không? Và khi đã được đón nhận họ có biết noi gương Chúa mà đón nhận nhau không?

Đoạn Tin mừng mà Giáo hội cho chúng ta đọc trong Chúa nhật hôm nay, phải nói được là kiệt tác trong Tin mừng Luca. Có lẽ là kitô hữu, ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng dụ ngôn này. Dụ ngôn mà chúng ta quen gọi là "Dụ ngôn người con trai hoang đàng ". Nhưng đúng ra chúng ta phải gọi là "Dụ ngôn Người Cha nhân hậu" .

Khi người con thứ ý thức được tội lỗi tày trời của mình, anh đã quyết định quay trở về. Anh chỉ mong được cha đón nhận như người làm công thôi. Bởi lẽ anh tự biết, mình đã đánh mất tư cách làm con của mình. Mặc dù người cha còn sống sờ sờ đó, nhưng anh đã dám cả gan xem ông như người đã chết. Đó là anh đã yêu cầu cha chia gia tài cho mình. Thật là một tội bất hiếu không thể tha thứ được. Phải chi với gia tài ấy, anh ra đi làm ăn sinh lợi thì cũng còn có thể chấp nhận được. Ở đây, anh đã đem tất cả gia tài ấy đi phung phí một cách không thương tiếc đến nỗi không còn một đồng xu dính túi. Như vậy, theo cái nhìn của con người, người con này coi như "hết thuốc chữa ". Chắc chắn anh cũng đã nhận ra điều đó.

"Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy " . Một câu nói phát xuất tự đáy lòng cùng với sự trở về của anh đã làm cho cuộc đời anh mở sang trang mới.

Điều đáng nói ở đây, sở dĩ cuộc đời anh được sang trang mới là do chính sự đón nhận quá sức tưởng tượng của người cha. Sự đón nhận đến nỗi làm cho người anh phải ghen tức. Trông thấy anh từ đàng xa, người cha đã chạy ra "ôm anh và hôn lấy hôn để ". Ông đã vội vàng khôi phục lại địa vị làm con cho anh. Bằng chứng là ông đã kêu gia nhân " mau đem áo đẹp nhất ra mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu và mau bắt một con bê đã vỗ béo chờ sẵn để làm thịt ăn mừng... " . Quả thật, đây là một người cha có tấm lòng nhân hậu và bao dung. Tội lỗi của người con quá lớn nhưng tình thương của ông lại còn lớn hơn nữa.

Thái độ của người cha ấy chính là thái độ của chính Thiên Chúa khi ta biết thực sự trở về sau mỗi lần lầm lỡ. Thiên Chúa không bao giờ chấp nhất tội ta. Như lời thánh vịnh "Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng?" (Tv 129, 3). Khi ta biết trở về, Thiên Chúa sẽ đón nhận ta như một báu vật. Đồng thời, Người sẽ sẵn sàng cho ta cơ hội để làm lại cuộc đời. Chúng ta hãy tin và luôn xin Người cho ta xác tín điều ấy mãi trong cuộc đời.

Bên cạnh đó, Thiên Chúa còn muốn chúng ta cũng hãy biết noi gương Người mà đón nhận nhau mỗi khi có sự hiểu lầm hay xúc phạm nhau. Thật ra, trước mặt Chúa tất cả chúng ta đều là những tội nhân đáng thương. Hãy luôn ghi khắc điều đó để ta dễ dàng thông cảm và tha thứ cho nhau. Một ai đó đã nói: "Các cánh cửa nhà tù sẽ mãi mãi đóng lại, khi có thật nhiều người có tấm lòng bao dung, nhân hậu đón nhận những tội nhân trở về sau những lần lầm lỡ"

Do đó: Người chồng và người vợ hãy biết đón nhận và tha thứ nhau khi bạn mình lầm lỡ. Cha mẹ hãy biết đón nhận và tha thứ cho con cái khi chúng lầm lỡ. Và bạn bè cũng hãy biết đón nhận và tha thứ nhau khi bạn mình lầm lỡ.

TRỞ VỀ TRONG TÌNH YÊU
Lc 15,1-3.11-32

Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa không có ngôn từ nào có thể diễn tả. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người. Ngài yêu thương từng con người như thể trên đời chỉ có duy nhất một người vậy. Tình yêu ấy thể hiện cách rõ nhất khi người lỗi phạm thì Ngài luôn sẵn sàng thứ tha . Đứa con lánh xa thì Ngài luôn trông ngóng nó quay về. Dụ ngôn người cha nhân hậu hôm nay đã khắc hoạ hình ảnh một Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

Nhìn vào sự hư hỏng, phóng đãng của những đứa con thứ trong dụ ngôn, hình ảnh người cha nhân hậu càng đáng làm ta nể phục. Với tuổi trẻ ham chơi, người con thứ sớm muốn được sở hữu một tài sản cho riêng mình. Nó đã tự ý đề nghị người cha chia gia tài cho nó. Theo tập tục dân Israel , người cha không được chia gia tài theo ý thích của mình nhưng luật có những quy định rõ ràng. Người trưởng nam được hưởng 2 phần sản nghiệp, nghĩa là gấp đôi phần được chia cho những người con khác. Ơ đây chỉ có 2 người con nên người anh cả được hưởng 2/3 còn người con thứ là 1/3.

Việc người cha chia gia tài khi ông còn sống không có gì lạ, bởi người cha có thể chia gia tài cho các con khi ông không muốn hoạt động kinh doanh nữa. Tuy nhiên taì sản các con chỉ được hưởng khi người cha qua đời. Điều đáng nói ở đây là chính đứa con thứ đã lên tiếng đề nghị trước. Lời anh đề nghị với cha có ý nói rằng: Cha hãy cho tôi gia tài ngay bây giờ phần gia tài mà trước sau gì tôi cũng được hưởng. Tin Mừng không nói người cha trả lời ra sao thì đứa con thứ đã tự lấy phần của mình rồi ra đi. Người cha không nói tiếng nào, chỉ biết bằng lòng trong đau khổ vì biết răng con mình rồi sẽ hư thân.

Thế nhưng trong dụ ngôn, Thiên Chúa vẫn luôn đặt hy vọng nơi con người tội lỗi. Một lời khen tặng duy nhất và lớn nhất của Chúa Giêsu dành cho đứa con thứ khi Ngài nói: " Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhũ: Thôi ta đứng lên đi về cùng cha tôi " . Đây là sự tỉnh ngộ của một người khi biết trở về với chính mình. Điều này rất quan trọng, vì chính sự trở về này mà số phận người tội lỗi được thay đổi. Con người còn chống nghịch Thiên Chúa thì con người không thực sự là chính mình. Con người thật sự là chính mình khi con người đang trên đường trở về nhà Cha.

Một điều hết sức lạ kỳ nơi Chúa Giêsu và cũng là sự an ủi cho chúng ta là Thiên Chúa không bao giờ nghĩ rằng con người là hư hỏng hoàn toàn. Ngài luôn đặt tin tưởng nơi con người một sự trở về. Đó cũng là tâm trạng của người Cha trong dụ ngôn. Ngày ngày người cha cứ đứng chờ đứa con nơi đầu ngõ. Chờ để đón nhận, chờ để tha thứ cho con. Sự tha thứ của người cha này không một điều kiện, không một lời trách móc, ngăm đe.

Người con thứ trở về là niềm vui lớn cho người cha. Dù Kinh thánh không đề cập đến nỗi đau của người cha, song chúng ta hiểu ông ây rất đau khổ lắm. Kinh thánh cũng không nói thời gian đứa con xa nhà là bao lâu, nhưng ta hiểu người cha phải nhiều phút giây trăn trở lo lắng cho người con. Khi con trở về niềm vui đã khoả lấp mọi đau buồn, chỉ biết chạy ra ôm chầm lấy con.

Người con cả, bao năm sống trong nhà cha mà anh sống như người ở ngoài vậy. Anh là đứa con cứng nhắc và hẹp hòi. Anh đã nổi giận với cha, không chịu ăn mừng khi người em trở về sau những ngày phóng đảng. Thế mới hiểu ra, trước giờ anh hầu hạ cha không mang tâm tình của người con nhưng mang tâm tình của người giúp việc mong được trả lương. Cách " hầu hạ " cha như thế anh đã đánh mất diễm phúc đích thực là hằng ngày được sống bên cạnh cha và được thừa hưởng tất cả những gì là của cha. Anh chỉ biết vâng nghe người cha làm việc trong bổn phận mà quên đi điều mình phải làm tất cả trong yêu thương. Anh đã sống gần cha mà không nhận ra tình thương của cha. Thiết nghĩ anh là đứa con tuy không đi xa nhưng cần phải trở về.

Đời sống của mỗi người có lẽ nhiều lần đã bỏ Chuá quá xa đến nỗi không còn biết đâu là lối để quay về. Những lún chìm quá nặng nề trong tội lỗi, những nghi ngờ trước tình Chúa yêu thương khiến ta không dám quay bước trở về. Ta nên vững tin rằng, Thiên Chúa ngày ngày luôn đợi chờ ta và sẵn sàng đón nhận, ăn mừng khi ta biết quay trở về

ĐÁP LẠI LÒNG CHA BAO DUNG
Lc 15,1-3.11-32

1. LỜI CHÚA: "Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để" (Lc 15,20b).

2. CÂU CHUYỆN: LÒNG CHA BAO DUNG

RI-SỚT PIN-ĐEO (Richard Pindell) có viết một câu chuyện ngắn về một cậu bé tên là ĐE-VÍT (David). Cậu ta đã nghe theo chúng bạn lén về nhà ăn cắp một số tiền lớn rồi bỏ đi bụi đời. Mấy tháng sau, vì không chịu nổi hoàn cảnh đói khát khổ cực, cậu đã viết một lá thư gửi về cho mẹ. Trong thư, cậu tỏ ra hối lỗi và nhờ mẹ thuyết phục ông bố vốn rất khiêm khắc, để xin ông tha tội và cho cậu được về nhà sum họp như trước. Nội dung lá thư ấy như sau: "Mẹ kính yêu, trong một vài ngày nữa con sẽ đáp chuyến xe lửa ngang qua nhà mình. Vậy nhờ mẹ xin lỗi bố cho con. Nếu bố bằng lòng tha thứ và chấp thuận cho con được về nhà, thì xin mẹ yêu cầu bố hãy cột một miếng vải trắng trên cây táo hồng ở cạnh nhà mình mẹ nhé!".

Vài ngày sau, Đe-vít lên xe lửa đi về nhà. Khi xe lửa đang di chuyển thì hai hình ảnh cứ liên tục hiện ra trong tâm trí cậu bé: Lúc thì trên cây táo có cột một miếng vải trắng, lúc lại chẳng thấy có miếng vải nào cả. Khi sắp đi ngang qua nhà, trái tim Đe-vít đập nhanh hơn. Cậu quay sang người ngồi cạnh và ấp úng nói: "Thưa ông, ông có thể giúp cháu việc này không ạ?" Được ông đồng ý, cậu nói: "Vào khúc quẹo bên tay mặt, ông sẽ thấy một cây táo. Vậy phiền ông nhìn vào cây ấy và nói cho cháu biết trên cành cây có cột một miếng vải trắng nào không nhé?". Khi xe lửa ầm ầm lướt nhanh qua nhà, Đe-vít nhắm mắt lại rồi run giọng hỏi: "Thưa ông, có miếng vải trắng nào treo trên cành cây táo cạnh nhà cháu hay không?" Ông ta sửng sốt trả lời rằng: "Ô, này cậu bé, không phải chỉ một mà cành cây nào ta cũng thấy có cột vải trắng cả!" Thì ra sợ con không nhìn thấy giải vải trắng, ông bố của cậu bé đã treo thật nhiều vải trắng để chắc chắn cậu sẽ nhìn thấy dấu hiệu tình thương tha thứ và để cậu yên tâm trở về nhà.

3. SUY NIỆM:

Đoạn tin mừng CN 3 Mùa Chay hôm nay cho thấy tình thương bao dung của Thiên Chúa đối với các tội nhân (15,1-32): Thiên Chúa như một người Cha từ bi nhân hậu luôn "chạnh lòng thương" và sẵn sàng tha thứ tội lỗi con cái lòai người như Thánh vịnh 135 đã ca tụng: "Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương". Dụ ngôn hôm nay cho thấy thái độ của ba nhân vật chính để từ đó rút ra bài học chúng ta phải làm gì :

1) Thái độ sám hối quyết tâm trở về của đứa con thứ tội lỗi (15,12-19) : Anh đã phạm tội bất hiếu khi đòi cha phải chia gia tài cho anh ngay khi cha đang còn sống và sau đó đã bỏ nhà đi hoang ăn chơi phóng đãng phung phí hết tài sản của cha. Đến khi lâm cảnh đói rách phải đi làm thuê làm mướn và bị chủ khinh dể và đối xử còn tệ hơn một con heo. Chính sự cùng khổ ấy đã buộc anh phải suy nghĩ và quyết tâm đứng dậy quay về xin lỗi cha và chỉ mong được đối xử như một người làm công. "Đứng lên, đi về cùng cha" cho thấy thái độ dứt khoát với quá khứ tội lỗi để về với cha.

2) Thái độ bao dung nhân hậu của người cha (15,20-24). Về phần người cha, sau khi đứa con ra đi, ông đã ngày ngày chờ đợi nó quay trở về. Khi thấy bóng con từ xa, ông đã nhận ra và "chạnh lòng thương": không trách mắng hay trừng phạt, mà vội chạy tới ôm chầm lấy cổ nó và hôn lấy hôn để, lập tức trả lại địa vị làm con qua việc cho thay áo mới, đeo nhẫn, xỏ giầy và cho mời các người thân cận đến nhà ăn mừng đứa con "tưởng đã chết mà nay sống lại, tưởng đã mất mà nay lại tìm thấy". Đây là sự đón tiếp nồng hậu ngoài sự tưởng tượng của đứa con trở về.

3) Thái độ hẹp hòi của người con trưởng (15,25-32): Người anh trưởng từ ngoài đồng trở về nhà, nghe tiếng đàn ca, hỏi ra mới biết thằng em đi hoang mới trở về được cha tha thứ và còn mở tiệc ăn mừng. Anh giận dỗi cha không vào nhà. Anh chỉ trích cách đối xử của cha là bất công và không thể chấp nhận được (15,29). Thái độ của anh khiến cha già phải xuống nước năn nỉ giải thích : "Tất cả những gì của cha đều là của con " (Lc 13,31). Dụ ngôn kết thúc bằng lời cha khuyên con trưởng hãy cư xử bao dung với em "vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy".

4) Đáp lại lòng bao dung của Thiên Chúa thế nào ? :

+ Dụ ngôn người cha bao dung và đứa con hoang đàng nói lên lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Người yêu thương chúng ta như một người cha nhân hậu. sẵn sàng bao dung tha thứ: Tha thứ không mệt mỏi, vô điều kiện và tha thứ luôn mãi !

+ Chúa phán: "Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết. có thắm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông" (Is 1,18): Dù tội của chúng ta có nặng tới đâu, thì tình thương của Chúa còn nặng hơn gấp bội. Dù tội lỗi chúng ta có nhiều tới mức nào, thì Chúa cũng vẫn hằng chờ đợi để tha thứ, miễn là chúng ta thực lòng hồi tâm sám hối và quyết tâm quay về với Người.

+ Thiên Chúa tôn trọng sự tự do ra đi và chờ đợi sự tự do quay về của chúng ta: Trong những ngày Mùa Chay này mỗi người chúng ta sẽ làm gì để đáp lại tình thương bao dung của Thiên Chúa, để cấp thời sám hối quay về lãnh ơn giao hòa với Người, và giúp các người thân trong gia đình và bạn bè đang lạc xa Chúa cũng được ơn hóan cải quay về với Người?

4. THẢO LUẬN: 1) Trong bốn việc phải làm khi đi xưng tội như: xét mình, ăn năn dốc lòng chừa, xưng tội và đền tội, thì điều nào là quan trọng nhất? Tại sao?

2) Trong Mùa Chay này, mỗi người chúng ta quyết tâm sám hối một tội nào cụ thể nhất và sám hối bằng cách nào?

5. NGUYỆN CẦU

- LẠY THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA CON. Con xin cảm tạ Cha đầy lòng từ bi nhân ái. Con cảm tạ Cha vì Cha đã sai Con Một Cha là Chúa Giê-su đến thế gian để dạy loài người chúng con nhận biết Cha là Thiên Chúa giàu lòng bao dung nhân hậu. Qua bài Tin mừng hôm nay, chúng con hiểu được Cha đang mời gọi các tội nhân quay về giao hòa với Cha.

- LẠY CHA, thật đáng tiếc khi có những người cha trong gia đình và trong cộng đoàn... chưa thể hiện được tình thương bao dung của Cha, nên trình bày Cha như một "ông chủ" chỉ muốn trừng phạt để họ sợ mà hồi tâm sám hối. Có những người cha trong gia đình, hay trong cộng đoàn đã dùng bạo lực sửa rẹi con cái khi chúng phạm tội... Xin Cha cho các người cha biết yêu thương con cái như Cha. Nhờ đó các tội nhân sẽ sớm sám hối quay về với Cha trong Mùa Chay thánh này.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH www.hiephoithanhmau.com

CON TA ĐÃ MẤT VÀ NAY LẠI TÌM THẤY
Lc 15,1-3.11-32
Lm Jude Siciliano, OP

Ngay cả người không biết nhiều về Kinh thánh cũng biết dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng. Thuật ngữ "đứa con hoang đàng" là lối nói thông thường. Một lần kia khi tôi dự bữa tiệc của trường và về nhà trễ, thì thấy mẹ tôi đang đứng đợi. Khi tôi khoá cửa thì bà đứng phía sau tôi nói: "Đứa con hoang đàng đã về". Quý vị có hiểu ý tôi muốn nói là gì không? Dĩ nhiên, lối hiểu những câu chuyện kinh thánh như thế không phải luôn có lợi vì sự hiểu biết này có thể chỉ gợi lại cùng một câu trả lời mà chúng ta đã thực hiện khi lần trước chúng ta tiếp cận bản văn. "Có gì mới mẻ đâu?" đó là câu hỏi mà nhà giảng thuyết phải vật lộn với ngày Chúa nhật này khi chúng ta suy tư về dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng. Nếu Lời Chúa luôn là ổ bánh mì mới ra lò, thì mọi thứ sẽ mới.

Trước khi chúng ta nói tiếp về bánh mì, xin hãy cùng tìm hiểu bài đọc thứ nhất. Chúng ta tạm dừng lại ở hình thức của bánh mì và bắt đầu bằng hình thức khác. Trong sách Giôsuê chúng ta thấy dân Israel đang hoàn thành một hành trình gian khổ và lâu dài dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa; họ ra khỏi Aicập và mất 40 năm trên hành trình sa mạc. Cuối cùng họ đã vượt qua sông Giođan và vào đất miền Đất Hứa. Họ đã rời khỏi vùng đất Aicập và có thể định cư ở vùng đất Canaan. Trong vùng đất mới này, họ đã ăn "Sản phẩm của đất". Thức ăn sẽ không còn hiếm như khi họ ở trong sa mạc phải nhờ vào Manna Thiên Chúa ban hàng ngày. Lúc này, đất sẽ sản sinh ra nhiều hơn số lương thực thừa sức họ cần.


Như thế cũng nguy hiểm phải không? Trong những lúc khó khăn họ đã phải học để tín thác rằng Thiên Chúa luôn gìn giữ và bao bọc họ. Đây là hành động của niềm tin hàng ngày vì mỗi ngày manna lại rơi xuống. Giờ đây, nơi miền đất Hứa, họ có thể tự lo được - hay gần như thế - trồng trọt, thu hoạch và chăn nuôi. Đây cũng là một mối đe doạ cho cả chúng ta nữa. Chẳng ai muốn rơi vào những thời điểm khó khăn, nhưng đối với người tin mà biết dựa vào Thiên Chúa mỗi ngày, thì những thời điểm khó khăn có thể dạy chúng ta tin. Trong những thời điểm yên bình, chúng ta có nguy cơ quên Thiên Chúa.


Cho dù dân có phạm bao lỗi lầm trong sa mạc, nhất là sự bất trung đối với Thiên Chúa và cám dỗ chạy đến với các thần linh khác, thì họ cũng sẽ được tha thứ. Như thánh vịnh nói: "Hãy nếm thử và hãy nhìn xem cho biết Chúa thiện hảo dường bao". Manna có thể ngừng rơi, nhưng Thiên Chúa vẫn đang cung cấp bánh tha thứ hàng ngày.


Dân Israel, như người con thứ trong dụ ngôn, lang thang trong sa mạc và lạc đường. Thiên Chúa đưa họ trở lại sau khi họ đã bất trung và Người phán: "Hôm nay, Ta đã cất khỏi các ngươi nỗi ô nhục của người Aicập". Cũng thế, trong dụ ngôn, chính người cha đã cứu con trai mình ra khỏi những lầm lạc của quá khứ. "Con ta đã mất và nay lại tìm thấy". Dân Israel dùng tiệc sau khi được Thiên Chúa thanh tẩy; Đứa Con Hoang Đàng vào dùng tiệc sau khi được cha ôm lấy vòng tay ấm áp cùng với những lời khích lệ yêu thương. Tiệc Thánh Thể hôm nay chúng ta được chào đón trở lại từ những lầm lạc và vào tham dự yến tiệc.


Bối cảnh dụ ngôn có thể giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của nó. Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng là một trong những lời đáp mà Đức Giêsu đưa ra cho những người phê bình. Những nhà thông luật và Pharisêu đã phàn nàn về việc Người giao du với phường tội lỗi. Vì vậy, Người trả lời bằng ba dụ ngôn về những thứ bị mất và tìm thấy. Tuy nhiên, chúng không lặp lại: hai dụ ngôn đầu diễn tả những thứ bị mất, khi tìm thấy, thì mang lại niềm vui to lớn - chiên lạc (15,1-7) và đồng bạc bị mất (8-10). Cả hai dụ ngôn này nối kết việc tìm thấy với sự hối cải: "Cũng thế, tôi bảo các ông, giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy cũng vui mừng vì một người tội lỗi hối cải" (15,10).


Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng đưa chúng ta vào một gia đình dưới một áp lực. Đây là một gia đình khá giả và có "vấn đề". Hiếm có gia đình nào trong cộng đoàn tuần này không liên hệ một cái tên cụ thể cho một thành viên trong nhà, hay một người trong gia đình của bạn, với cái tên của một đứa con ương ngạnh trong dụ ngôn.


Ai cũng đã không từng nghe về một người cha giúp đỡ tài chính cho đứa con bướng bỉnh hoặc đang thiếu thốn, gây ra sự bất hoà giữa anh em với nhau, chúng đã thốt lên: "cha đang phung phí tài sản vào đứa con không tốt đó!" Cha mẹ sẽ quả quyết yêu thương con cái, nhưng nếu quí vị phải hỏi: "Cha thương đứa nào nhất" - câu trả lời nghe như là một phiên bản của dụ ngôn hôm nay, "Đứa con cần cha nhất".


Bầu khí trong dụ ngôn phức tạp ngay từ đầu, khi đứa con thứ xin phần tài sản. Một sự táo tợn! cứ như thể cậu ta không thể đợi cha mình chết hầu có thể được chia tài sản. Những ai nghe dụ ngôn này đều muốn ngắt lời để nói với người cha: "đừng ngốc thế! Chớ phí tài sản tay mình làm ra vào đứa con vô tích sự!"


Nhưng người cha này không chịu dừng lại, ông vẫn tiếp tục và chấp nhận rủi ro để cho tài sản và danh tiếng mình nơi đứa con vô trách nhiệm này. Thử hình dung xem những mối tương quan của người cha, gia đình và dân làng sẽ nói gì về lòng quảng đại liều lĩnh của ông. Điều gì sẽ xảy ra cho chỗ đứng của ông trong cộng đồng? Người cha đã chấp nhận sự rủi ro hơn cả số tiền cho đứa con.


Thiên Chúa có thể bị kết tội về sự liều lĩnh ngờ nghệch tương tự. Thiên Chúa quảng đại ban cho chúng ta một cơ hội lớn lao: niềm tin, tài năng, tha nhân và thế giới của chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng bo bo cho mình, đến một "vùng xa xôi", bỏ quên việc tương quan với Thiên Chúa; tập trung nhiều hơn vào những gì chúng ta được trao ban và ít tỏ lòng biết ơn với Đấng trao ban; sử dụng và phung phí như thể tất cả những gì chúng ta nhận được là chỉ dành duy mình ta sử dụng.


"Trong suy tính của mình", đứa con quỷ quyệt tìm cách đổ đầy bụng nó và vì thế, một lần nữa, nó đến xin cha nó giúp đỡ. Quên đi mọi khái niệm chúng ta có thể biết về cách thức người cha nên dạy cho đứa con một hay hai bài học về hành vi liều lĩnh của nó trước khi cho nó trở về. Người cha gạt qua một bên tư cách là chủ gia đình của mình, để chạy ra đón đứa con về. Ông ngắt lời con mình trước khi nó nói xong những lời ăn năn được chuẩn bị trước.


Trong khi chúng ta có thể muốn nói với người cha một vài lời khuyên khôn ngoan về việc nuôi dạy con sao cho nên người, nhưng đây không phải là một bài học về việc nuôi dạy con cái. Đây là một dụ ngôn về kiểu tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Hai dụ ngôn đầu tiên trong ba dụ ngôn này là về sự sám hối, nhưng điểm nhấn trong dụ ngôn này thì không nhắm nhiều đến sự sám hối của người con. Không thể nói rằng đứa con hối tiếc vì đón nhận ích lợi của người cha, đúng hơn cậu ta "suy tính" - một sự mô tả hàm hồ.


Đây là một câu chuyện về ân sủng. Sự tha thứ không dựa trên hành động thống hối và sửa đổi của người con. Cậu ta cũng không phải xưng ra sự thống hối và những dự tính của mình cho sửa đổi bằng lời lẽ đúng đắn. Việc chào đón người con trở về với gia đình (được biểu tượng hoá bằng chiếc áo choàng tốt nhất... bằng chiếc nhẫn đeo trên tay và bằng đôi giày dưới chân") là vòng tay ấm áp và những lời của người cha. Ai được chào đón hay chào đón trở lại trong vương quốc Thiên Chúa? Việc quyết định theo những động lực của dụ ngôn này là ai cũng có quyền chạy đến và hy vọng được đón nhận.


Người anh cả không xuất hiện như một "con chiên lạc hay đồng bạc bị mất" - người em cũng không theo cách đó. Tuy nhiên, người anh cả cũng như người em thứ là một đứa con bị lạc. Anh ta lập luận như chúng ta: anh ta đã làm việc, không phá phách và ở nhà trong khi thằng em thì đi hoang. Anh ta giống như nhiều người trong chúng ta là người tốt. Thế nhưng, trong khi anh ta làm mọi việc được giao, thì anh ta lại không bao giờ hiểu rõ được sự độc đáo của cha mình. Anh ta hiểu sai thế giới anh đang sống: Anh ta đã làm việc, nhưng lại bỏ lỡ ân huệ dành cho mình là được sống trong nhà cha anh. "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con".


Những gì chúng ta có thể nói về người con cả là cách anh ta: gọi cách cha anh đón thằng em của mình về là xuẩn ngốc và sỉ nhục. Anh ta biết thằng em đã chẳng làm được gì cả, ngay cả lời xin lỗi cũng không có, vậy mà nó lại nhận được sự chào đón long trọng. Những gì người cha đối đãi với người con thứ, lúc này ông cũng trao cho cho người con cả uất ức trong cách thức khác biệt nhẹ nhàng. Ông cũng không loại bỏ anh ta vì sự bất kính, nhưng tái khẳng định mối tương quan bằng việc gọi anh ta "con à", nhắc nhớ rằng anh ta là thành viên của gia đình - "tất cả những gì của cha đều là của con".


Chúng ta cứ cho là người con thứ có cơ hội để trở về giữa gia đình mình. Chúng ta không biết cách người con này đáp lại chuyện ấy ra sao. Liệu nó sẽ lại "suy tính" và trở về nhà một lần nữa để dự tiệc và ăn mừng những ân huệ của đời nó? Chúng ta có như thế không?


Dụ ngôn này thích hợp nhất cho mùa Chay. Một số người chúng ta đã thực hiện "cuộc hành trình lớn" rời khỏi sự yêu thương bao bọc của Thiên Chúa. Một số khác thì cần mẫn và chú tâm những công việc của mình, nhưng có lẽ không xem trọng những gì chúng ta đang có. Nhưng dù sao đi nữa, cánh cửa luôn được mở ra cho chúng ta vào dự tiệc với Thiên Chúa. Chúng ta bước vào Thánh lễ để cử hành tình yêu ngờ ngệch và kỳ lạ của Thiên Chúa dành cho chúng ta - tất cả chúng ta - dù là lúc này chúng ta đang trở lại, hay chúng ta đang hiện diện ở đây, nhưng miễn là chúng ta ở trong "ngôi nhà của sự biết ơn" (Câu thơ của Mary Oliver ám chỉ điều này: "chốn ta muốn về").

Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp

LÀM HÒA
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Anmai, CSsR

Đại Lễ Vượt Qua đã đến gần và niềm vui của ngày Đại Lễ ấy sắp đến. Tâm trạng của chúng ta như thế nào trong trang Tin mừng mà chúng ta vừa nghe. Trang Tin mừng này hết sức quen thuộc, hết sức gần gụi với mỗi người chúng ta. Trang Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện hết sức đời thường trong gia đình. Gia đình ấy được kể ra với hình ảnh của người cha và hai người con, không hề nhắc đến người mẹ và mỗi người chúng ta được mời gọi vào vai của cả ba người. Ta có thể là người cha giàu lòng thương xót bao dung, ta có thể là người con út ngỗ nghịch và ta cũng có thể là người anh cả trong gia đình ấy.

Như dân Do Thái ngày xưa trong cái hành trình vượt qua sa mạc để về Đất Hứa, cũng đã đôi lần ta ngỗ nghịch như người con út, ta ganh tỵ như người con cả và ta cũng bao dung như một Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Qua hồi tâm, qua hối hận, qua ăn năn, qua thanh luyện, qua tái tạo, qua tha thứ, qua cử chỉ làm hoà với Chúa, với anh chị em đồng loại ta sẽ được trở thành con người mới tốt hơn như lòng Chúa mong muốn.


Làm hoà với anh em chính là bước đầu tiên để có thể đến hòa giải với Thiên Chúa. Trong mỗi Thánh Lễ chúng ta cử hành, trước khi để tiến dân Thánh Lễ cho xứng đáng, chúng ta xin ơn tha thứ của Chúa, của anh chị em đồng loại.


Trong các từ ngữ chỉ đức tin Kitô giáo, thì ngôn từ tha thứ, làm hoà đóng một vị trí hết sức quan trọng. Không phải tình cờ mà nó nằm trong kinh Lạy Cha nhưng nó có ý giúp con người chạy đến với Thiên Chúa là Cha nhân lành tha thứ cho mình những yếu đuối của phận người. Điều quan trọng để đón nhận ơn tha thứ, ơn làm hoà với Thiên Chúa là con người phải biết tha thứ, làm hoà với anh chị em đồng loại đã xúc phạm đến mình.


Con chiên lạc, người con đi hoang, người phụ nữ ngoại tình, Dakêu trên cây sung, người bại liệt được ròng xuống từ trên mái nhà. .. Chúa Giêsu đã gặp tất cả nhưng người này. Họ là những người tội lỗi, lầm lạc, hư mất. Nhưng, Thiên Chúa tha thứ cho họ trong Chúa Giêsu mà không cần một điều kiện tiên quyết nào. Người không đòi hỏi gì. Chúa Giêsu không bảo: "Làm cái này rồi tôi tha thứ cho". Không ? Người tha thứ rồi mới nói: "Hãy về và đừng phạm tội nữa ".


Người ta có thể chất vấn: tại sao tha thứ lại là một điều thần thiêng như vậy? Tại sao tha thứ lại đưa người ta đến gần Thiên Chúa thế?


Câu trả lời có lẽ nằm trong chính từ ngữ: tha thứ vì tha thứ là một ân huệ ở trên cao, siêu việt.


Ơn huệ thứ nhất ta được là hiện hữu của ta như một tạo vật. May mắn là chúng ta vẫn là vậy. Nhưng cách cư xử, phong tục, lỗi lầm của chúng la có thể phá hủy ơn huệ đầu tiên này nơi ta, làm chúng ta bị "tha hóa "


Chính lúc đó ơn tha thứ đến, một loại ơn tái tạo. Chúng ta đã chết mà nay sống lại. Chúng ta không còn phải chịu đựng lẫn nhau nữ, chúng ta lại chấp nhận lẫn nhau và lại thương yêu nhau. Đó là một cuộc tái sinh, một sự Phục Sinh, một bước dẫn vào đời sống mới.


Thật tối đẹp nếu như chúng ta được tha thứ. Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói, liệu chính chúng ta có thể tha thứ được không? Tha thứ đây không phải là quên, cũng không phải là chối bỏ những xác tín của chúng ta, mà là tìm đến với kẻ xúc phạm ta. Và không cần để mất một chút gì về chân lý, hoặc về lương tri phân biệt tốt xấu, để nói với kẻ phạm lỗi: bạn là anh, là chị tôi. Và có thể thêm một lời phi thường này: chính bạn hãy tha cho tôi, vì bạn đã không xúc phạm đến tôi nếu trước đó tôi đã không xúc phạm đến bạn.


Trang tin mừng hôm nay hết sức hấp dẫn, dụ ngôn hôm nay chúng ta nghe không phải là lần đầu mà nghe đi nghe lại quá nhiều lần. Dụ ngôn về người cha và hai người con vẫn để ngỏ! không ai xác định được câu chuyện sẽ kết thúc thế nào.


Chúng ta bắt đầu vào vai. Cả hai người con cùng hiện diện trong ta. Chúng ta có thể nhận ra mình trong những ảo tưởng của họ. Cả hai cùng hiểu lầm về bản chất của mối tương quan giữa họ với cha và không biết tình yêu của cha mình. Hãy theo dõi tâm tính của người con khi trở về. Anh đã sống lại nhờ người cha hân hoan loan báo sự tha thứ. Nhưng cũng có thể chúng ta cũng là người anh, xơ cứng trong kiêu căng vì đã trung thành với cha. Anh sẽ cải mở là chọn một chỗ ngồi trong bàn tiệc tập thể vì những kẻ mời đến, những kẻ từ xa trở về. Còn đối với chúng ta, ai sẽ là "những người khác" mà cộng đoàn chúng ta phải mở rộng cửa đón tiếp ?


Khuôn mặt của người con thứ khá cường điệu được vẽ nên trong cảnh một của dụ ngôn này. Anh ta đòi cha chia gia tài ngay khi cha anh còn sống để anh ta được sống tự do hoàn toàn. Với cuộc sống buông thả và phóng đãng thì chẳng chóng thì chầy, tiền núi cũng phải hết. Tiền hết thì anh ta rơi vào tình cảnh hết sức bi đát. Chẳng đặng đừng nên anh ta phải làm công cho một người ngoại giáo ở đất khách quê người, và miễn cưỡng phải "chăn heo " cho chủ - đối với một người Do Thái, đây là công việc hèn hạ - vì heo là một con vật dơ nhớp đối với Do thái giáo. Bị dằn vặt bởi ý nghĩ: ở nhà cha thì đồ ăn dư thừa, người làm công ăn không hết, thế mà ở đây anh đói khát, chỉ mong được "tống đầy bụng những thứ heo ăn" mà không được.


Anh đã ân hận, sau khi suy nghĩ hết sức cẩn thận anh quyết định trở về nhà sau khi cảm thấu được sự đói khát, thiếu thốn. Để chuẩn bị cho cuộc trở về, anh ta đã vẽ lên trong đầu anh ta những lời thống thiết nhất để xoa dịu cơn giận của người cha: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đón trời và đến cha, con thật không xứng đáng được gọi là con cha nữa. Hãy coi con như một người làm công trong nhà thôi". Khác với những gì anh nghĩ trong đầu, khi trở về, chưa kịp thốt lên một lời, người cha đã giang rộng vòng tay xiết chặt lấy anh. Cho tới bây giờ, anh chưa một lần nghi ngờ tình yêu vô bờ bến của cha anh. Con tim anh rộn ràng những nhịp đập thổn thức. Không phải đứa làm thuê ? Con ta chứ! Hãy mặc áo đẹp ngày đại lễ. Đeo nhẫn vào tay, biểu hiệu quyền uy. Xỏ giầy vào chân, biểu hiệu người tự do. Hãy ngồi vào bàn tiệc. Mọi thành phần gia đình đang quây quần bên bàn ăn cùng chia sẻ niềm vui của người cha.


Chúng ta chuyển sang vai diển của người anh. Đại tiệc đang diễn tiếng thì người anh "từ ngoài đồng" về đến nhà. Nghe trong nhà có nhạc vui, anh hỏi xem có chuyện gì? Hiểu ra, tâm trạng anh chuyển từ ngạc nhiên sang "giận dữ". Lại có thể cư xử như vậy với thằng con hư đốn ư? Như phản ánh thái độ của các kinh sư và những người Pharisêu luôn chỉ nghĩ đến phụng sự Chúa không sai một lời, nên, anh cằn nhằn với cha mình: "Đã bao năm con phụng dưỡng cha, không bao giờ bất tuân hay trái lệnh, mà chẳng bao giờ cha cho con một con dê để vui với bạn bè". Để ở lại nhà cha, anh đã cư xử thật không khác một người làm công, cần mẫn, nhưng vô tình, xa lạ. Anh không thể hiểu được ngôn ngữ của Giao ước mà cha anh nói với anh: "Con ơi! Con luôn ở bên cha, mọi sự của cha là của con mà". Anh chỉ nói bằng ngôn ngữ của quyền lợi và nghĩa vụ, của mệnh lệnh và phần thưởng. Như các kinh sư và những người Pharisêu đối với tội nhân, anh cũng giữ khoảng cách với đứa em mới trở về mà mọi người đang ăn mừng. "Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo để ăn mừng".


Nếu chỉ để tâm coi hình ảnh của hai đứa con mà không nhìn đến hình ảnh người bố trong nhà này quả là điều thiếu sót thật lớn. Chúng ta bước sang một bên để nhìn đến chân dung người cha. Người Cha trong dụ ngôn này chính là nhân vật trung tâm, nhân vật chính. Ông là một người cha sống nặng tình cảm hơn lý trí, ông là một người cha mà tình yêu luôn thôi thúc ông hướng về các con. Ông không chỉ ngồi chờ. Phải "chạy ra" coi, và ông phải chạy ra đến hai lần. Ông chạy ra. hấp tấp, một thái độ đặc biệt đối với người Đông phương. Ôm lấy cổ đứa con hoang đàng. Hôn nó tới tấp Nâng nó lên, ngắt quãng những lởi nó định nói, đưa nó vào nhà. Nhà của nó mà. "Mau lên!" ông nói với các đầy tớ không chần chừ một giây. Phải mặc cho cậu chiếc áo đẹp nhất đúng với cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay cậu, mang giầy vào chân cậu. Giết bê béo. Dọn tiệc ăn mừng. "Mau lên!" vì một niềm vui đang trào ngập lòng ông: "Con ta đây đã chết nay sống lại đã mất nay lại tìm thấy". Ông lại chạy ra để nài người anh vào nhà, để người anh nhìn nhận đứa em mà anh ta đã miệt thị, để dự tiệc chung vui với mọi người.


Dụ ngôn người con hoang đàng mà chúng ta vừa nghe mang đậm chất thần học. Dụ ngôn của ân huệ Chúa ban tặng con người. Dụ ngôn này diễn tả tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, tình yêu nhưng không không Cha ban cho mọi người, dầu tội lỗi mấy đi nữa. Cha muốn họ tham dự niềm vui, muốn mời họ khám phá ra: anh huynh đệ chân chính. Làm sao không nhìn ra qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn trao cho chúng ta bí mật trong cách cư xử và đời sống của Ngài ? Ngài là Người Con được Cha sai đến loan báo sự hòa giải cho các tội nhân. Đó là những người mà Chúa Giêsu khắc họa hình ảnh nơi người em và đó cũng là những người được mời gọi nhận ra chính mình nơi hình, ảnh của người anh !


Thật ra, dụ ngôn còn để ngỏ đó. người anh cả có thuận theo lời khuyên dụ của cha anh không? Anh có bằng lòng vào chung vui không? Anh có ưng thuận chung bàn với người em đã trở nên "dơ" không? Hay anh vẫn giận dữ... Tường thuật của Tin Mừng không trả lời... Có lẽ mục đích của Tin Mừng là để chúng ta tự phác họa cách chúng ta sẽ đối xử với anh em mình.


Chúng ta hãy đặt mình vào vị trí của người anh: chính tôi sẽ ưng thuận lời thỉnh cầu của người cha hay không. Thuận thì không dễ đâu, có khi khổ nữa. Dụ ngôn cho thật sự đáp ứng ý cha không tự đến cách dễ dãi. kết thúc của dụ ngôn đặt chúng ta vào vị thế người anh. Phụng vụ Mùa Chay như chẳng hoan hỉ đặt chúng ta vào vị thế này mà trái lại, như muốn chúng ta thấy mình trong tâm trạng người em. Thánh Luca thì chắc chắn nhấn mạnh hơn đến thái độ người anh. Dẫu sao, qua suốt câu chuyện, chúng ta vẫn thấy nổi bật lên tình yêu là lòng cảm thương của người cha đối với từng người. Chính nhờ tình thương này mà tội nhân hối cải, là chúng ta vui vì họ trở về dù đôi khi rất khó mà vui được."


Thánh Phaolô vừa nhắc nhở chúng ta: "Cho nên, phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải. Thật vậy, trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải. Vì thế, chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Ki-tô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Ki-tô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người."


Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, chậm bất bình và đầy tình thương, chúng ta hãy chạy đến với Ngài như đứa con thứ ngày hôm nay trong Tin mừng để xin Cha tha thứ, xin Cha bỏ qua những lầm lỗi của ta trót phạm đến Cha và chúng ta cũng xin cũng hãy bớt đi một chút sự xét đoán, hơn thua của người anh để tha thứ cho những đứa em ngỗ nghịch trong đời ta. Chúng ta hãy chạy đến Chúa, chạy đến và xin Chúa tha thứ tất cả để ta được làm hoà cùng Chúa và anh chị em đồng loại.


Ôi Thần Linh Thánh Ái, xin mở rộng lòng con, xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí: Ơn An Bình. Xin Chúa thương tha thứ những lầm lỗi ta đã xúc phạm đến Chúa cũng như anh chị em để chúng ta có được sự bình an thật trong tâm hồn để chờ đón ngày Chúa lại đến trong Vinh Quang của Ngài.

NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
Lc 15,1-3.11-32
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Ta thường gọi là dụ ngôn "Người con hoang đàng". Cách gọi này không được chính xác. Trước hết vì sự trở về của đứa con không đáng làm khuôn mẫu cho ta. Hơn nữa, xét theo bối cảnh và nội dung, Chúa Giêsu, khi kể dụ ngôn này, có ý đề cao tình yêu thương, lòng khoan dung nhân hậu của người cha.

Bối cảnh: Nhóm Pharisêu và các Kinh sư chê trách Chúa Giêsu vì Người ngồi ăn với những kẻ tội lỗi. Để trả lời họ, Chúa Giêsu kể một chuỗi 3 dụ ngôn: Con chiên đi lạc, Đồng bạc bị mất và Người cha nhân hậu.


Nội dung: Có thể coi đây là một vở kịch 2 màn.


NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON ÚT.


Đứa con ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.


Sự ích kỷ được biểu lộ trước hết trong việc xin chia gia tài, ở nhà chung mà chỉ nghĩ đến vun quén riêng. Không đóng góp mà chỉ muốn rút tỉa. Không làm việc mà chỉ muốn hưởng thụ. Sự ích kỷ đạt đến mức tồi tệ đáng kinh tởm khi nó dám mở miệng xin chia gia tài. Theo truyền thống phương đông, gia tài chỉ được chia sau khi cha mẹ đã qua đời. Xin chia gia tài lúc cha mẹ còn sống có khác nào cầu mong cha mẹ mau chết đi!


Có tiền bạc trong tay, nó bắt đầu ăn tiêu phung phí. Cách ăn tiêu nói lên tính ích kỷ của đứa con. Nó tiêu tiền mà không nghĩ gì đến mồ hôi nước mắt của cha mẹ. Nó tiêu tiền chỉ để thoả mãn dục vọng. Nó dùng tiền bạc để cung phụng bản thân. Khi có tiền nó chẳng nghĩ đến ai, nên khi hết tiền, chẳng còn ai gắn bó, sẵn sàng giúp nó qua cơn túng thiếu. Túng cùng quá mới phải trở về.


Sự ích kỷ vẫn còn đó trong toan tính trở về. Nó không hề nghĩ đến cha mẹ. Nó không hề nghĩ đến tình thương. Nó chỉ nghĩ đến cái bụng. Về nhà để được ăn no. Chỉ có thế.


Người cha hoàn toàn quên mình vì con. Khi đứa con xin chia gia tài, ông đã chia ngay, không so đo tính toán, không hạch sách khó khăn. Ông không nghĩ đến bản thân, không tự ái, chỉ mong sao con cái được vui lòng.


Khi con đã ra đi, ông ngày đêm thương nhớ, ngày nào cũng ra ngõ đứng chờ. Thật tội nghiệp, con ra đi chẳng nhớ nhung gì đến cha mà cha không phút giây nào ngừng thương nhớ con. Con chỉ biết tìm vui cho bản thân trong khi cha mỏi mòn trông đợi. Con chỉ biết đến tiền bạc, còn cha chẳng quan tâm gì đến tiền của, nhưng chỉ cần có con.


Cảm động nhất và cũng chan chứa tình thương nhất là phút giây gặp gỡ. Một phút giây vắn vỏi mà nói lên bao nhiêu điều về tình thương của cha. "Anh ta còn ở đàng xa thì người cha đã trông thấy". Khi con chưa nhìn thấy cha thì cha đã nhìn thấy con. Mắt chàng trai trẻ hẳn phải tinh anh hơn mắt ông cụ đã nhoà dòng lệ vì thương nhớ chứ. Thế mà cha đã nhìn thấy con trước. Vì cha không nhìn bằng mắt nhưng nhìn bằng trái tim. Trái tim yêu thương có đôi mắt tinh tường giúp nhận ra ngay bóng người yêu dấu. Trái tim con không còn yêu thương nên nhìn chẳng thấy cha. Trái tim con khô cằn nên mắt vẫn sáng mà chẳng khác mù loà. Trái tim cha đầy ắp yêu thương nên đã loà rồi mà vẫn thấy rõ con ngay từ đàng xa.


"Ông chạnh lòng thương". Trái tim dạt dào yêu thương quên hết tất cả lầm lỗi của đứa con. Tình cảm đầu tiên dâng lên trong tim ông không phải là tiếc xót nửa gia tài đã mất, cũng không phải là tức giận thằng con phá gia chi tử, nhưng lại là chạnh lòng thương. Yêu quá nên người cha chẳng còn nhìn thấy gì khác hơn là đứa con tiều tuỵ rách rưới. Yêu quá nên người cha chẳng nhìn thấy lầm lỗi mà chỉ nhìn thấy nỗi khổ của con. Trong trái tim ông, chỉ có tình thương dành cho con, nên vừa gặp con là tim đã rộn ràng xúc động.


"Chạy lại ôm cổ con". Lại một cử chỉ lạ lùng. Cha không chờ con tới theo đúng lễ phép mà đã vội vàng chạy lại ôm con. Tình yêu thương thúc đẩy, niềm vui dâng dạt dào khiến người cha không chần chờ được nữa. Bất chấp thân phận cao quý của mình, ông chạy đi như một đứa trẻ được quà. Bất chấp tuổi tác của mình, ông nhanh nhẹn như một thanh niên sung sức. Đứa con tuổi còn trẻ mà sao chẳng nhanh nhẹn bằng ông già? Vì trong tim nó thiếu tình yêu. Trái tim không tình yêu cũng giống như cơ thể không sức sống. Ông già mà nhanh nhẹn vì ông không chạy bằng sức lực của đôi chân. Ông chạy bằng trái tim. Ông bay bằng tình yêu. Tình yêu chắp cánh cho ông.


"Hôn lấy hôn để". Chẳng còn bút nào tả xiết niềm vui của người cha khi gặp lại đứa con. Những nụ hôn không ngớt đủ nói lên tình cảm dạt dào ông dành cho nó. Ông ôm chặt như để giữ không cho nó ra đi nữa.


Trong một thoáng, khi đứa con chưa có một động tác nào thì người cha đã có 4 động tác: nhìn thấy, chạnh lòng thương, chạy đến, ôm hôn. Trong một thoáng ngắn ngủi, khi chàng trai tuổi trẻ còn bất động thì ông lão già nua đã thực hiện 4 động tác rất nhanh nhẹn. Ông thật là người cha phung phí. Ông đã phung phí sức lực trong cuộc gặp gỡ với đứa con trở về. Ông đã phung phí tiền bạc khi chia gia tài một cách dễ dãi. Ông đã phung phí khi đem áo mới, giầy mới, nhẫn vàng, lại còn tổ chức một bữa tiệc mừng có bê béo, có cả đàn hát múa nhảy để đón đứa con đi hoang trở về. Làm thế chẳng sợ hàng xóm cười cho! Nói tóm lại ông đã phung phí tình yêu thương. Yêu thương quá độ. Yêu thương đến vô lý. Mà có lý lẽ nào giải nghĩa được yêu thương? Chỉ có tình yêu thương mới giải nghĩa được những điều vô lý đó.


NGƯỜI CHA VÀ ĐỨA CON CẢ


Đứa con cả đi hoang trong tâm hồn.


Đứa con cả vẫn ở nhà, nhưng thực ra chỉ có thân xác ở nhà, còn tâm hồn nó đã đi hoang từ lâu. Tuy ở trong gia đình, nhưng tâm hồn nó không thuộc về gia đình. Nó làm việc không phải với tâm tình của một người con hiếu thảo coi "mọi sự của cha là của con". Nó muốn vun quén riêng tư. Nó làm việc với tinh thần nô lệ, mong được trả công, chỉ nghĩ đến con "bê nhỏ", đến "bạn bè" riêng của nó.


Sống bên cha mà tâm hồn nó xa tâm hồn cha biết bao. Nó không sao chia sẻ được những tình thương, những ưu tư, hoài bão của cha. Cha là tình thương nhưng con chỉ là ích kỷ. Cha là bao dung nhưng con chỉ là hẹp hòi. Tâm hồn cha rộng mở bao nhiêu thì tâm hồn con khép kín bấy nhiêu. Cha chỉ biết tha thứ trong khi con chỉ biết kết án. Thật là khác biệt ngàn trùng.


Cha đi tìm con


Một lần nữa, người cha lại phải bỏ nhà ra đi, bỏ dở bữa ăn để tìm đứa con đi hoang trong tâm hồn. Vẫn với cử chỉ dịu dàng cố hữu; vẫn với những lời lẽ ôn tồn; vẫn với ánh mắt chan chứa cả một trời bao dung, cha cố gắng thuyết phục đứa con cả trở về.


Nếu đứa con út cần một cuộc trở về thì đứa con cả cần tới hai cuộc trở về: về với cha và về với em. Đi hoang trong tâm hồn xa xôi diệu vợi thế!


Qua dụ ngôn này Chúa cho thấy dù tôi là con út hay con cả, tôi vẫn cần trở về. Vì nếu tôi chưa đi hoang trong đời sống, chắc chắn đã rất nhiều lần tôi đi hoang trong tâm hồn: suy nghĩ và hành động của tôi khác hẳn với đường lối của Thiên Chúa là Cha; tôi vẫn không muốn chấp nhận anh em tôi.


Nhưng dụ ngôn cũng cho tôi an tâm trở về. Hình ảnh người cha hiền đứng đợi mời gọi tôi mau bước. Chúa là người Cha yêu thương tôi trước khi tôi yêu Người, đi tìm tôi trước khi tôi đi tìm Người, tha thứ cho tôi trước khi tôi xin lỗi Người.

THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT
Lc 15,1-3.11-32
Lm. An Phong, OP

Tin mừng Luca chương 15 là 3 dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa: dụ ngôn về con chiên lạc trong số một trăm con chiên (1/100); dụ ngôn về đồng bạc bị đánh mất (1/10) và dụ ngôn "người con hoang đàng" (1/2). Tin mừng chúa nhật thứ tư mùa Chay năm C là dụ ngôn thứ ba này. Đây thực là "một tin mừng (nhỏ) trong một Tin mừng (lớn)". Thực ra, gọi là dụ ngôn "người con hoang đàng" thì không đúng lắm, có lẽ gọi là "Người Cha Hoang Phí" thì đúng hơn, bởi lẽ người cha đã hoang phí tình yêu của mình cho các con của ông. Dung mạo người cha mới là điểm chính yếu. Người cha đã đồng ý chia gia tài cho người con thứ (đây là điều không hợp luật), vì theo quan niệm Trung Đông, người con không có quyền đòi chia gia tài khi người cha vẫn còn khỏe mạnh. Người cha chính là hình ảnh của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa "hoang phí" tình yêu cho nhân loại, dù Người biết nhân loại vẫn tội lỗi, ích kỷ, muốn sống độc lập với Người, thậm chí muốn loại trừ Người. Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của nhân loại.

Tình yêu của người cha đã đón nhận người con thứ trở về sau những ngày ăn chơi phung phí. Tình yêu của người cha đã mời người con trưởng chung vui vì người em trở về. Thiên Chúa cũng vậy: qua Đức Giêsu, Người vui mừng đón nhận những tội nhân thống hối và mời gọi tất cả mọi người cùng vui mừng và chia sẻ với Người.


Người con thứ xin Cha chia gia tài để trẩy đi phương xa. Người Cha sẵn sàng chia gia tài. Cha hắn để cho hắn tự do, không cấm cản gì. Hắn không vi phạm một điều luật nào hết. Thực ra, hắn tưởng mình có thể định đoạt tất cả. Hắn ra đi không phải vì ý muốn sa đọa thúc đẩy đâu, nhưng vì khao khát sống mạnh, sống ngoài vòng kiểm soát của Cha, vì háo hức khao khát kinh nghiệm, vì muốn biết cái mới lạ, nhưng lại không có bản lãnh, hung hăng quá trớn, thiếu ý chí. Khi ra đi là hắn xúc phạm đến cha. Mối giây ràng buộc với cha lớn gấp nhiều lần mối giây ràng buộc với lề luật.


Sau những ngày ăn chơi phung phá, hắn trắng tay. Hắn cảm thấy trống vắng, thiếu thốn tất cả. Hắn quyết định trở vê nhà Cha. Khi quyết định như thế,hắn đã nhận ra chính mình, giới hạn của mình. Chân lý bắt đầu khi con người nhận ra chính mình. Hắn hạnh phúc vì đã dám thú nhận: thưa cha, con đã xúc phạm đến trời và đến Cha. Hắn hạnh phúc vì đã dám tin vào tấm lòng của cha, sự tha thứ của cha. Hắn hạnh phúc vì đã trở về. Không phải vô lý đâu, khi Đức Giêsu đã có lần nói: Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước trời trước hết. Thế nhưng, không thiếu những người tưởng rằng mình thánh thiện, ngoan đạo, tự cấp cho mình quyền đòi hỏi bất cứ gì. Và cũng không thiếu những người tự hài lòng với việc chu toàn đầy đủ lề luật. Đó là hình ảnh của người anh cả. Người anh cả tưởng mình là người công chính, vì chu toàn hết mọi lề luật. Điều cần có anh đã không có, đó là tấm lòng thông cảm, chia sẻ, nhất là chia sẻ những tội lỗi, những giới hạn của người khác. Anh là hình ảnh của những kẻ tự cho mình quyền xét đoán người khác".


Đức Giêsu chính là người cha đó. Người không màng chi đến quá khứ của người tội lỗi. Tình cha còn lớn hơn quá khứ đó, còn lớn hơn sự hối hận, dày vò của người con. Thiên Chúa tha thứ tất cả.Chúng ta là người con cả hay người con thứ trong bài Tin Mừng hôm nay ?


Lạy Chúa,

Con xin dâng Ngài, lời thú tội của đứa con hoang:
Trước mặt Chúa, con đã phạm tội,
con đã hoang phí kho tàng ân sủng Chúa trao cho con,
xin nhận lòng sám hối của con.
Lạy đấng Cứu thế, xin cứu chuộc con.
Như người con bỏ nhà đi hoang, lạy Chúa,
con nay trở về sau khi đã phí phạm đời con,
lòng xa cách Chúa.

Lạy Cha, con đã hoang phí của cải Chúa ban cho con. Xin nhận lòng sám hối của con và xót thương con. Con đã thẳng tay phung phí tài sản của Cha, con sống cô đơn, cùng cực trên mảnh đất của những người trụy lạc. Lòng con hối hận, con xin trở về với Cha, lạy Cha nhân ái, xin nghe lời con van nài: "Thưa Cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng là gọi là con Cha nữa, xin coi con như một người làm công cho Cha vậy, và xin thương xót con".

(Phụng vụ Byzantin
)

NGƯỜI CON PHUNG PHÍ
Lc 15,1-3.11-32
Linh mục Phêrô Thiên

Ba câu mở đầu bài Tin Mừng là lời dẫn nhập cho "ba dụ ngôn về lòng thương xót": con chiên lạc tìm được, đồng tiền đánh mất tìm được, đứa con đi hoang tìm được. Như thế, ba câu chuyện này đã được Đức Giêsu kể để tự biện hộ về những quan hệ chướng tai gai mắt (đối với phái Pharisêu) mà Người có với những "kẻ tội lỗi".

"Một người kia có hai con trai..." Ta thường có thói quen xấu là chỉ nghe nửa đầu của dụ ngôn, phần nói về đứa con thứ. Thế nhưng, ông cha mới là người hùng của câu chuyện. Chúng ta sắp nghe không phải dụ ngôn "Người con phung phá" song là "Người cha phung phí", một vở kịch hai màn: cuộc "tranh chấp" giữa một người cha với 2 đứa con, cả hai đều được yêu mến như nhau, yêu mến điên cuồng, mặc dầu chẳng có đứa nào xứng đáng với tình yêu đó cả! Một câu chuyện tình cảm động nhất (Charles Dickens), một hình ảnh đẹp nhất của Cha trên trời!


1- Thái độ của người cha đối với đứa con thứ


Đứa con này chỉ là một tên trục lợi: nó đòi tiền bạc, rất nhiều tiền bạc. Nó chỉ nghĩ tới mình. Nó nhận tất cả từ cha, nhưng chẳng hề biết ơn cha, mà chỉ nghĩ một chuyện: đòi hỏi, yêu sách... Phần người cha thì hoàn toàn trái ngược. Ông chỉ là cho không, chia sẻ vô vị lợi, tôn trọng tự do người khác, tóm lại chỉ là tình yêu! Hình ảnh Thiên Chúa!


Đứa con thứ chính là hình ảnh Biệt phái vẫn thường vẽ lên về tội nhân: a/ Là đứa con nổi loạn, đòi độc lập tự chủ, y quả tượng trưng chủ nghĩa vô thần của mọi thời: hưởng dùng các "ân huệ" của Thiên Chúa nhưng chẳng thừa nhận Thiên Chúa, còn sống xa Người, muốn làm mọi chuyện mà chẳng bị ai kiểm soát cả: "không Chúa không chủ". Điều đó đặc biệt đúng với hôm nay! b/ Hơn nữa, đối với Biệt phái, đứa con Israel này đã xuống tới đáy ti tiện đê hèn. Nó đã bán thân làm nô lệ cho một người ngoại, thành thử chẳng còn giữ ngày sabát cũng như các tập tục về thanh sạch: nó chăn heo, con vật nhơ bẩn, ghê tởm, bị cấm đoán. c/ Hơn nữa, dẫu chỉ xét về mặt con người, sống như thế cũng không hợp luân lý: đây là một tên phóng đãng, một loại người hạ đẳng, biến chất, trở lùi lại thú tính. Nó sống như một loài heo: kiếm tiền, ăn nhậu, làm tình... chỉ biết đến cái tôi, thuần mơ chuyện hưởng thụ...


Ta quả là tô vẽ nó khi ca ngợi sự hoán cải của nó. Không, đứa con thứ vẫn chẳng có thần nào khác ngoài tư lợi ích kỷ: đổ cho đầy bụng! Việc nó trở lại nhà chỉ là một tính toán đê tiện nhằm tìm lại chỗ trú và bàn ăn. Câu nói hoa mỹ, nghe rất lâm ly bi đát, chỉ là một màn kịch soạn sẵn nhằm làm mủi lòng người cha mà nó nghĩ là sẽ la rầy, trừng phạt nó đích đáng và... chính đáng. Có đứa con nào đi xa nay trở về thăm cha mẹ mà lại chuẩn bị trước những câu nói vốn sẽ tự nhiên trào ra tận đáy lòng một khi trông thấy quê nhà dấu yêu? Đứa con thứ xót bụng hơn đau lòng! Nó đúng là một tên khốn khiếp, nạn nhân của các bản năng, của lũ bạn bè quý hóa: nó đã đánh mất tập quán yêu thương, chỉ còn biết nghĩ tới chính mình. Lạy Chúa, đó là hình ảnh của con. Con thường sống như vậy!


Thằng con trở về với ý đồ đê tiện. Nhưng khi "nó còn ở đằng xa", còn chưa mở miệng thì người cha đã làm tất cả. Bốn cử chỉ: "ông đã trông thấy nó", "ông chạnh lòng thương...", "ông bổ nhào ra...", "ông ôm cổ nó và hôn lấy hôn để". Cử chỉ chạy bổ nhào ra có lẽ là cử chỉ mạnh nhất của toàn thể dụ ngôn. Trong tập quán của mọi thời, không có chuyện một người trên chạy tới với một người dưới, nhất là khi kẻ dưới này có một thái độ đáng trách. Đây lại là một ông già đông phương đường bệ, lúc nào cũng ăn nói và đi đứng khoan thai từ tốn.


Vâng, ta bóp méo hoàn toàn dụ ngôn của Đức Giêsu khi trình bày cuộc trở về của đứa con này như mẫu gương "hoán cải". Nếu Đức Giêsu chỉ mô tả sự "thống hối" của một tội nhân, giáo huấn này đã chẳng gây khó chịu cho người Biệt phái. Tại Israel, người ta đã biết từ lâu, toàn thể Kinh Thánh làm chứng, là Thiên Chúa tha thứ cho tội nhân hoán cải. Nhưng thái độ của người cha ở đây còn đi xa hơn nhiều: ông không mảy may lưu ý xem thằng con biểu lộ một lòng thống hối đích thực hay giả tạo. Ngay khi nó còn ở đằng xa, ông đã chạy ra gặp nó. Đức Giêsu không nhấn mạnh đến thái độ của đứa con hoang đàng, trên những cử chỉ thống hối đền tội của nó, nhưng trên tình yêu vô vị lợi của người cha... một người cha đã tha thứ vô điều kiện, trước khi đứa con thú lỗi! Đức Giêsu nói cho ta biết "làm con" là gì: trước hết đó không phải là có thái độ thế này thế kia với cha hay mẹ... nhưng là được cha và mẹ thương yêu, cho dù mình xứng hay bất xứng! Đó đã là mạc khải của ngôn sứ Hôsê: Thiên Chúa tiếp tục yêu thương cô vợ bất trung bất tín của Người (Hs 3,1; 11,1-9; 14,5-9). Hỡi những ai tự nhận là vô thần, những ai sống như kẻ vô thần, những ai đã xa lìa Thiên Chúa vì tội lỗi, Đức Giêsu nói với quý vị: "Cho dẫu bạn không tin Thiên Chúa lẫn yêu mến Người, Người cũng chẳng bao giờ ngừng tin và yêu bạn!". Ta hiểu vì sao những kẻ tội lỗi đã chạy đến cùng Đức Giêsu.


Trong vòng tay cha, thằng con bắt đầu tụng lên câu nói đã dọn sẵn, nhưng ông không để nó kết thúc. Ông chẳng cần biết nó dối trá hay chân thành. Ông chỉ biết nó là con ông và ông là cha nó. Trái tim tràn tình yêu của ông khiến ông đổ đầy nó bằng tặng phẩm! Đây quả thực là một lễ cưới: áo, nhẫn, giày, tiệc, ca nhạc, quả thực là nghi lễ phục hồi chức vị làm con. Ông lăng xăng chạy từ nhà trên xuống nhà dưới, từ đầu sân đến cuối sân, hối thúc gia nhân dọn tiệc. Niềm vui ông thật vỡ bờ. Nếu có hình dung sự hoán cải của thằng con đểu giả thì chính là lúc này đây, khi nó đứng giữa sân như trời trồng rồi khóc lên sung sướng vì nhận thấy tất cả tình thương bao la vĩ đại của cha. Nhưng đó không phải là điều tác giả dụ ngôn muốn đề cập.


Tình thương của người cha được cô đọng trong câu: "Con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã thất lạc mà nay lại tìm thấy". Đây là điệp khúc chấm dứt màn nhất của vở kịch. Lát nữa ta sẽ gặp lại nó cuối màn hai với vài từ thay đổi. Chết-sống... Thất lạc-tìm lại... Cái chết nào đối với Đức Giêsu đây? Mạc khải nào Người muốn đưa ra cho nhân loại đây? Thưa rằng: xa Thiên Chúa, đó là chết, đó là đánh mất chính mình! Con người chỉ hiện hữu thật sự trong mối tương quan với Thiên Chúa thôi. Người ta có thể tưởng mình sống, thế mà đã chết trong thực tế.


Nhưng khi phàm nhân trở về, thì "cuộc liên hoan" của Thiên Chúa bắt đầu, "niềm vui" của Thiên Chúa nở rộ! Hoán cải, đó đơn giản là đi vào niềm vui của Thiên Chúa. Đấy chính là chuyện mà anh con cả sắp khước từ.


2- Thái độ của người cha đối với đứa con cả.


Đối với đứa con cả, người cha cũng biểu lộ một lòng tốt như thế: "ông ra gặp chàng trước...", "ông năn nỉ chàng...". Kinh Thánh thường trở đi trở lại trên chủ đề này, chủ đề về tính nhưng không tuyệt đối của các hồng ân Thiên Chúa, qua hình ảnh con thứ thay thế con cả (St 27,36; 2Mcb 4,26; Cn 30,23; Hs 12,4), hình ảnh "những người thợ giờ cuối cùng" cũng được trả công bằng "những người thợ giờ thứ nhất" (Mt 20,8), hình ảnh "những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu" (Lc 13,30), hình ảnh "lương dân" sẽ thay thế "tuyển dân" (Rm 9,30). Tất cả đều nói lên tự do cao vời và tính cách nhưng không của tình yêu Thiên Chúa.


Đối với đứa con thứ, người cha đã không muốn nghe gì hết. Nay đối với anh con cả, ông để cho chàng mặc sức trút lên đầu ông bầu tâm sự đầy cay đắng, phẫn nộ. Có lẽ anh cũng có lý của mình. Anh ta chính là chân dung của người Biệt phái mà Đức Giêsu muốn khắc vẽ. Câu quả quyết của anh: "Ông coi, đã bao năm trời tôi làm tôi ông, cũng chưa hề lướt lịnh ông" quả là đúng với sự thật, làm nổi bật hình ảnh phái Pharisêu tự hào vì đã giữ trọn luật (x. Lc 18,9). Thái độ của anh không kể gì đến tương quan anh em nữa ("thằng con của ông") và nói về em một cách khinh bỉ đúng là thái độ của phái Pharisêu đối với hạng mà họ gọi là tội nhân. Bản dịch Anh ngữ câu nói của người con cả này còn cho ta một chi tiết lý thú: "thì ông lại giết con bê chúng ta đã cùng vỗ béo" (you kill the calf we had been fattening). Đúng là chua chát và ghen tức đến cực điểm! Riêng đối với cha, anh đã biến mình thành tôi tớ, biến tình thương thành nô dịch.


Như thế, người con cả cho ta thấy chính trọng tâm của dụ ngôn: anh ta đã không nhận rõ tất cả tình yêu đang bao phủ anh: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, mọi sự của cha đều là của con hết thảy. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, vì em con đây..." Người cha sửa lại lối nói của người anh một cách tế nhị ("em con đây" đối lại "con ông đó"). Qua dụ ngôn hai màn này, thành thử chúng ta được mời đi vào trong tình yêu của Thiên Chúa, trong niềm vui của Người được gặp lại các tội nhân. Đây là lời loan báo sự hoán cải của lương dân sẽ đi vào trong "dân mới của Thiên Chúa" hàng loạt. Một ngày kia, Luca sẽ đặt trên miệng Phêrô câu nói này khi nhận ra ân sủng ban cho viên bách quản ngoại đạo: "Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Người đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa" (Cv 11,17). Không, không có ưu đãi: hết thảy đều được Cha trên trời mến yêu.


Và dụ ngôn "đứa con thất lạc tìm thấy" (hay đúng hơn "người cha phung phí", phung phí tình yêu) kết thúc với cùng một điệp khúc vui tươi như hai dụ ngôn trước (xin xem Chúa nhật 24 thường niên năm C). Màn hai của dụ ngôn lấy lại câu kết luận của màn đầu, với việc đổi từ "con ông" bằng "em con" như đã ghi nhận. Thiên Chúa là Cha, điều đó chắc chắn: Người yêu hết thảy con cái của mình. Nhưng nhân loại có là anh em với nhau không? Phải chăng anh con cả sẽ để mình bị thuyết phục và "đi vào chung hưởng niềm vui với cha"? Chúng ta không biết. Dụ ngôn vẫn bỏ ngỏ. Vì chính người Biệt phái, chính chúng ta phải cho nó một kết luận: đi vào cuộc liên hoan với Thiên Chúa, cuộc liên hoan mừng kẻ tội lỗi trở về.

(Viết theo Nil Guillemette SJ, Parables for today)

VỀ VỚI TÌNH YÊU CHÚA
Lc 15,1-3.11-32
Lm.PM. Cao Huy Hoàng

Tôi vẫn thường thấy tội lỗi của người khác một cách dễ dàng hơn là nhìn thấy tội lỗi của tôi. Tôi vẫn thường đóng vai quan tòa để kết án người khác theo như tội trạng của họ. Tôi vẫn nghĩ rằng người khác tội lỗi hơn tôi- hoặc nghĩ là tôi thánh thiện-và tôi loại trừ họ, không giao du, không tiếp xúc với họ. Tôi vẫn đấm ngực người khác, trước khi đấm ngực tôi: "lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại người ta một phần". Như có một lần, tôi đến thăm một Linh Mục, bạn cùng lớp tôi, hỏi thăm về Giáo xứ, Ngài nói: "Ở đây mình ngán nhất là việc giải tội, vì họ xưng tội của người khác nhiều hơn xưng tội của chính mình"...Não trạng của những Biệt phái, những người Phariseu, thời Chúa Giêsu, vẫn còn hiện thực trong tim óc và cách sống của tôi, tín hữu thời nay. Và còn hơn thế nữa, những cảm thức về tội của thời nay còn biến thay muôn hình vạn trạng:

- Không thấy mình có tội hoặc tự tha tội cho mình tự chước giảm mức nặng của tội.

- Tội phong trào: người ta phạm được mình phạm được
- Sự cần thiết của Bí tích Hòa Giải để trở về với Thiên Chúa cũng giảm nhẹ, nếu không nói là không còn, đối với một số người.

Thì ra, ở đâu và thời nào, sức bành trướng của thế lực thù nghịch Thiên Chúa luôn lôi kéo con người ra chỗ càng xa Thiên Chúa càng tốt- như các người biệt phái xưa, thấy những người thu thuế, tội lỗi tìm đến Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu tiếp đón họ ân cần, thì lòng họ khinh bỉ luôn cả Chúa Giêsu là không có tư cách cứu thế.


LÒNG NHÂN TỪ CỦA CHÚA


Chúa Giêsu đưa ra một loạt ba ví dụ về lòng nhân từ của Thiên Chúa(Lc 15): Con chiên lạc, đồng bạc đánh mất, và nhất là ví dụ về tình phụ tử trong Tin Mừng hôm nay-nhằm nói với họ rằng: Chúa Giêsu đến với người tội lỗi, cứu người biết mình tội lỗi có ý hướng quay về.


Suy gẩm ví dụ "Tình Phụ Tử" cho tôi thấy trong ấy hàm chứa nhiều thông điệp quan trọng với đời sống tín hữu của tôi:

- Thiên Chúa để cho con người tự do dùng các ơn của Chúa: người con thứ đòi chia gia tài, người Cha tôn trọng và đáp ứng yêu cầu của con
- Lòng Cha yêu con, buồn phiền, không yên lòng, khi con rời xa Cha, luôn mong con trở về với mái ấm tình thương gia đình
- Sự sám hối chân thành của người con thứ: nhận ra mình đã lỗi phạm đến tình thương của Cha, quyết tâm đứng lên, mạnh dạn trở về thú tội và xây dựng một tương quan mới: tương quan của một lòng yêu thật.
- Cử chỉ, thái độ và kế hoạch đón tiếp của Cha, đầy tình thương yêu, cảm thông và tha thứ.
- Không nên có thái độ của người con cả với những ý niệm sai lầm về tương quan Cha Con, như tương quan của chủ tớ, sống trong tình thương của Cha, mà không nhận ra tình thương ấy.

BÍ TÍCH HÒA GIẢI

Một phần suy niệm các thông điệp, tôi muốn dùng Lời Chúa hôm nay, "Tình Phụ tử", liên hệ đến đời sống Bí Tích Hòa Giải
Điều đáng vui mừng là ở khắp các Giáo xứ tại Việt Nam, việc ban và lãnh nhận Bí tích Hòa giải vẫn còn đang sinh động lắm. Nhưng điều đáng nói là: cần bổ sung vào việc đạo đức ấy một tâm tình thánh thiện chân thành của người con hoang đàng như trong ví dụ "Tình Phụ Tử".
- Cảm thấy xấu hổ vì tội: làm cho mất nhân phẩm tự nhiên và nhất là mất nhân phẩm Ki tô hữu, "con cái Thiên Chúa". Cảm nghiệm được sự bất hạnh khi sống trong tình trạng xa cách Thiên Chúa và nhất là "giác ngộ" được chân lý "sẽ phải chết đời đời"
- Cảm thấy đói: không chỉ giữ luật xưng tội một năm ít là một lần, nhưng phải có tâm tình "cảm thấy đói". Ấy là "Đói" Chúa Giêsu Thánh Thể, khao khát được kết hợp lại với Chúa Giêsu và Thiên Chúa qua việc rước lễ, để được "sống lại và sống đời đời" trong tình thương yêu của Chúa.
- Quyết tâm trở về: "Tôi sẽ đứng lên sẽ trở về cùng Cha..." đồng nghĩa với việc quyết tâm chừa tội và mạnh dạn tìm đến Bí tích Hòa giải cách sớm nhất.
-Thú tội: "Thưa Cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến Cha..": xưng thú tất cả các tội đã phạm với lòng tin tưởng vào lòng Chúa nhân hậu luôn sẵn sàng tha thứ; chân thành nhận hoàn toàn sự sai trái thuộc về mình, do sự lạm dụng tự do của mình, không đổ thừa đổ lỗi cho ai, cho hoàn cảnh...
- Dự tiệc: dự tiệc Thánh Thể với tâm tình Tạ Ơn lòng Chúa nhân hậu.
Tưởng cũng nên nhắc lại đây, một vài vấn nạn thường gặp của tôi, của các tín hữu khi đề cập đến Bí tích Hòa Giải.
- Không xét mình hằng ngày, dần dần mất cảm thức về tội, mất lòng thống hối
- Không thường xuyên tham dự Thánh Lễ, mất lòng khao khát kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể, do đó, việc xưng tội trở nên không cần thiết.
- Không tin tưởng đủ vào lòng Chúa thương xót, mất niềm trông cậy
- Các Linh Mục, thừa tác viên Bí tích giải tội, trung gian của ơn thứ tha hòa giải, đóng một vai trò quan trọng vô cùng trong việc trở về của các hối nhân. Các tín hữu vẫn mong thấy được lòng nhân từ của "Chúa thương xót" thể hiện nơi cách tiếp đón và thi hành mục vụ Bí tích cách nhân bản, tế nhị và đạo đức nhất.
Vì những vấn nạn trên, nên đã hình thành những tâm trạng như: có tội xét mình dễ, có tội khó; có tội dễ xưng, có tội khó nói; có tội xưng dễ, chừa khó; có Cha ngồi tòa đông hối nhân tìm đến, có Cha chẳng có ai; có việc đền tội làm được, có việc không...

TÌNH YÊU


Không phải mười điều răn Đức Chúa Trời và sáu luật điều Hội Thánh dạy cho tôi có cảm thức về tội, nhưng chính "lòng yêu" của tôi, lòng biết ơn của tôi dành cho Thiên Chúa, như dành cho "người Cha nhân hậu" mới cho tôi nhận ra tôi đã xúc phạm tới Thiên Chúa và tha nhân đến mức nào. Chính vì 'hiểu được Cha tôi ở nhà thương tôi, lo cho tôi từng bữa cơm, từng tấm áo, từng giấc ngủ'; nên tôi mới nhận ra sự bất hạnh của tôi khi phải sống xa Cha, sống bụi bờ, đói khát và mất nhân phẩm; và tôi quyết tâm trở về vì tôi yêu Cha tôi.


Phàm ai trên đời cũng có tội, tôi cũng không ngoại lệ. Tội, không chỉ dựa theo mười điều răn Đức Chúa Trời và sáu luật điều Hội Thánh-mà còn là Tội: mỗi khi tôi đặt "lòng yêu" của tôi trọn vẹn vào một thực tại hư hèn, hoặc một thực tại không phải là Thiên Chúa.


Lạy Chúa, xin cho con lòng yêu mến Chúa nồng nàn, để con kịp nhận ra những gì là không phù hợp với Thánh Ý và Tình Yêu Chúa; để con kịp nói với Chúa lời xin lỗi vì những xúc phạm, để con kịp tìm đến Bí tích Hòa Giải mà trở về với Chúa, trong vòng tay ôm yêu thương của Chúa, Người Cha nhân hậu. A men

HỎNG HẾT ! HỎNG HẾT
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Cứ mỗi lần chia sẻ hay giảng giải về đoạn tin mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay C (Lc 15,1-3;11-32) tôi thường bị cám dỗ phân tích tỉ mỉ từng chi tiết hình ảnh người con thứ, tạm gọi là đứa con hoang đàng. Phân tích tỉ mỉ theo kiểu chú giải Thánh Kinh cũng có, theo cái nhìn tu đức cũng có, rồi sau đó áp dụng cho hoàn cảnh hiện nay. Và không thể bỏ qua, nói đúng hơn là luôn nhấn mạnh đến hình ảnh người cha nhân hậu. Còn hình ảnh người con cả, tuy có phân tích, nhưng chỉ như vai phụ.

Khi người con thứ xin cha chia gia tài là lúc nó muốn cha nó chết quách cho rồi, vì theo luật bấy giờ người con chỉ được nhận gia tài khi cha đã qua đời. Nhiều người, đặc biệt kể từ thế kỷ Ánh sáng đến nay đã bị cám dỗ muốn "Thiên Chúa biến đi" để mình được tự do và thực sự là mình, mà nói theo ngôn ngữ triết học là để mình khỏi bị vong thân. "Con không cha như nhà không nóc". Một người con khi đã muốn giết cha thì bất cứ sự xấu xa nào cũng có thể làm. Ăn chơi đàn đúm là chuyện tất yếu kéo theo, nhiều khi chỉ là chuyện nhỏ. Hậu quả nhãn tiền của chuyện ác giả ác báo vẫn thường xảy ra đây đó. Sau thoáng lên mây thì xuống kiếp đọa đày là điều vẫn thường thấy. Mang kiếp đốn mạt, thua cả heo vốn là sự không thể tưởng theo quan niệm của người Do Thái lúc bấy giờ, thế mà đó là thực trạng của đứa con bất hiếu, hoang đàng. Quay đầu là bờ ư? Anh này chỉ biết nghỉ đến cái bụng mình thôi. Kẻ gian vốn thường làm ra vẻ ngoan. Môi dẻo, lưỡi cũng lắt léo với câu thú tội đã nhẩm đi nhẩm lại để khỏi vấp.


Bóng càng đen thì ảnh càng rực sáng. Không ngại ngần ẩn mình hay chết đi, không chỉ với đứa kêu xin, mà với cả đứa còn lại. Người cha đã chia gia tài cho cả hai. Có nhiều kiểu nói không thành lời nhưng luôn đầy ý. Người con cả tuy ở trong nhà, nhưng anh ta không thực sống phận con thì người cha vẫn không tồn tại trong tâm khảm của anh. Dù con không nhìn hay chẳng nhận thì cha vẫn mãi là cha: "mọi sự của cha cũng là của con." Từng ngày, từng giờ, ông còn mỏi mòn ngóng trông đứa con xa nhà. Ô kìa nó đây! Ông vội chạy đến ôm con hôn lấy hôn để, bất kể mùi uế tạp lẫn bụi đường khắp cả mình con. Không cần nghe trọn lời xưng thú, cũng chẳng cần tra khảo thứ loại tội hay số lần nó đã phạm: Phạm tội gì? Phạm ra sao? Phạm mấy lần?..."Mau đem áo đẹp ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào tay cậu, xỏ giày vào chân cậu!" Tình yêu cha đủ làm con sạch hơn mọi thứ nước của trần gian. ông lại còn sai bắt con bê đã vỗ béo để mở tiệc ăn mừng. Quả là một sự chuẩn bị trong niềm hy vọng sắt son. Tình yêu là thế: Không bao giờ chịu bó tay vì chẳng hề thất vọng bao giờ.


Không cần biết lý do, cũng chẳng cần xem xét quá khứ của nó, chỉ biết là nó đang ở đây, nghĩa là con ta đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Từ câu chuyện kể đến cảnh hiện thực trên đồi sọ năm xưa: "Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 26-3,43).


Hỏng! Hỏng hết Chúa ơi! Thương yêu kiểu này thật là vô lý. Chỉ tổ vẽ đường cho hươu chạy hay bắc cầu cho chuột leo mà thôi. Xin đừng làm cớ cho người ta ỉ lại! Thế là hỏng, hỏng hết! Chúa yêu thương kiểu này thì người ta tha hồ ăn chơi sa đọa mà chỉ cần một chút sám hối là dư lời cả Nước Trời. Lại có người chẳng cần đến các bí tích, lễ lạc, chẳng cần vào tòa xưng thú tội lỗi, chắc họ sẽ theo anh em Tin lành mất thôi. Dứt khoát không thể được. Xin Chúa hãy mau sửa lại câu chuyện này, kẻo nhân loại hư hết, hỏng hết mà thôi.


Dù trời đất có qua đi, nhưng lời của Chúa sẽ không hề thay đổi (x.Mt 5,18). Có thể chúng ta đã lầm. Chuyện kể của Chúa Giêsu sở dĩ có ra là vì nhiều người biệt phái và luật sĩ năm xưa đã thấy khó chịu, khi nhiều người thu thuế và tội lỗi năng lui tới với Người. Họ đã lẩm bẩm, xầm xì trong ganh tị và cả tức tối. Vì họ không chấp nhận những người ấy là huynh đệ của mình. Chính Chúa Giêsu đã từng minh định rằng Người đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng là người tội lỗi. Thầy thuốc không cần cho người mạnh khỏe mà là tội nhân. Như thế chuyện Chúa Giêsu kể không cố ý nhấn mạnh đến người con thứ bỏ nhà ra đi, nhưng là người con cả đang ở trong nhà. Chính khi anh ta loại bỏ người em là lúc anh ta tự loại mình ra khỏi tình cha.


Tình Chúa mãi luôn bao la. Người muốn tất cả mọi người đều được hưởng ân tình của Người. Tình yêu thì không cần hội đủ điều kiện. Dù chỉ một cơ hội nhỏ nhoi thôi cũng đủ để cho tình yêu lên ngôi. Tình Chúa vượt quá mọi tình cha thế trần. Người chính là nguồn của mọi tình phụ tử. Là người cha thì lắm khi không cần con cái trực tiếp báo hiếu hay đáp đền công đức. Chỉ cần chúng nó yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong nghĩa tình huynh đệ. Thế là đã đủ.


Đọc Tin mừng chúng ta sẽ càng xác tín chân lý này. Chúa sẽ xử với chúng ta không theo những gì chúng ta đã làm cho Người mà theo những gì chúng ta đã làm cho nhau. Không xét đoán tha nhân thì Chúa sẽ không xét đoán chúng ta. Nếu ta tha thứ cho tha nhân thì Chúa sẽ thứ tha cho chúng ta. Khi ta làm một điều thiện bé nhỏ cho một trong những người bé mọn thì Thiên Chúa không chỉ lấy đấu đã dằn, đã lắc mà đong đổ sự thiện hảo cho chúng ta mà Người còn tặng ban hạnh phúc Nước Trời cho chúng ta (x.Lc 6,36-38; Mt 25,31-46)


Lạy Cha chúng con ở trên trời...Xin Cha tha nợ cho chúng con...(Mt 6,9-13) Chưa xin thì Chúa cũng đã ban ơn tha thứ, vì Chúa Kitô đã chết cho chúng ta khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch. Chưa xin thì Chúa cũng đã nhận chúng ta làm con, vì Người đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một...(Ga 3,16)


Chúa yêu thương, ban ơn tha thứ cho loài người chúng ta thật quá dễ dàng và nhiều khi ta lầm tưởng như là quá hoang phí. Quả đúng vậy. Dường như là một quy luật: Đã thương thì không hề tiếc, đã yêu thì chẳng bao giờ tính toán, so đo. Tuy nhiên để nhận được tình yêu, thì cần phải có điều kiện nào đó. Và cái điều kiện không thể thiếu để có thể đón nhận tình yêu của Cha trên trời, đó là chúng ta phải đón nhận nhau là anh chị em. Điều kiện nay xem ra không dễ. Nếu một ai đó, một người bé mọn hay một kẻ gian ác không có tí chỗ nào trong trái tim chúng ta, thì khi ấy mới thực sự là hỏng hết, hỏng hết.


Để có thể đặt những người không dễ thương mà lại còn đáng ghét vào một chỗ nhỏ trong trái tim chúng ta thì Thánh Lễ, các bí tích, việc cầu nguyện... luôn cần thiết, vì không có ơn Chúa chúng ta không thể làm được sự gì (x. Ga 15,5).

TÌNH CHA HẬU HỈ
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Dưới góc nhìn tình yêu thì người ta có thể nói rằng đoạn tin mừng của thánh sử Luca tường thuật câu chuyện kể của Chúa Giêsu về "người con hoang đàng" là đỉnh cao của chữ tình. Người ta còn nói rằng nếu chọn một chương tiêu biểu trong tin mừng thánh sử Luca thì chương 15 phải được ưu tiên. Và trong chương ấy nếu chọn một vài câu thì bài trích Tin Mừng trong Chúa Nhật IV mùa Chay C đáng phải được chọn làm tiêu biểu.

Nói về chữ tình thì cái tựa đề cũ "người con hoang đàng" hay "đứa con phung phá" không thể lột tả hết. Hẳn nhiên điều này được minh chứng qua động cơ trở về của anh ta là chỉ muốn được no cái bụng. Ngày nay người ta đổi tựa đề câu chuyện kể của Chúa Cứu Thế thành "người cha nhân hậu". Theo thiển ý cái tựa đề này diễn tả nội dung câu chuyện khá hoàn hảo. Tuy nhiên xin được mạo muội góp một cái nhìn khi thêm một tựa đề đó là "tình cha hậu hỉ".


Hai từ hậu hỉ gợi mở cho chúng ta cảm nhận sự dư tràn vượt quá mong ước. Quả thật câu chuyện kể của Chúa Giêsu đã khiến người đương thời và cả chúng ta hôm nay chưng hững vì nhiều điều. "Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng". Và người cha đã chia của cải cho hai con". Theo luật bấy giờ, người con chỉ được nhận gia tài khi cha đã khuất. Đang sống sờ sờ thế mà một đứa con muốn mình như đã chết. Không sao. Đã khuất trước một đứa con thì sẵn sàng khuất bóng trước cả đứa còn lại. Nước từ trên chảy xuống. Miễn sao con cái được sống thì sự sống của mình vẫn tồn tại. Đã có đó nhiều người cha, người mẹ thanh thản nhắm mắt lìa đời khi thấy con cái đã thành gia thất.


Dù khuất bóng nhưng lòng người cha vẫn mãi dõi theo bước chân con cái mình. Đứa con như vô đạo, bất hiếu có ngờ đâu cha anh vẫn ngóng trông anh từng giờ, từng ngày, trong khi anh đang mãi mê ăn chơi sa đọa. Cái gì đến rồi sẽ đến. Chuyện gieo gió, gặt bão là lẽ như tất nhiên. Lá rụng về cội là điều thường có. Trong thân phận của kẻ hèn kém hơn cả loài heo, người con đi hoang mới chợt bừng tỉnh. "Biết bao người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha..." Chẳng biết anh ta có chút tình nào với người cha già, nhưng sự vị kỷ là có đó: về với cha chỉ vì miếng ăn, chỉ vì cái bụng. Kẻ gian thường tỏ vẻ ngoan. Để che giấu sự vị kỷ của mình, người con hoang đàng đã nhẩm đi nhẩm lại cho thuộc lòng câu thưa thoặt nghe dễ mủi lòng: "Thưa cha, con thật đắc tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy".


Không sao cả, miễn là con ta đi xa nay trở về, đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy. Dù là tấm thân gầy gò đầy bụi bẩn, lẫn mùi phân hôi của loài nhơ uế, nhưng chính là con của ta. Người cha đã vội chạy đến ôm cổ đứa con, hôn lấy hôn để. Vòng tay âu yếm, những nụ hôn yêu thương đã xóa đi mọi cách ngăn sạch nhơ, sang hèn. Có nhiều điều dường như là không thể với khả năng con người, nhưng đều là có thể khi tình yêu hiện diện. Tình yêu mạnh hơn cả sự chết!


Chẳng đợi con dứt câu xưng thú, chẳng cần biết quá khứ của con như thế nào, hôm nay, giờ này, con hiện diện ở đây là đủ. "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng". Tình người cha, một mối tình bao la đủ làm cho người con nên thanh sạch hơn mọi thứ nước tự nhiên. Cái tình ấy đã được chuẩn bị từ lâu qua con chiên được vỗ béo mà hẳn các gia nhân vốn thừa hiểu.


"Con ta đây đã chết mà nay sống lại." Có con rồi mới có cha. Có cháu rồi mới có ông, có bà. Sự sống chết của người cha như lệ thuộc vào sự sống chết của đứa con. Đến đây chúng ta mới hiểu sự sâu xa lời của một giáo phụ: "Vinh quang của Thiên Chúa là sự sống của con người". Thế gian này là chi? loài người là gì? Thảy đều là loài thọ tạo. Thế nhưng Thiên Chúa đã chọn làm hình ảnh của chính Người (x.St 1,27). Và Người đã yêu thương nó đến độ đã ban chính Con Một để cho nó được sống và sống dồi dào. (x.Ga 3,16). Vậy ta có thể nói rằng Thiên Chúa không thể bỏ con người, không thể bỏ bất cứ một ai, nếu Người thực sự là Thiên Chúa.


Thánh sử Luca cho chúng ta hay chính vì những lời xầm xì của nhiều người Pharisiêu và luật sĩ khi thấy những người thu thuế và người tội lỗi lui tới với Chúa Giêsu mà Người đã kể câu chuyện này. Họ cảm thấy khó chịu vì tình Chúa quá hậu hỉ. Họ ganh tị vì thấy tình Chúa như không công bằng. Bọn thu thuế và mấy người tội lỗi kia không đáng được yêu. Và cách mặc nhiên họ cho rằng chỉ mình họ mới xứng đáng. Đằng sau lòng ganh tương đố kỵ luôn có bóng dáng của thần dữ.


Chúa Giêsu đã cảnh giác những tâm hồn đố kỵ ganh tương bằng hình ảnh người con cả trong câu chuyện. Dù đang ở trong nhà nhưng anh ta hành xử như là kẻ làm tôi. Anh còn tự loại mình ra khỏi tình cha, khi không nhìn nhận người em của mình. "Còn thằng con của cha kia...". Loại bỏ tha nhân, không nhận nhau là anh em một nhà, thì vô tình chúng ta tự loại mình ra khỏi tình Cha trên trời, Đấng từ bi nhân hậu, cho mưa rơi đều trên người công chính lẫn bẻ bất lương, cho mặt trời mọc lên soi sáng người thánh thiện và người tội lỗi, Đấng không bao giờ muốn cho kẻ gian ác phải chết nhưng tìm mọi cách để họ ăn năn sám hối và được sống.


Tình Chúa thật bao la hay tình cha luôn hậu hỉ. Trong tình Chúa, không có sự gì là không thể. Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể hưởng nhận tình Cha trên trời, nếu chúng ta biết ngửa tay đón nhận. Chỉ một lời khẩn xin: "Thưa Ngài, khi nào về nước Ngài, xin hãy nhớ đến tôi", thì hạnh phúc Nước Trời đã được ban cho người gian phi bị treo bên phải Chúa Giêsu năm xưa ngay ngày hôm ấy (x.Lc 23,29-43). Nhưng cũng xin đừng quên chân lý này: không ai hưởng hạnh phúc Nước Trời một mình. Rất có thể chính ta tự đóng đinh số phận của mình, nếu ta loại bỏ tha nhân ra khỏi nghĩa tình huynh đệ.

ƠN CHA
Lc 15,1-3.11-32
Lm Jos Tạ Duy Tuyền

Khi nói về tình yêu và sự hy sinh của một người cha, người ta thường ví von như biển cả bao la, như cây cao bóng cả, như núi cao vời vợi. Một tình yêu không vồn vã nhưng trầm lắng và rộng lớn bao la. Một tình yêu không cần diễn tả bằng lời, không cần biểu lộ bằng những cử chỉ trìu mến thân thương, đôi khi tỏ ra cương quyết nhưng lại là chỗ dựa vững chắc nhất cho con cái vào đời.

Tình thương và tấm lòng người cha như thế, đã được ca sĩ Ngọc Sơn diễn tả qua bài hát "Ơn Cha" như sau:

Ơn Cha như Thái Sơn cao bao tầng
Ngoài tuy cương quyết mà lòng thương mến
Ơn Cha như đuốc soi cao trên đường
Đuốc soi tâm hồn dắt con tìm hướng
Ơn cha như bóng cây xanh trên ngàn
Tình Cha tha thiết, lòng cha âu yếm
Ơn Cha như mái hiên che năm trường
Gió mưa xa gần, nắng mưa không sờn.

Vâng, chính tình thương mênh mông biển cả của người cha luôn phủ lấp cuộc đời của những người con, là hành trang theo con vào đời, là kỷ niệm luôn ghi khắc trong tim của những người con, đến nỗi có nhiều người vẫn thầm hát với cha rằng:


"Mai con lớn lên rồi

Ra đi tung cánh trong đời
Dù xa vô bờ vẫn nhờ đến tình mẹ cha".

Hôm nay Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cùng chiêm ngưỡng tình yêu của Thiên Chúa tựa như tình của một người cha trong gia đình. Một người cha có hai con. Hai đứa con hai cách sống. Hai đứa con hai mối bận tâm của cha. Mỗi đứa mỗi tính. Vì cha mẹ sinh con trời sinh tính. Cha yêu thương cả hai. Nhưng cả hai xem ra đều phụ lòng cha. Người con cả chăm chỉ, cần cù nhưng lại tham quyền, tham lợi. Con người anh còn thiếu lòng độ lượng biểu lộ qua việc hay ganh tỵ và đòi hỏi quyền lợi. Anh đã từng thốt lên rằng: "Cha coi, đã bao năm nay con hầu hạ Cha, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy một con bê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con cha kia, sau khi nuốt hết của cải của cha với bọn đĩ điếm, nay trở về, cha lại cho con bê béo ăn mừng".


Người con thứ thuộc loại "bán trời không văn tự". Anh đã hoang phí cả gia sản lẫn cuộc đời đến bạc nhược tinh thần và thể xác. Cuộc đời anh chỉ tìm kiếm những thoả mãn xác thịt tầm thường. Thích ăn ngon, mặc đẹp và vui thú bên những cô gái chốn lầu xanh. Cuộc sống thác loạn đã làm cho anh tan gia bại sản, thân xác tiều tụy, anh chỉ còn biết chăn heo để sống qua ngày.


Cha vẫn im lặng. Sự im lặng này không đồng nghĩa với việc đồng ý cách sống của hai con. Cha im lặng vì tôn trọng tự do của hai con. Tự do để chọn lựa. Tự do chọn lựa là nét đẹp cao qúy của con người mà không một loài nào có được ân huệ đó. Có chọn lựa nên vẫn có sai lầm. Có chọn lựa nên vẫn có nuối tiếc. Nuối tiếc vì chọn sai, vì lầm lạc. Cha không kết án ai. Cha không muốn mất đi bất kỳ người con nào. Khi người con thứ ra đi. Cha hằng ngày mong ngóng chờ con trở vể. Chỉ cần nó trở về là cha đã quên hết quá khứ tội lỗi của nó rồi. Khi người con cả bộc lộ bản tính thật của mình. Coi con bê béo hơn cả tình cảm cha con và tình nghĩa anh em. Cha vẫn từ tốn, dịu ngọt với anh. Cha muốn anh hãy vui với phận mình, và nhất là hãy vui vì luôn được sống trong tình thương của cha.


Hai người con trong phúc âm dường như vẫn lúc ẩn lúc hiện trong con ngừơi chúng ta. Chúa cho chúng ta được tự do thừa hưởng một gia sản rất qúy báu và phong phú đó chính là sự sống làm người. Thế nhưng, có những lúc chúng ta đã hoang phí cuộc đời trong những đam mê lầm lạc, trong những vui thú mau qua. Có những lúc chúng ta thường hay xét nét, ganh tỵ và đòi hỏi Chúa trả công cho chúng ta. Có những lúc chúng ta thất vọng chán chường vì yếu đuối lầm lỗi. Có những lúc chúng ta vì những con bê béo là danh lợi thú mà quên cả tình nghĩa cha con. Chúa vẫn không chấp nhất tội chúng ta. Chúa không kết án chúng ta. Chúa vẫn im lặng. Chúa mong chúng ta sớm nhận ra tình thương của Chúa để hồi tâm trở về cùng Chúa. Sự chờ đợi của Chúa là vô tận. Tình thương của Chúa là vô biên. Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi và rộng lòng tha thứ hết mọi lỗi lầm của chúng ta.


Mùa chay mời gọi chúng ta hãy chọn lựa lại cách sống sao phù hợp với đạo lý làm con cái của Chúa. Hãy tập sống trong sự quan phòng, xếp đặt của Chúa. Hãy tin tưởng phó thác cậy trông vào Chúa để chúng ta luôn vui với phận mình. Nhất là hãy biết noi gương Chúa để xót thương kẻ cơ hàn và lấy lòng nhân hậu mà đối xử tốt với nhau. Nguyện xin Chúa là Đấng giầu lòng thương xót và từ bi luôn gìn giữ chúng ta trong hồng ân của Chúa và giúp chúng ta luôn sống theo tinh thần của phúc âm: mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân như chính mình. Amen

NGƯỜI CHA NHÂN TỪ
Lc 15,1-3.11-32
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta không khỏi xúc động và ngạc nhiên khi hiểu ra tấm lòng bao dung, nhân hậu của Chúa Giêsu. Có nhiều bài Tin Mừng làm nổi bật lòng nhân từ của Chúa. Chúa nhật thứ IV mùa chay, năm C, thánh Luca trình bầy bài Phúc Âm nói về " Người Cha nhân hậu ". Đây là bài Tin Mừng ghi đậm nét đẹp, nét dễ thương và nét tinh tế, nhạy cảm của người cha. Chúa nhật hôm nay được mệnh danh là Chúa nhật hân hoan. Chúa nhân từ luôn giang đôi tay đón nhận chúng ta trở về như người cha đã đón nhận đứa con hoang phung phí trở về.

Lòng nhân hậu của người cha trong Chúa nhật này diễn tả tâm trạng của Chúa Giêsu khi thấy những người con của mình thực tâm thống hối quay về với Ngài. Tin Mừng Luca trong đoạn 15, 1-3.11-32 cho thấy người cha hiền hậu luôn yêu thương con của mình dù rằng con thứ đã được chia gia tài, rồi tự đi xa, phung phá tất cả tài sản, gia tài và sau khi đã kiệt quệ không còn lối thoát, y đã trở về, người cha ấy cũng không trách mắng, không nổi giận, không lên án, không trừng phạt, hay trừ khử con.Trái lại, khi thấy bóng cậu từ xa, ông đã mau mắn, vội vã ôm chầm lấy con, hôn lấy hôn để, vui mừng đến khôn tả. Ông đã cho mặc áo mới, lấy nhẫn xỏ vào tay cậu, đã cho xỏ giầy vào chân cậu.


Tấm lòng yêu thương, nhân hậu của ông đã khiến ông quên đi tất cả mọi lỗi lầm của đứa con hoang đàng, ông đã không còn áy náy lo âu vì con ông đã chết nay sống lại, đã mất nay tìm lại được. Ông đã ôm chầm lấy đứa con hoang và giờ đây trước mắt ông đứa con ông đang ôm là đứa con ông hằng mỏi mòn chờ trông. Người cha sung sướng mở tiệc linh đình để thết đãi ăn mừng cậu con trai trở về cùng với bà con lối xóm. Đây là cuộc đón tiếp, ăn mừng hết sức nồng hậu, ngoài sức tưởng tượng của người con hoang trở về. Người anh cả ngoài đồng về, nghe thấy tiếng đàn ca, hỏi ra anh mới biết em anh đã trở về sau một thời gian dài xa vắng ở nơi phương trời xa, nên cha anh đã mở tiệc linh đình đón tiếp em anh trở về. Anh đã không vui, không mừng mà còn giận dữ, trách móc người cha, khiến cha già lại phải kiên nhẫn, nhún nhường, nhẫn nhục ra tận cổng đón anh, phân trần, năn nỉ, mời anh vào nhà chung vui và gặp đứa em của anh " đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy ". Để trấn an anh và để nói lên cả tấm lòng của ông, người cha già đã quả quyết với anh rằng: " Tất cả những gì của cha đều là của con " ( Lc 13, 31 ).


Câu chuyện này là câu chuyện có thật về một Thiên Chúa yêu thương, nhân từ và hay tha thứ. Một Thiên Chúa không phải từ trên cao nhìn xuống, một Thiên Chúa không phải hết sức nghiêm khắc, chỉ phạt chứ không tha thứ bao dung. Không Thiên Chúa "muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương " ( TV 135 ). Một Thiên Chúa luôn yêu thương, chạnh thương và hay tha thứ.


và sự công bằng yêu thương của người cha. Anh đã không vào nhà vì tự mãn, tự ái. Anh đã không vào nhà vì sợ quyền lợi của anh bị xâm phạm. Anh đã không vào nhà vì anh không thể tha thứ cho người em. Anh đã không vào nhà vì anh không hiểu nổi lòng bao dung, quảng đại lớn lao của người cha.


Vâng, người anh cả đã sống với cha từ lâu nay nhưng lòng anh thì xa cha. Anh đã không trái lệnh của cha nhưng chỉ là bổn phận chứ không vì mến yêu cha. Anh không hề gọi người em là em của tôi mà là đứa con của cha kia. Anh không cảm thông với đứa em trót dại và cũng không biết chia sẻ nỗi đau, nỗi khổ của người cha mất con.


Người anh cả lộ rõ bộ mặt ích kỷ, đạo đức giả của mình. Anh là hiện thân của Pharisêu và kinh sư là những người tự cho mình là đạo đức, thánh thiện và muốn cho những người tội lỗi phải chết đi chứ không được cứu chữa.


Mùa chay là mùa hối cải, quay về với Chúa. Tất cả mọi người kể cả người anh và người em đều phải quay trở về với cha, ăn năn sám hối, bước vào nhà với cha, phải từ bỏ thái độ ích kỷ, tự mãn, phải vứt bỏ nếp suy nghĩ cũ, xa xưa để trở về sống như lòng nhân hậu, bao dung, tha thứ của cha.


Mùa chay mọi Kitô hữu phải trở về, phải thay đổi. Trở về là ôm lấy người em với lòng yêu thương và tha thứ. Trở về để sống trong ân huệ và tình thương vì cha là tất cả.


Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống như Chúa yêu, xin cho chúng con biết tha thứ cho người khác như Chúa đã tha thứ cho chúng con. Amen.

THIÊN CHÚA NHÂN TỪ THA THỨ
Lc 15,1-3.11-32

LM Phạm Thanh Liêm, SJ

Đa số người đều nhận biết có một Đấng Tuyệt Đối, nhờ Ngài mà vạn sự vạn vật hiện hữu. Ngài vượt trên mọi sự mọi loài, không ai với tới Ngài được, Ngài ở trên trời. "Ông Trời" trong ngôn ngữ Việt Nam cũng chỉ một thực tại siêu vượt, rất gần và rất xa con người. Một số người tức giận khi thấy cảnh bất công mà không thấy Ông Trời can thiệp, nên họ châm biếm "Ông Trời không có mắt"; họ đòi Ông Trời phải can thiệp bênh đỡ người cô thế cô thân bị áp bức bóc lột. Nhiều người hiểu và diễn tả Tuyệt Đối như một người, và đòi Ngài phải hành xử như họ suy nghĩ. Thực ra, con người hữu hạn nên không thể hiểu và diễn tả trọn vẹn về Tuyệt Đối được; hơn nữa, đường lối của Tuyệt Đối không giống như con người: "như trời cao hơn đất bao nhiêu, tư tưởng của Ta cũng vượt quá tư tưởng của các ngươi".

Với dân Do Thái, Thiên Chúa là Đấng đã đưa dân ra khỏi Aicập, đã giải phóng dân khỏi kiếp nô lệ bên Aicập. Thiên Chúa là Đấng đã tuyển chọn tổ phụ của họ là Abraham, Isaac, và Giacóp, là Đấng đã can thiệp vào lịch sử của họ qua Môsê, Giôsua, và các tiên tri, là Đấng đã để các nước lân bang thống trị và thậm chí còn bị lưu đầy sang Babylon nhưng cuối cùng Ngài vẫn cứu thoát họ. Thiên Chúa là Đấng rất gần gũi dân, Thiên Chúa là Thiên Chúa của dân Israel, và Israel là dân riêng của Thiên Chúa. Niềm hy vọng của dân Do Thái là Thiên Chúa. Chính vì vậy, khi bị sống trong cảnh đô hộ bị áp bức, dân Do Thái luôn trông chờ Đấng được xức dầu (Kitô), Đấng Thiên Chúa sai đến để giải phóng họ khỏi cảnh áp bức.


Thiên Chúa trong Cựu Ước được trình bày như một vị Thiên Chúa công bằng, có chỗ nhấn mạnh như thể Thiên Chúa trừng phạt con người tội lỗi đến ba bốn đời: "cha ăn nho xanh, đời con ghê răng". Hôm nay trong tin mừng theo thánh Luca, Đức Giêsu dùng dụ ngôn người cha nhân hậu luôn sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm cho người con, để diễn tả tình yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với con người.


Thiên Chúa yêu thương và tôn trọng con người, như người cha yêu thương và tôn trọng con mình trong dụ ngôn Lc.15, 11-32. Người con thứ đòi người cha chia gia tài; người cha chia gia tài cho anh ta cho dù người con không có quyền đòi hỏi như vậy, dù biết rằng người con đó chẳng chóng thì chầy sẽ bỏ nhà ra đi. Người cha biết con mình một khi bỏ nhà đi sẽ khổ, sẽ mất hết tài sản, nhưng người cha vẫn tôn trọng người con. Người cha rất đau lòng nhưng ông vẫn làm như người con muốn. Thiên Chúa ban tự do cho con người, Ngài luôn tôn trọng tự do của con người cho dù con người có lạm dụng tự do đó để phản bội Ngài.


Khi người con thứ bỏ nhà ra đi, người cha sống trong niềm hy vọng và chờ đợi. Người cha chờ đợi người con trở về. Chẳng vậy, khi người con thứ còn ở đằng xa, với quần áo xốc xếch và dáng đi rụt rè e ngại, người cha đã chẳng nhận ra con mình. Ông chạy ra ôm người con hoang trở về và hôn lấy hôn để. Người cha vẫn luôn mong đợi người con trở lại, cho dù người con đã xúc phạm đến mình, cho dù người con đã hoang phí biết bao của cải mà người cha đã tốn bao sức lực, với bao vất vả gian lao mới có thể có được. Tất cả những điều đó không quan trọng đối với người cha; điều quan trọng đối với ông, là người con và sự an nguy của anh ta. Thiên Chúa là Đấng hy vọng và chờ đợi tôi hơn bất cứ ai. Với Thiên Chúa, mỗi người là tuyệt đối quan trọng.


Người cha hy vọng mong chờ người con trở về, và rồi sẵn sàng tha thứ cho dù người con chưa nói lên lời xin lỗi. Thiên Chúa mong chờ người tội lỗi trở về, mong chờ họ ăn năn sám hối, để họ được an bình và hạnh phúc. Như người cha năn nỉ người con trưởng vào nhà, Thiên Chúa cũng năn nỉ con người tội lỗi trở lại với Ngài. Hình ảnh Thiên Chúa trong dụ ngôn người cha nhân hậu, thật là dịu dàng, nhẫn nại, bao dung, tha thứ. Người ta thấy Thiên Chúa như thể rất mềm yếu. Thực vậy, chính vì yêu mà Thiên Chúa kiên nhẫn và nhân từ vô cùng đối với con người.


Nhờ Đức Giêsu Kitô, người ta nhận ra dung mạo của Thiên Chúa thật đặc biệt: Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Một khi nhận ra Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nhập thể, con người nhận ra tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với con người. Khi phạm tội xúc phạm đến Thiên Chúa và anh em mình, tương quan giữa con người với Thiên Chúa bị phá hủy, con người không thể tin tưởng nhau được nữa. Qua Đức Giêsu, con người nhận ra Thiên Chúa vẫn yêu thương con người vô cùng. Tương tự như người con hoang đàng trở về vẫn được người cha yêu thương và nhận làm con, con người biết Thiên Chúa vẫn luôn nhân từ tha thứ mọi lỗi lầm của con người. Trước khi được tha thứ, người con hoang đàng không biết số phận của mình như thế nào, vì ao ước của anh ta có thể bị từ chối. Tuy nhiên, khi thấy thái độ của người cha, anh ta nhận ra cha anh là người rất tuyệt vời.


Hôm nay vẫn cần những trung gian để trình bày cho con người thấy dung mạo tuyệt vời của Thiên Chúa: Đấng yêu thương con người vô cùng. Thánh Phaolô đã nói với những người Ngài rao giảng: Thiên Chúa là Đấng nhân từ và mong ước con người trở lại. "Nhân danh Đức Giêsu Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa cùng Thiên Chúa đi" (2Co.5, 20). Thiên Chúa yêu thương con người, và điều này có thể được thấy qua việc Thiên Chúa mong con người, cần con người trở lại với Ngài. Yêu ai thì cần người đó. Thiên Chúa yêu tôi nên Ngài cần tôi, Ngài cần tôi vì Ngài yêu tôi. Tự bản chất, Thiên Chúa không cần ai cả, Ngài hạnh phúc với chính Ngài; không cần ai làm gì để Ngài hạnh phúc; Ngài là hữu thể tròn đầy, không ai làm Ngài mất hạnh phúc được. Tuy nhiên, Thiên Chúa được tôn vinh hơn khi tôi triển nở và hạnh phúc; Ngài hạnh phúc khi tôi hạnh phúc. Chính vì yêu mà Ngài cần con người. Thiên Chúa là Đấng yêu thương con người đến độ không thể hiểu được: Ngài dám ban Con Một của Ngài cho con người, Ngài sẵn sàng làm tất cả để được con người, để giúp con người nhận ra tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa.

ĐƯỜNG THÀNH CÔNG
Lc 15,1-3.11-32
Lm Vũ đình Tường

Nhiều người chọn con đường dẫn đến thất bại ê chề nhưng lại luôn nghĩ là mình khôn ngoan chọn con đường dẫn đến thành công rực rỡ. Thực ra lằn ranh giữa thành công và thất bại khó phán đoán chính xác nên rất khó tranh biện ai đúng ai sai. Thực tế cho thấy có người chọn con đường tưởng dẫn đến thất bại ê chề nhưng lại thành công rực rỡ. Đây là một cám dỗ lớn cho các bạn trẻ muốn li khai, thoát khỏi gia đình. Nhất là những bạn mà sống trong gia đình nhưng luôn cảm thấy ra đi thì tốt hơn. Gia đình không còn là tổ ấm mà là chỗ đầy ải với bao bất mãn, khó chịu vì luật lệ gia đình chồng chéo nhau. Trong hoàn cảnh đó họ chỉ mong có cơ hội thuận tiện là sẽ thoát li, tìm một cuộc sống thảnh thơi hơn, tự do hơn.

Họ tin tưởng là cuộc sống mới đầy hứa hẹn sẽ cho họ những ngày tươi sáng. Họ tin tưởng làm được điều đó vì họ ít nhiều cũng có một số kiến thức, kinh nghiệm sống cộng với tài lanh lẹ, linh hoạt đủ để họ vào đời. Họ đâu biết cuộc đời muôn mặt, với kiến thức học vấn và kinh nghiệm gia đình là cần thiết nhưng chưa đủ để tiến thân, dấn thân trên đường đời. Những ngày đầu mới li khai gia đình họ thực sự hưởng cảm giác thoải mái, thảnh thơi. Cảm giác thoải mái thảnh thơi này chỉ tồn tại một thời gian ngắn vì thực tế cuộc sống sẽ ập đến khiến họ quay cuồng đến tối mặt mày. Đây chính là kinh nghiệm trong dụ ngôn Người Con Hoang Đàng vấp phải. Anh ta không cảm thấy vui trong khi sống trong gia đình với cha anh. Anh muốn li khai gia đình, tự chọn cuộc sống riêng cho mình. Người cha dù đau lòng cũng cắn răng, bóp bụng chia gia tài cho anh. Cha đau lòng không phải tiếc của, nhưng vì biết con sẽ gặp điều không may, gặp hoạn nạn nhưng không sao cản được.


Có tiền trong tay, tương lai mở rộng, anh ra đi bước những bước dài thênh thang, theo đuổi đìều mong ước. Những ngày đầu anh được mãn nguyện, thoả lòng ước mong. Chẳng bao lâu sau, hầu bao của anh cạn sạch lúc đó anh mới nghĩ tới vấn đề kiếm tiền để sống. Đây chính là lúc anh chạm phải thực tế cuộc sống. Bấy lâu nay sống trong nhà cha anh luôn sống trong thế giới của mơ mộng, Anh tin là ngoài kia có biết bao nhiêu điều vui thú đang đón chờ, khi được tự do, thoải mái tự lập anh sẽ hưởng tất cả những thú ăn chơi đang chờ đợi, mời gọi.


Chỉ một thời gian ngắn sau khi li khai gia đình thế giới mộng mơ của anh sập tan tanh. Một thế giới mới đang đón chờ anh. Mới đây là mới với anh vì từ trước tới nay sống trong gia đình mọi sự đều được chu cấp thoả đáng, trách nhiệm cha anh gánh thay, bổn phận đã có người làm giúp. Cuộc sống li khai, tự lập giờ chính anh phải tự gánh vác. Anh nghĩ mình đã chuẩn bị đủ cho tương lai đầy hứa hẹn nhưng bây giờ anh mới biết còn nhiều vấn đề thực tế anh chưa bao giờ nghĩ tới nói chi đến chuẩn bị cho thoả đáng.

Thế giới thực làm anh thức tỉnh. Xin làm công bị từ chối. Xin ăn bị xua đuổi. May mắn có người nhận nuôi heo. Lương không đủ sống anh vẫn đói nên tự hạ ăn chung với heo. Đang từ người thành tệ hơn vượn, đời cầm thú. Vì sao? Vì anh từ chối tình thương của cha. Vì anh muốn tự lập, theo í riêng. Vì anh muốn tự mình làm chủ đời mình.


Chọn li khai, ra đi anh mất tất cả, mất sự bảo bọc của cha, từ chối thương của cha, từ chối cả quyền thừa kế gia tài và quan trọng hơn cả là cắt đứt tình cha con.


Đại hạn, mất mùa, đói khổ và xua đuổi mở mắt anh nhìn thấy tình thương của cha. Tin tưởng vào tình thương và lòng bác ái cha anh dành cho người làm công, anh mạnh dạn tiến về nhà cha. Anh không dám xin ơn làm con như xưa nhưng xin làm người làm công để được hưởng tình người, để được sống cho ra con người. Một lần nữa anh phạm sai lầm. Nhận xét và phán đoán sai về lòng nhân từ của cha anh. Nhìn thấy con, người cha chạy ra ôm con vào lòng, tha lỗi lầm và trao lại cho anh tình cha con, tình nghĩa tử rồi sau đó mở tiệc mừng. Mừng vì mối giây tình nghĩa cha con đã bị cắt nay được nối lại. Mối tình cha con đã chết nay phục sinh.


Thế giới mộng mơ của người Kitô hữu chính là thế giới chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Là thế giới chối bỏ tình Chúa dành cho ta. Là chọn sống theo í riêng, tin vào khả năng, kiến thức của con người. Là thự nhận mình là chúa. Dụ ngôn Người Con Hoang, từ bỏ cha mình vì đói khổ tự nguyện sống chung với heo. Từ chối sự hiện hữu và tình thương của Chúa để tự nguyện nhận mình có nguồn gốc từ muông thú.


Người cha nhân hậu kiên nhẫn chờ, đón con trở về ban làm con, làm người thừa kế nước trời.


NGƯỜI CHA NHÂN TỪ
Lc 15,1-3.11-32
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta được cuốn hút bởi những dụ ngôn, những câu chuyện thực tế, ấn tượng...Do đó, Tin Mừng của Chúa Giêsu luôn là những bài học, những ý lực sống tuyệt vời cho mỗi người chúng ta.Chúa nhật thứ tư Mùa Chay giới thiệu cho chúng ta về một người cha nhân từ, luôn yêu thương và tha thứ lỗi lầm của con cái mình.

Câu chuyện về người con hoang trở về hôm nay được xem là một kiệt tác của thánh sử Luca. Trong câu chuyện này thường chúng ta hay chú ý tới nhân vật đứa con thứ bụi đời trở về. Dụ ngôn có nhiều tình tiết thật thú vị, thật hấp dẫn. Người ta vẫn say sưa kể lại câu chuyện này mà không cảm thấy nhàm chán. Câu chuyện đưa ra hai người con, người anh và em thứ. Tuy kể ra hai anh em, nhưng người em thứ được kể ra nhiều chi tiết và thêu dệt những tình tiết hấp dẫn, thú vị. Ít ai để ý tới nhân vật nguồi anh cả, ngay thánh Luca cũng chỉ dành cho người anh cả một ít chi tiết vào cuối câu chuyện mà thôi.


Nhân vật người anh cả là một người tá điền, chăm chỉ làm việc, suốt cuộc đời của anh là làm việc, trông coi ruộng vườn, và chăm sóc, vâng lời Cha già, dù aanh ta đã lớn tuổi. Mỗi ngày, và mọi ngày anh đi đồng về đều đều, không thấy điều chi khác lạ, nhưng hôm nay hình như có cái gì thật lạ lùng, có cái gì thật khó hiểu. Từ xa anh đã nghe tiếng đàn ca, múa hát, tiếng người í ới gọi nhau vui nhộn, có lẽ nhà mình có chuyện gì vui mà mình không hay không biết. Do đó, anh mới kéo một gia nhận ra và hỏi cặn kẽ gia nhân này về việc gì đang xẩy ra trong gia đình của mình vậy ? Khi được biết thằng em trác táng, sau khi đã lấy gia tài của cha đi xa, ăn chơi cho bằng hết, nay trở về lại được đối xử quá tốt như thế. Người anh cả tức tối, bực bội, cơn giận lên đến cực độ, anh chịu vào nhà.


Tin Mừng cho hay người con cả tức giận vì anh luôn là gương mẫu trong đời sống gia đình, chăm lo chăm làm. Bây giờ, theo anh, anh lại bị coi thường trong khi đức em mất nết trở về thì lại được cha coi trọng hết mực và còn hơn thế nữa cha của anh còn đòi anh chấp nhận đứa em phung phá trở về. Do đó, người cha già đã phải nhủ khuyên, năn nỉ mãi anh mới chịu vào nhà, chịu chấp nhận người em bụi đời.


Bởi vì, chính cha già đã nói một câu thật cảm động: " em của con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy ". Cha già đã khẳng định minh bạch với anh cả: " Tất cả những gì của cha đều là của con " ( Lc 13, 31 ).


Đây là câu chuyện có thật và rất cảm động, rất ấn tượng về một người cha nhân hậu, người cha yêu thương, tha thứ. Đó là hình ảnh về một Thiên Chúa. Ngài luôn khoan dung, chạnh thương, tha thứ. Một Thiên Chúa không chỉ trừng phạt, nghiêm khắc nhưng là một Thiên Chúa giầu lòng xót thương.


Vâng, sở dĩ người anh cả không chịu vào nhà vì anh ta không thể tha thứ cho em. Anh ta không chịu vào nhà sợ quyền lợi của mình bị xâm phạm, bị lu mờ vv...Anh không chịu vào vì anh không thể hiểu được lòng nhân hậu, tình thương bao la của người cha.


Hóa ra, từ xưa đến giờ anh sống trong gia đình mà lòng trí lại ở xa. Anh không trái lệnh của cha, nhưng anh không thương cha. Anh không tha thứ cho em vì anh gọi " đứa con của cha kia ".


Ở đây, Chúa muốn chúng ta phải sống tình nghĩa với nhau. Tuy không cùng máu huyết nhưng lại là con một cha. Tất cả đều là anh em là thế. Nên, Chúa đòi hỏi chúng ta phải hoán cải, thay đổi hoàn toàn, thay đổi thực sự. Muốn là con của cha phải tập làm anh em của mọi người: "...Ai thương yêu anh em mình thì ở lại trong ánh sáng ".


Rõ ràng, người anh cả chỉ nghĩ tới lợi lộc mà quên đi tình nhân nghĩa.Anh đại diện cho Pharisêu và Kinh sư. Họ nói cái miệng thật hay nhưng họ lại không thực hiện điều họ nói. Họ tự hào về đời sống mà họ tự cho là đạo đức của họ và không muốn bất cứ ai được cứu rỗi, đặc biệt họ mong cho những người tội lỗi chết đi chứ không mong cho những người này được cứu chữa, ăn năn, sám hối vv...


Chính vì thế, cả hai người con đều phải trở lại, đều phải sám hối ăn năn và xin cha thương cứu chữa. Trở về với cha là chấp nhận tha thứ cho người em lầm lỡ, phung phí, hoang đàng. Trở về với cha là chấp nhận mọi người vì mọi người đều có chung một cha. Trở về với cha để thấy mình được yêu thương tha thứ và nằm gọn trong đôi tay cha.


Lạy Chúa, xin tăng thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn biết quay trở về, luôn biết bám chặt lấy Chúa vì Chúa đầy tình thương nhân hậu và hay chạnh lòng xót thương. Amen.

CHÚA NHÂN HẬU
Lc 15,1-3.11-32
Lm Jb Nguyễn Minh Phương, C.Ss.R

Trình thuật Tin mừng (Lc 15, 1-3. 11-32), được mang nhiều tên gọi: Người con hoang đàng - Người Cha nhân hậu - Chuyện người Cha và hai người con...

Hẳn trình thuật này tên gọi thì nhiều nhưng ý nghĩa quan trọng của trình trình thuật vẫn là: Lòng Chúa nhân hậu.


I. KIÊN NHẪN


Chuyện kể rằng, người cha có hai người con trai. Để chuẩn bị cho tương lai tốt đẹp cho con cái, ông đã gầy dựng cơ nghiệp cho hai con với tâm nguyện "của cha là của con" (Lc 15, 31).


Vậy mà, một ngày kia, sóng gió gia đình nổi lên khi người con thứ đòi chia gia tài và muốn tự giải quyết cuộc đời mình bằng cách bỏ nhà trẩy đi phương xa để sống riêng. Theo quan niệm người Do Thái lúc bấy giờ, trong một gia đình, chỉ khi nào người cha mất đi thì các con mới chia nhau gia tài. Cách ứng xử của người con thứ chẳng khác nào anh mong cho cha mình mau chết.


Lòng người cha đau đớn nhưng vì tôn trọng tự do của người con thứ nên ông đã chấp nhận chia gia tài để anh sống riêng. Thế là, ngay từ lúc người con thứ bước chân ra khỏi nhà cũng là lúc người cha sống những ngày mòn mỏi đợi chờ anh ta sám hối quay về với mái ấm gia đình.


Hình ảnh người cha gợi lên hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng muôn điều tốt đẹp cho con người và ban cho họ làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo với vinh quanh danh dự chẳng thua kém thần mình là mấy. Vậy mà, con người đã lạm dụng quyền tự do của mình để tự định đoạt cuộc đời. Thế nên, họ đã lâm vào cảnh hư ảo và phải mang án chết. Dẫu vậy, Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn đợi chờ con người quay về với Chúa.


II. TỰ HẠ


Chuyện tiếp theo, người con thứ sau khi đã phung phí tài sản của cha vào những cuộc ăn chơi đàng điếm, anh đã phải đi làm công cho một ông chủ với công việc chăn heo.


Đối với người Do Thái thời ấy, heo là con vật ô uế, nên họ không bao giờ nuôi heo mà chỉ có người dân ngoại mới nuôi heo. Vậy là, người con thứ đã tử bỏ người cha, từ bỏ gia đình để đi làm công cho người ngoại và hàng ngày tiếp xúc với con vật ô uế. Tất nhiên, anh ta luôn ở trong tình trạng ô uế. Tệ hơn thế, khi cơn đói dày vò, anh ta muốn ăn thức ăn dành cho heo những vẫn không được ăn. Anh đã thua cả heo, con vật ô uế. Anh lao xuống tận đáy sâu của vực thẳm tội lỗi.Thật là bi đát!


May thay, trong cơn cùng khốn, một chút lương tâm trong anh đã trỗi dậy và khai sáng cho anh nhớ về gia đình: trong gia đình anh, biết bao người đầy tớ được cha anh đối xử nhân ái và được sống sống tốt đẹp; vậy mà giờ đây phận là con của người cha giàu có và nhân hậu mà anh lại phải sống trong tình trạng nhầy nhụa bi thảm. Để giải cứu cơn đói, anh đã quyết định "đứng lên" quay về nhà mình và chỉ giám mong được cha đối xử với anh như người làm công. Anh đã chuẩn bị cho ngày về bằng một bài diễn văn: "Thưa cha, con thật đắc tội với trời và với cha, chăng đáng còn gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công vậy" (Lc 15, 18-19).


Người cha đã hằng mong mỏi ngóng chờ người con quay về. Vừa trông thấy con còn ở đàng xa, ông đã vội chạy ra đón anh, "ôm cổ anh ta và hôn lấy, hôn để" (Lc 15, 20) và không để anh đọc hết bài diễn văn. Ông đã không thể hiện tư thế của một người cha uy nghi quyền thế khiến mọi kẻ phải lạy lục xin ông ban phát ân huệ. Trái lại, ông đã tự hạ mình, nhanh chân chạy đến đỡ lấy người con tội lỗi quay về. Tình thương của người cha đã làm cho người con tội lỗi nghẹn ngào không nói được hết lời xin lỗi.


Hình ảnh người cha gợi lên hình ảnh của Thiên Chúa. Dù bao phen con người lầm lỗi phản nghịch Chúa, bỏ Người chạy theo thần của dân ngoại, nhưng Thiên Chúa không bỏ mặc con người sống ngụp lặn trong tội lỗi. Biết bao lần, Người dùng các ngôn sứ, các thủ lãnh để hướng dẫn dân Chúa trở về với nẻo chính đường ngay và sau cùng Thiên Chúa còn tự hạ mình mang thân phận con người để cứu độ con người cách toàn diện.


III. CỨU ĐỘ


Người cha vui sướng xiết bao khi người con hoang đàng trở về với mái ấm gia đình. Ông tuyên bố: "Con ta đây chết mà nay đã sống lại, đã mất mà nay đã tìm thấy" (Lc 15, 24) và chỉ thị cho gia nhân: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dẹp vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!" (Lc 15, 22, 23).


Người cha ban áo đẹp nhất cho người con để từ nay anh phải rũ đi chiếc áo quá khứ cũ rách của nếp sống tội lỗi để mặc lấy chiếc áo lễ hội tràn đầy niềm vui và hạnh phúc; ban nhẫn cho người con là biểu hiện ban quyền bính, uy thế danh dự của gia đình vương giả; ban dép cho người con là biểu hiện phục hồi lại quyền tự do (người nô lệ không đi dép); ban dê đã "vỗ béo" chứ không ban dê gầy hay dê nào cũng được là biểu hiện người cha đã cho "vỗ béo" dê để sẵn sàng mở tiệc khi người con hoang trở về.


Hình ảnh người cha gợi lên hình ảnh Thiên Chúa cứu độ con người cách toàn diện. Thiên Chúa đã dọn sẵn hạnh phúc thiên đàng và chờ đợi người tội lỗi ăn năn thống hối quay về, Người "không muốn cho kẻ dữ phải diệt vong nhưng muốn họ bỏ đường tà để được sống" (Ed 18, 23). Ai trở về cùng Thiên Chúa sẽ được cải tử hoàn sinh "chết mà nay đã sống lại, đã mất mà nay đã tìm thấy" (Lc 15, 24).


Tiệc vui đoàn tụ đã khai mở, mọi người "bắt đầu ăn mừng" (Lc 15, 24) nhưng sóng gió gia đình lại tiếp tục nổi lên. Người con trưởng xuất hiện. Sau một ngày vất vả nơi đồng áng, về đến nhà trông thấy cảnh tượng cha mừng người em trở về, anh đã không thể chấp nhận nổi; anh không những không vào nhà mà còn buông lời xúc phạm người cha: "Còn thằng con của cha đó..." (Lc 15, 30). Thế mới lộ ra, bấy lâu nay, tuy sống gần bên cha gia nhưng người con trưởng chỉ sống tương quan với cha mình người chủ với tớ...


Lúc này, người cha lại phải xuống nước với anh: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất của những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ vì em con đây đã hết mà nay đã sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy" (Lc 15, 31-32).Vậy là, người cha lại phải kiên nhẫn và hạ mình trước người con trưởng để mong anh quảng đại như cha sẵn sàng đón nhận em.


Một lần nữa, Thiên Chúa lại tiếp tục kiên nhẫn, hạ mình và chờ đợi để cứu độ muôn người.


KẾT


Lòng nhân hậu của Thiên Chúa Chúa được Đức Giê-su diễn tả qua một dụ ngôn về một gia đình người cha và hai người con.


Câu chuyện gia đình ba cha con đã khép lại nhưng chưa có hồi kết (không biết người con trưởng sẽ ra sao). Hẳn hồi kết ấy sẽ do mỗi người tín hữu phải góp phần mình để hoàn thành bằng sự quyết tâm đứng lên sau những lần vấp ngã để trở về cùng Thiên Chúa là cha nhân hậu, đồng thời quảng đại với mọi người.

ĐƯỜNG CỦA CON NGƯỜI và ĐƯỜNG CỦA THIÊN CHÚA
Lc 15,1-3.11-32
LM Nguyễn Hữu Thy

Dụ ngôn « Người cha nhân hậu » trong bài Tin Mừng hôm nay đã nêu rõ những con đường khác nhau : Con đường của người con thứ, con đường đã dẫn đưa cậu đi đến một miền đất xa lạ, cách xa khỏi cha cậu. Con đường của người cha ra đón cậu con thứ

Con đường của người con cả.

Và con đường người cha đi gặp người con cả.

Ðó là những con đường khác nhau, và chúng sẽ : hoặc dẫn tới đích, hoặc chúng chỉ là những ngõ cụt hay là những con đường mất hút trong rừng sâu và không tìm được lối ra.

Thứ nhất : Con đường đi tìm lại sự tự do.


Với số gia tài trong tay, người con thứ đã bỏ nhà cha mình và trẩy đi đến một miền xa lạ. Cậu muốn tận hưởng hạnh phúc và sự tự do riêng của mình theo ý muốn. Người cha đành phải để cho cậu ra đi. Giờ đây mọi sự chỉ còn tùy thuộc vào thái độ của cậu trước các thách đố của đời và liệu cậu có đứng vững được hay không ! Vâng, vấn đề có tính cách quyết định là ở chỗ : Tâm tình cậu con vẫn còn luôn tưởng nhớ đến cha cậu và luôn gắn bó với ông, cũng như cậu biết xử dụng phần gia tài được chia cho cậu, đúng với ý cha cậu; hay : Cậu đã cắt đứt mọi liên hệ với cha mình và tổ chức một cuộc sống riêng không dính dáng gì với cha nữa, nếu không nói là một cuộc sống phản lại cha ! Sự tự do với cha hay một sự tự do không có cha ! Chúng ta đọc thấy trong câu chuyện dụ ngôn. Người con thứ đã tìm cách sống sự tự do của mình không có cha !


Nhưng chúng ta cũng thấy được rằng con đường của người con thứ - với sự tự do không có cha - đã đưa dẫn cậu tới sự bất hạnh, tới một tình trạng bất tự do.


Thật vậy, những ai không còn muốn liên hệ gắn bó với cha mình, thì sẽ ràng buộc mình với nhiều thứ khác : tiền bạc, các đòi hỏi tự nhiên, các thú vui lệch lạc rẻ tiền, v.v... Người ta sẽ trở thành nô lệ cho những thứ đó và tự đánh mất các phẩm chất, tư cách và chính bản ngã của mình. Người ta sẽ trở thành một con người thiếu nội tâm. Ðó chính là sự đánh mất bản sắc riêng !


Câu chuyện dụ ngôn đã nói lên tình trạng buồn thảm đó khi tường thuật : con đường của cậu con thứ đã kết thúc nơi những con heo. Nói cách khác : Người con thứ đã không đứng vững được trước các cám dỗ và thử thách của đời. Cậu đã thất bại trong mọi lãnh vực : tài chánh, luân lý, đạo đức, nhân bản. Cậu thực sự hoàn toàn kiệt quệ và phá sản ! Cậu đã đánh mất tất cả. Trong thực tế, cậu quả là một người con hoang đàng dại dột !


Tuy nhiên, trong trái tim cậu, sự khao khát mong muốn sự tự do quá mãnh liệt, khiến cậu ngay giữa cảnh mất mát thất bại đã can đảm đứng lên và bước theo con đường dẫn về cùng cha cậu. Ðó chính là con đường dẫn tới sự tự do chân thật, một sự tự do cậu chỉ có được qua sự gắn bó mật thiệt với cha !


Thứ hai : con đường của người con cả - một con đường rừng !


Người con cả trong dụ ngôn tuy luôn có mặt bên cạnh với cha cậu, nhưng lòng cậu lại cách xa cha. Con đường của cậu xem vẻ bên ngoài không đi xa khỏi cha như con đường của đứa con thứ. Nhưng người con cả cũng không đi chung với cha cậu trên cùng một con đường, khi ông đi ra đón người con thứ của mình đang quay gót trở về cùng ông.


Ai không liên kết gắn bó với cha, thì cũng không tìm ra con đường dẫn tới người anh em của mình. Người con cả nói với cha cậu : « Thằng con của cha đó đã ăn chơi trác táng và phung phá tiền bạc của cha với bọn đĩ điếm... ! » Người cha liền nhân từ và đầy thông cảm cắt nghĩa cho cậu hiểu : « Em con đã quay trở lại nhà, nó đã chết nay sống lại, nó đã mất nay lại tìm thấy... ! » Ai không đi trên con đường dẫn tới người anh em của mình, người đó cũng lỡ bước trên con đường dẫn về cùng cha.


Thứ ba : Con đường của người cha !


Con đường của người cha trong dụ ngôn là hình ảnh tượng trưng cho con đường của Thiên Chúa. Con đường đó dẫn tới nhân loại. Người cha chạy ra đón tiếp đứa con hư hỏng trở về. Ông vui mừng ôm con vào lòng, chứ không hề trách móc la mắng con, như thể : Lỗi lầm của mi thật quá nặng nề. Cái dại của mi thật không sao nói hết... Nhưng tao tha cho lần này là lần chót... ! Không. Ông không hề nói gì cả, ông chỉ vui mừng ôm lấy con ! Ðó không phải là « chiến thuật » sư phạm, nhưng là dấu chỉ của tình thương và lòng nhân hậu chân thành của một người cha : Con tôi đã mất và nay lại trở về với tôi ! Ðứa con hoang đàng hư hỏng nay lại trở về trong nhà cha cậu và được nhận lại quyền làm con của mình.


Ðúng vậy, tình yêu đích thực không bới mói tội lỗi, nhưng là trao ban sự tha thứ và niềm vui mừng. Tuy nhiên người cha cũng đi ra gặp cậu con cả và cắt nghĩa cho cậu hiểu để cậu cùng mừng với ông. Vì ông rất biết là một bữa tiệc chỉ trọn vẹn khi mọi người cùng vui vẻ với nhau !


Nói tóm lại, qua dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu muốn nói cho chúng ta những điều này :

1. Thiên Chúa là một Thiên Chúa đi tìm kiếm con người, một Thiên Chúa mời gọi con người đến dự tiệc với mình, một Thiên Chúa vẫn giữ vững lời mời, cả khi chúng ta tỏ ra thất trung và đi theo con đường của mình tự chọn lấy, chứ không bước đi trên con đường của Người đã chỉ cho.

2. Thiên Chúa thương yêu chúng ta vô cùng, đến nỗi một kẻ dù đã sa ngã và lâm vào vòng tội lỗi, vẫn có thể trở thành một người tốt lành được. Người không bao giờ loại trừ ai, vì trong tình yêu của Người, Thiên Chúa không hề thất tín. Tình yêu của Người vô cùng bao la, đến nỗi Người vẫn luôn kiên tâm chờ đợi mong mỏi cả những kẻ đã bỏ Người đi xa muôn dặm. Người đi gặp gỡ họ và đón tiếp họ, như thể không hề có gì đã xảy ra, tương tự như người cha đón tiếp người con hư hỏng trong dụ ngôn.

3. Thiên Chúa là một Thiên Chúa của tình yêu thương, của niềm hoan lạc vui mừng, Ðấng hằng muốn cùng chung vui với con cái loài người chúng ta.

Chớ gì tất cả những mặc khải đó mang lại cho tất cả chúng ta sự can đảm và sức mạnh, để tìm ra được con đường sám hối, con đường dẫn chúng ta tới cùng Thiên Chúa và tới cùng những người anh em đồng loại của chúng ta. Amen.

TRỞ VỀ VỚI THIÊN CHÚA
Lc 15,1-3.11-32
Lm Jos Nguyễn Minh Chánh
Dụ ngôn người cha nhân hậu trong trang Tin mừng chúa nhật hôm nay cho thấy sự cần thiết của việc trở về cùng Thiên Chúa.


Người con thứ sau khi đã phung phí hết tài sản, đã đi vào đường cùng của sa đoạ, đã đánh mất đi phẩm giá của một con người qua việc thèm khát những thức ăn của bầy heo. Nay anh đã hồi tâm, ước mong thay đổi thái độ sống, muốn quay trở về với người cha nhân hậu của mình.


Và thực sự, anh ấy đã thực hiện thật nghiêm túc với điều mà mình mong muốn. Khi trở về với người cha, người con thứ đã bộc lộ sự khiêm tốn xuất phát từ chuỗi ngày quá khứ đen tối mà anh đã kịp nhìn nhận, khi anh thưa cùng người cha:" Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng được gọi là con cha nữa..."(Lc 15,21)


Trước thái độ hối cải của người con, chúng ta hình dung như thế nào về tâm trạng của người cha trong lúc này? Đó là sự đón tiếp mừng rỡ hơn xua đuổi, đồng thời niềm vui sướng của người cha trong lúc này đã làm cho ông quên đi gánh nặng đau khổ mà hôm nay chính đứa con này đã gây ra cho ông. Nói chung tâm trạng của người cha trong lúc này chỉ có một điều là vui mừng. Vui mừng khi thấy con trở về, vui mừng khi phục hồi phẩm giá lại cho con qua việc truyền cho đầy tớ phải mặc áo đẹp nhất cho con, xỏ nhẫn vào tay và xỏ dép vào chân cho con trai của mình. Và niềm vui mừng của người cha còn được thể hiện qua bữa tiệc rất ngon lành với con bê béo và rượu ngon. Thế nhưng bao nhiêu cử chỉ ấy cũng chưa đủ nói lên niềm vui nơi người cha nhân hậu mà chúng ta bắt gặp trong bài dụ ngôn thật độc đáo của chúa nhật hôm nay. Vì nguyên nhân sâu thẳm để người cha có được niềm vui thật sự là khi thấy người con tội lỗi không thất vọng về tình thương và ơn tha thứ của mình. Chắc hẳn thái độ hy vọng vào lòng thương xót của người con đối với cha, còn quý hơn sự hiện diện của anh ấy trước ánh mắt nhân từ người cha.


Thực ra thái độ không thất vọng vào tình thương của Thiên Chúa, không phải chỉ có trong dụ ngôn mà Chúa Giêsu đã kể đâu. Nhưng trong thực tế đã có rất nhiều những mẫu gương nhờ lòng cậy trông và ơn tha thứ của Thiên Chúa mà họ đã trở nên thánh. Ta thấy Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng nhờ hy vọng vào ơn tha thứ của Chúa, ông đã sám hối và được ơn biến đổi. Sau này vẫn được Chúa chọn làm trưởng Tông đồ đoàn. Phaolô trước khi trở thành tông đồ của dân ngoại thì ông đã bắt bớ và giết các tín hữu không nương tay. Nhưng nhờ hy vọng vào ơn tha thứ Phaolô vẫn được Chúa chọn làm tông đồ để thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng cho dân ngoại. Augustinô sau thời gian dài ăn chơi buông thả, nhưng nhờ tin vào ơn tha thứ của Chúa, nhờ những dòng lệ thành tâm hối hận, Augustinô đã được Chúa chọn làm Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh. Và còn biết bao nhiêu chứng nhân hy vọng khác nữa ...


Đã là người thì ai cũng có tội. Đó là thân phận chung của con người. Nhưng chúng ta còn có lối thoát để được bình an với lương tâm và hạnh phúc trong nước Thiên Chúa. Lối thóat đó Chúa đã vẽ ra cho chúng ta, và Chúa đang chờ chúng ta ở cuối lối mòn này. Lối thoát ấy chính là đường hy vọng vào tình thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa. Khi ta đánh mất đi niềm hy vọng vào ơn tha thứ và tình thương hải hà của Thiên Chúa, thì kể như đời ta đã bế tắc, đi vào đường cùng của sự diệt vong, sự sống tương lai sẽ không còn hy vọng.


Vì thế, Cha Charles De Foucauld có để lại mấy dòng sau: "dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng điều đó... Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nan của con. Chúa không cho con nói: Tôi không thể đi tới được đường lên trời, khó khăn quá tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp ... Vậy Chúa muốn con phải cậy trông luôn, vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa".


Như vậy thật may mắn cho chúng ta, vì bao nhiêu lần gục ngã do tội lỗi, chúng ta vẫn có quyền hướng về hạnh phúc tương lai đang chờ ta. Hạnh phúc đó lệ thuộc vào ta, khi trên hết mỗi người đừng đánh mất trước lòng thương xót của Thiên Chúa, đừng đánh mất trước sự quảng đại ban ơn tha thứ của Ngài. Thiên Chúa không bao giờ từ chối chúng ta khi chúng ta đặt hết niềm tin vào Ngài. Vì Thiên Chúa không nỡ lòng bẻ gẫy cây sậy đã dập và cũng không nhẫn tâm dập tắt tim đèn còn khói.


Hạnh phúc là điều ai cũng mong muốn. Thế nhưng hạnh phúc Thiên đàng thì con người lại càng khao khát và mong muốn hơn, và Thiên Chúa rất mong chúng ta có được hạnh phúc đích thực này.


Chúng ta sẽ có hạnh phúc khi chúng ta biết trở về cùng Thiên Chúa biết đặt tất cả lòng cậy trông vào ơn tha thứ vô tư của Thiên Chúa. Nói chung ta không được phép thất vọng về lòng thương xót và ơn tha thứ của Thiên Chúa.


Hãy nhớ rằng Chúa chỉ dựng lên chúng ta một lần, nhưng ơn tha thứ cho những người trông cậy nơi Chúa thì Ngài vẫn tha thứ mãi, tha thứ vô điều kiện. Như vậy đón nhận ơn tha thứ của Chúa thường xuyên nơi Bí tích giải tội, hay trong những ngày còn lại của mùa chay thánh này, sẽ là lời minh chứng để nói lên tâm hồn chúng ta còn co hy vọng và tin tưởng nơi ơn tha thứ của Chúa hay không?.

CHÚA ĐANG KHÁT KHAO MONG ĐỢI
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Jude Siciliano, OP

Thưa quý vị, có ý kiến cho rằng bài dụ ngôn người con hoang đàng của Phúc Âm hôm nay, hỏng bét về mặt pháp lý. Chúng ta phải sửa lưng tác giả mới được. Nếu cứ theo ông khuyên bảo mà mở cửa đón tiếp kẻ giết người, trộm cướp, hoang đàng thì thế giới này sẽ ra sao? Xã hội này còn thể thức nào nữa không? Ngày nào người ta cũng chứng kiến tội phạm ghê gớm vậy mà cứ để cho họ xổng chuồng thì ai còn có thể sống nổi? Xã hội toàn những kẻ đòi quyền lợi mà không hề lãnh trách nhiệm, thì chắc chắn nhân loại rơi vào hỗn loạn. Vậy dụ ngôn này mang giọng điệu quá nhu nhược, làm thế nào chấp nhận?

Chúng ta hãy nghe người con cả lý giải: Cha tôi đối xử với thằng con ông ấy như vậy, chẳng khác nào tát mạnh vào mặt tôi. Nó hoang đàng bỏ đi, tiêu phí hết tài sản với bọn đĩ điếm, rồi trở về ngon lành, không có hình phạt nào cân xứng, thử hỏi gia phong còn giá trị gì nữa không? Nếu ông nhận nó lại như con ăn, đầy tớ, sau khi nó xin lỗi thì còn có lý và chịu đựng được. Tôi sẽ sai nó đi làm những công việc hạ tiện, bẩn thỉu, nặng nhọc, rồi dần dà cho nó chút của cải, địa vị và như vậy tôi mới hài lòng cho phép nó ở lại nhà. Không nên không phải tôi sẽ tống cổ nó ra khỏi cửa, nó đâu có quyền lợi gì nữa? Đàng này cha tôi lại hồ hởi đón tiếp nó, không một lời trách móc, hạch tội. Lại còn mở tiệc vui mừng, bê béo, rượu ngon, quần áo đẹp, nhẫn xỏ tay, giày mới xỏ chân. Ong hành xử cuồng loạn trước mặt nó! Liệu ông có mất trí khôn rồi không? Liệu ông có điên khùng không đấy?


Hơn nữa qúy vị tưởng tượng hạnh kiểm của người con lớn. Anh ta không rơì khỏi nhà, không hề trái lệnh cha, trung thành và chăm chỉ, lao động sớm tối ngoài cánh đồng, không những công việc của mình, mà còn của thằng em vắng mặt. Làm việc cực nhọc năm này qua năm khác mà cha anh không công nhận, không biểu dương, hay chí ít được một lời an ủi: "Tốt quá con à". Hoặc một chiếc vỗ nhẹ vào lưng, tỏ lòng ưu ái cho thoả tình. Nhưng ông vắng mặt, vắng mặt để làm gì? Để ngày ngày chạy lên đồi cao trứơc ngõ, ngóng trông thằng út hư hỏng? Trời đất, còn bất công nào hơn? Qúy vị tưởng tượng ở trong hoàn cảnh của người con lớn, quý vị sẽ nghĩ sao? Quý vị có cảm thấy bất công và thương hại cho anh ta? Hắn trung thành mà bị coi rẻ. Chắc chắn phản ứng của quý vị sẽ nổi giận bất bình: Như thế là không được, hoàn toàn vô lý, chẳng ai chịu đựng nổi.


Nhiều người có quan điểm như vậy, nhất là trong giới trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm về trường đời. Họ muốn trắng là trắng, đen là đen trong vận hành công lý. Cũng không thiếu những nhân vật trưởng thành suy nghĩ như thế. Nhất là trong giới bảo thủ, cứng nhắc về lập trừơng luân lý, tôn giáo. Thí dụ các Pharisêu, thượng tế, luật sĩ và cả chúng ta nữa. Mặc dù đã được Chúa dạy bảo, đọc và nghe Lời Chúa hằng ngày. Thực ra nếu theo sát hoàn cảnh của dụ ngôn thì người con cả ám chỉ các lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Chúng ta cũng có vài nét Pharisêu trong nếp sống hằng ngày. Cũng như Pharisêu, luật sĩ, kinh sư, thượng tế, chúng ta chi ly tuân giữ lề luật Thiên Chúa, nhưng chỉ bề ngoài, không có tình yêu thúc đẩy bên trong.


Nhưng xin nhớ, đây là dụ ngôn Chúa trả lời các người Do Thái chỉ trích Ngài là ăn nhậu và đón tiếp phường tội lỗi: "Các người thu thuế và các người tội lỗi, đều lui tới Đức Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy những người pharisêu và các kinh sư đều thì thầm với nhau: Ong này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng". Đức Giêsu mới kể cho họ nghe dụ ngôn: Người cha có hai người con trai. Như vậy mục tiêu của Chúa không phải là công lý mà là tình thương và ơn tha thứ. Thể hiện nơi hoàn cảnh của ngừơi con thứ. Liệu hắn có còn được hạnh phúc khi tình thế trở nên tồi tệ? Tiền hết, bơ vơ nơi đất lạ. Bất cứ chuyện chi xảy ra hắn đều gánh chịu hết: rét mướt, đói khát, lầm than, khinh bỉ. Công nhận là hắn đã phạm tội, ích kỷ, vô ơn và vô trách nhiệm. Nhưng hiện tại hắn phải trả giá đắt cho những lầm lỡ đó. Chăn heo là công việc bẩn thỉu nhất đối với người Do thái, bị người ta bóc lột đến tận xương tuỷ, mà không được kêu than. Nhưng hắn phải làm nếu còn muốn sống.


Không phải là hắn không biết đến một kiểu sống khác. Chính miệng hắn đã thốt ra điều ấy: "Biết bao người làm công cho cha tôi được cơm dư gạo thừa, mà tôi đây thì lại bị chết đói". Hắn ngộ ra mình đã làm điều lầm lỗi ghê gớm đối với gia đình, nhất là đối với người cha thân yêu, mà hắn biết rõ tấm lòng của ông. An hận, xấu hổ, tội lỗi nổi đậy trong lương tâm hắn. Hắn quyết định thoát ra khỏi cảnh hiện tại và trở về xin lỗi cha. Tuy nhiên việc trở về đâu phải dễ dàng gì, nó đòi hỏi lòng can đảm và khiêm tốn hết cỡ. Người ta đã nghi ngờ, nói gì, đồn thổi thế nào về hắn, hắn biết rõ. Chẳng phải chỉ đơn giản trở về nhà, hắn còn phải hứng chịu biết bao nhục nhã, cười chê. Nhưng có một phẩm chất lạ lùng trong lòng ăn năn hối hận của hắn. Hắn nhận ra mình đã phạm tội, không chỉ chống lại cha mà còn chống lại Đấng thiêng liêng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa, xin coi con như một đầy tớ của cha vậy". Hắn hài lòng về vị trí đó.


Nhưng ăn năn thống hối suông chưa đủ. Ơn thánh chẳng thể mua bán với tình trạng như vậy. Đúng ra chẳng bao giờ ơn thánh có thể được đưa ra trả giá, bán buôn nơi loài người. Vì thế người cha phải bước tới và từ nét mặt của ông, người con thứ nhận ra tình yêu của cha mình. Hắn biết rằng hắn đã hành động đúng khi quyết định trở về nhà. Và mọi sự đều được thoả đáng. Đối với người cha không cần trách móc, hạch tội. Để mà làm chi, một khi đã là ơn huệ? Điều đáng coi trọng là người con đã chết mà nay sống lại, đã mất nay tìm thấy?


Ai có thể mô tả được nỗi vui của người con thứ trong bữa tiệc mừng hôm ấy? Chúng ta thường phí uổng nhiều thời gian vào việc hối hận. Chúng ta thường ưa làm nô lệ cho tình cảm tội lỗi. Chỉ có một điều thực sự ý nghĩa khi chúng ta trót dại phạm tội, đó là chạy về với Thiên Chúa từ bi nhân hậu, đang chờ đón con mình để ban ơn. Thật dễ dàng cho chúng ta nhất là những kẻ tự phong thánh thiện, đồng hoá mình với người con cả. Xin cứ cho là như vậy đi, kẻo nhiều người tự ái? Nhưng cũng xin nhớ rằng có thể xảy ra là chúng ta tuân giữ mọi giới răn, lề luật nhưng vẫn xa cách Thiên Chúa, Đấng giàu lòng yêu thương. Mặt khác, ai có thể khoe mình không phạm tội? Chẳng hề bẻ gãy giới răn Thiên Chúa? Có bao giờ chúng ta bất trung? Có bao giờ hoang phí ơn lành của Chúa? Có bao giờ đáp trả trọn vẹn ơn gọi của Ngài? Cho nên dụ ngôn chỉ dẫn chúng ta con đường trở về nhà Cha. Nó dạy bảo chúng ta phải làm chi "Tôi sẽ chỗi dậy và trở về cùng cha tôi, nói với Ngài rằng thưa cha con thật đắc tội với Trời và với cha".


Và một khi đã nghiệm ra ơn tha thứ và xót thương của Thiên Chúa, chúng ta thay đổi trái tim và nếp sống như bài đọc 1 tuyên bố: "Hôm nay Ta cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Aicập". Chúng ta dùng của ăn thức uống mới trong đất hứa Canaan. Chúng ta lắng nghe thánh Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2: "Thưa anh em, phàm ai ở trong đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi, mọi sự đều do bởi Ngài, và Ngài trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải". Có đúng là trong dụ ngôn cả hai anh em đều nhận được đề nghị hoà giải của người cha? Người cha đã thân hành ra xin người con cả bước vào nhà ăn tiệc mừng: Mọi sự của cha đều là của con. Như vậy cả hai anh em đều được biến đổi. Người em không trở lại đường cũ nữa, và người anh cả vui vẻ bước vào dự tiệc. Hai anh em làm hoà với nhau qua trung gian và sự thúc đẩy của người cha.


Dưới ánh sáng của dụ ngôn này, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu, Thiên Chúa khởi sự hoà giải với nhân loại qua Đức Kitô. Chúng ta được đón nhận vào nhà Cha. Phúc Am không nói hai người con phản ứng ra sao trước tấm lòng của cha họ. Nhưng chúng ta biết phải làm chi trước tình yêu của Thiên Chúa. Trong bí tích rửa tội, chúng ta được giao hoà với Thiên Chúa và có đời sống mới, đời sống hoà giải. Không ai chối cải được chân lý ấy. Và thánh Phaolô truyền chúng ta phải là đại sứ của Thiên Chúa về hoà giải cho thế gian này: "Thật vậy, trong đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với mình. Ngài không chấp tội nhân loại nữa và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải". Cho nên lời ấy phải là sứ điệp hoà giải của Thiên Chúa trong mỗi người tín hữu, nhất là linh mục, tu sĩ, hàng giáo phẩm. Chúng ta phải phản ánh thông điệp ấy cho thế gian trong tình hình cực kỳ khó khăn cay đắng như hiện nay. Những gì chúng ta làm, gương sáng chúng ta sống phải tỏ ra cho người khác điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta? Trong đức Kitô, cuộc sống của chúng ta phải phản ánh căn tính của mình là sứ giả của Đức Kitô. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề. Ít khi chúng ta hoàn thành nếu không trung thành với Thiên Chúa. Giám mục Helder Camara thường nói: "Tôi luôn cầu nguyện cho người con cả trở lại". Tai hại thay phẩm chất cứng đầu cứng cổ nơi chúng ta tồn tại mãi. Nó giết hại nhiều linh hồn kiêu căng, tự phong mình là hoàn hảo, thánh thiện, không cần hối cải, khinh khi kẻ khác, nhất là các tội nhân.


Đại sứ hay sứ giả nói và làm thay cho quốc gia mình. Họ được trao phó nhiệm vụ đại diện cho tổ quốc, các cấp lãnh đạo xứ mình nơi nước khác và chính phủ của họ. Như vậy chúng ta rất cần nhiều sứ giả đại diện cho Chúa Kitô trong tình hình thế giới hiện nay. Chúng ta cần được Thiên Chúa sai đi để hoà giải thế gian với Thiên Chúa và với nhau, chẳng phải về đàng thiêng liêng là đủ, cả về tình người và các nhu cầu khác của thế giới. Thánh Phaolô khuyên nhủ mọi tín hữu phải là nhân chứng hoà giải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Mùa chay này, các giáo xứ đều tổ chức nhiều buổi sám hối gồm cả bí tích hoà giải. Trong ánh sáng Phúc Am hôm nay, chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hành. Ơ ý nghĩa nào đó, chúng ta đều là người con hoang đàng. Tính chất hoang đàng luôn cố hữu trong mỗi cá nhân, cách này hay cách khác. Xin đừng kiêu căng phủ nhận. Cho nên mọi người đều cần đến ăn năn. Naaman cố chấp nói: Các con sông của Syria không tốt hơn sao? Nhưng chỉ có dòng nước của sông Jordan mới tẩy cho ông sạch bệnh phong cùi và trả lại da thịt ông tươi đẹp như đứa trẻ con. Ơn thánh của toà cáo giải còn mạnh mẽ hơn. Chúng ta hãy năng tắm gội trong dòng nước ấy để đựơc tha thứ và bình an. Chúa Giêsu nói với Phêrô: Nếu thầy không rửa chân cho anh, anh chẳng được dự phần với thầy. Bí tích rửa tội cho phép chúng ta dự phần vào sự sống của Đức Kitô. Chúng ta phải năng xưng tội để tẩy sạch linh hồn, ngõ hầu nhận lãnh sự sống của Chúa đầy đủ hơn qua Mình và Máu Thánh Ngài.


Đức Giáo Hoàng Piô XII thường ca tụng bí tích hòa giải. Ngài nói : Nó mang lại khiêm tốn, tự biết mình, lướt thắng thói xấu, tẩy sạch lương tâm, ban ơn thánh và lớn lên trong đàng thiêng liêng. Đức thánh cha quên mất một điều: Phát triển tình yêu, lòng tha thứ và ơn hoà giải với mọi người. Lời tha thứ của bí tích hoà giải không phải là cầu xin mà là "Vậy tôi tha tội cho anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Một lời tuyên bố thẳng thắn, cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa. Cộng đồng chấp nhận và thực hành. Do đó cộng đồng trở thành sứ giả của Thiên Chúa về vấn đề này. Cộng đồng nhân danh Thiên Chúa nói tha thứ, hoà giải với hết mọi người, mọi dân tộc, quốc gia. Dụ ngôn hôm nay còn bỏ ngỏ, chưa có kết thúc, chưa rõ sự đáp trả của hai người con. Cho nên chúng ta phải hoàn thành nó bằng câu chuyện đời mình: Làm hoà với Thiên Chúa, với anh em và trở nên sứ giả về lòng Chúa xót thương. Lúc ấy mùa chay của chúng ta mới có ý nghĩa. Amen.

NGƯỜI CHA NHÂN LÀNH
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
Thiên Chúa là Cha đầy lòng nhân hậu, hiền từ, luôn chạnh lòng thương xót đối với mọi người, đặc biệt là đối với những tội nhân. Lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa đạt tới tuyệt đỉnh nhờ Chúa Giêsu. Tin Mừng của thánh Luca 15, 1-3.11-32 đã được Chúa Giêsu bầy tỏ rõ ràng lòng yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa qua dụ ngôn:" Người con hoang đàng".

Dụ ngôn :" Người con hoang đàng " hay " Người Cha nhân từ " nói lên tính nhân hậu của một người cha, người cha rất đỗi hiền từ, nhân hậu, luôn tôn trọng tự do của con cái, sẵn sàng trao ban tài sản cho người con thứ. Người con thứ hai đã có trong tay một gia tài tương đối lớn. Anh đi xa phung phí tất cả tiền tài, vàng, của quí giá cha mình đã chia cho mình ( Lc 15, 13 ).Giờ anh không còn gì, nên quay trở về với cha. Theo sự thường, khi trở về, anh sẽ gặp khó khăn, bị trách móc, bị khinh chê. Nhưng không, anh về nhà, người cha ấy cũng không trách mắng, la rầy, trừ khử. Trái lại " Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để "( Lc 15, 20 ). Lòng nhân hậu, hiền từ, thứ tha đã khiến ông quên hết mọi ưu phiền, quên hết mọi lỗi lầm, tội lỗi của đứa con mất dậy, mà chỉ còn thấy sự hiện diện của đứa con đáng thương mà bao ngày ông đã mòn mong chờ đợi. Người con mà ông tưởng:" Đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy"( Lc 15, 32 ). Do đó, ông truyền cho đầy tớ:" Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo mà làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng"( Lc 15, 23 ). Đúng là một cuộc tiếp đón tưng bừng, nồng hậu, ngoài dự đoán, ngoài sức tưởng tượng của anh.

Người con cả ở đồng trở về, chẳng những không vui mừng, phấn khởi mà còn nổi giận, phiền trách cha già, khiến người cha phải chịu đựng, nhẫn nhục ra tận cổng nài nỉ, van xin cậu và mời cậu vào nhà vì :" Tất cả những gì của cha đều là của con " ( Lc 15, 31 ).

Cái trớ trêu của đoạn Tin Mừng này là người con cả đáng lẽ phải có tâm tình như cha, phải vui mừng, phải hân hoan, phải ăn tiệc mừng vì em của anh chết nay đã sống lại, đã mất nay lại tìm được. Đáng lẽ anh phải có thái độ nhân từ và lòng yêu thương vô biên của người cha vì anh và em đều cùng máu thịt với mẹ, với cha. Anh không vào nhà, không vui mừng rạng rỡ vì anh không thể tha thứ lỗi lầm của em, anh sợ đặc quyền đặc lợi của mình bị xâm phạm, anh không thể hiểu được lòng tốt của cha mình. Hoá ra từ xưa đến giờ anh sống trong nhà với cha nhưng lại như người ở ngoài, anh không hề thông cảm với em, không coi em là em, cùng dòng máu với mình mà gọi em là " đứa con của cha". Anh chỉ ích kỷ, keo kiết lo cho quyền lợi của mình, lo cho đời sống riêng tư của mình. Anh là đại diện cho những kinh sư, biệt phái, Pharisiêu, tư tế thời Chúa Giêsu, luôn tự mãn về cách sống đạo, về nhân đức của mình. Anh muốn cho kẻ lỗi lầm phải chết và không được cứu thoát. Do đó, cả người con cả, cả người con thứ đều phải thống hối, đều phải ăn năn, quay trở về với cha, trở về với Chúa nhân từ, bao dung, tha thứ.

Dụ ngôn:" Người con hoang đàng" nói lên tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa đối với mọi người, đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta là kẻ tội lỗi.


Trở về với cha là cảm thông với người em lỗi lầm và cảm thông với tất cả anh em cùng một cha trên trời.


Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết cảm thông với những yếu đuối, lỗi lầm của anh chị em chúng con như Chúa đã tha thứ và yêu thương chúng con
. Amen.

CHÚNG TA PHẢI ĂN MỪNG HOAN HỶ
Lc 15,1-3.11-32
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Trên đường lên Giêrusalem để hoàn thành sứ mạng Chúa Cha trao phó, không ít lần Chúa Giêsu gặp phải những chướng ngại trên đường do bè phái Pharisêu và Kinh sư gây nên. Nhận thấy những người thu thuế và những người tội lỗi tuôn đến lắng nghe giáo huấn của Chúa, lòng căm tức của những ông "kẹ" này đối với Chúa Giêsu như càng thêm lửa, không dám nói thẳng, chỉ lẩm bẩm chê bai cái ông Giêsu này tại sao lại đi kết thân với những hạng người ấy- điều mà không một vị tư tế Dothái nào dám làm, vì sợ ra ô uế! Để trả lời cho những ta thán lẩm bẩm này, Chúa Giêsu đã kể cho họ liên tiếp ba dụ ngôn xoay quanh chủ đề nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa nhật hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta suy niệm một trong ba dụ ngôn đó- dụ ngôn người cha nhân hậu.

Chúng ta hãy bắt đầu với người con thứ. Trong truyền thống Đông phương, một người con hay một ai đó chỉ có thể thừa hưởng tài sản của bố mẹ hay của một người nào đó khi và chỉ khi bố mẹ hoặc người đó qua đời, lúc đó, có thể nói, quyền thừa kế mới hiệu lực. Người con thứ hẳn phải biết điều này. Thế nhưng anh đã bất chấp tất cả, đòi người cha phải chia tài sản cho bằng được, điều đó cho thấy trong thâm tâm, anh ta đã xem người cha như đã chết, không còn hiện diện trên cõi trần này nữa, có chăng đó chỉ là cái bóng, "cản mũi kỳ đà" mà thôi.


Đạt được mục đích. Có được số tài sản cha chia, người con thứ nhanh nhảu ra đi. Thế là từ nay, như chim xổ lồng, thoát sự kiềm kẹp, tự do trác táng với túi tiền lúc nào cũng rủng rỉnh cùng chúng bạn vui suốt đêm thâu. Cái cách tiêu xài kiểu ấy thì đến núi cũng phải mòn huống nữa là... Tuy nhiên vấn đề không chỉ dừng lại ở đấy. Chúng ta thấy người con thứ cách nào đó, đã rơi vào tình trạng suy đồi về mặt luân lý vì lẽ niềm vui thú của anh ta là ở chỗ có tiền và ra sức hưởng thụ.


Một khi coi thường nền luân thường đạo lý, con người dễ dàng sa lầy hơn trên con đường mà hắn đang theo đuổi. Hơn ai hết, người con thứ giờ đây mới cảm nghiệm được thế nào là tình cảnh "còn tiền còn bạc còn đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi", không còn tiền thì bầu bạn cũng cao chạy xa bay, để lại anh ta bơ vơ cùng với nạn đói xảy đến. Không tiền, không bạn, túng quẫn người con thứ dường như tự buộc mình hay nói đúng hơn là rơi tiếp vào tình trạng của người suy thoái về phương diện địa vị xã hội. Thật vậy, đang ở trong tình trạng của cậu ấm cô chiêu có người hầu kẻ hạ thì nay phải rơi vào cảnh làm đầy tớ cho người khác.


Chưa dừng lại ở đó, người con thứ lại tiếp tục làm cho chúng ta kinh tởm khi anh ta chấp nhận đi chăn heo cho một người trong làng chỉ vì đói. Đối với chúng ta, việc chăn heo là chuyện hết sức bình thường, nhưng với người Dothái không đơn giản như vậy. Trong Dothái giáo, heo là một con vật ô uế và đi chăn heo tức là đi vào con đường cùng của sự sa đoạ. Chấp nhận công việc này, tức là người con thứ để mình rơi vào tình trạng của người suy thoái về niềm tin Dothái giáo. Như thế là, cùng với tình trạng suy đồi về luân thường đạo lý, suy thoái về địa vị và nay niềm tin tôn giáo cũng mai một, người con thứ đã tự chuốc lấy tình trạng của một con người ở ngoài xã hội, cắt đứt mối quan hệ với dân tộc, với tôn giáo và gia đình.


Trong cảnh khốn cùng như thế, người con thứ hồi tâm. Mừng cho người con thứ vì biết hồi tâm nhưng cũng trách anh ta vì động thái của việc hồi tâm không có gì khá hơn. Thật vậy, lý do của việc quyết tâm trở về nơi người con thứ chỉ là vấn đề giải quyết cái đói, vấn đề bao tử chứ không phải vì anh ta yêu thương gì người cha đang ngày đêm mong chờ anh trở về. Tuy nhiên, cuối cùng anh cũng đã trở về...


Người cha trong dụ ngôn hẳn phải một phú hộ giàu sang, đầy quyền lực và oai nghi đúng với đặc điểm của một phú ông miền Đông phương. Đứng trước sự ngông cuồng của người con thứ, người cha đã chia gia tài cho các con không phải vì ông nhu nhược mà vì ông tôn trọng quyền tự do của con. Ngày người con thứ ra đi cũng chính là ngày ông bắt đầu ngóng chờ với niềm tin sẽ có ngày con ông trở về. Quả đúng như vậy. Mặc dù tuổi già sức yếu, người cha vẫn nhìn ra người con từ rất xa. Có thể nói chính ông đã phá tan dáng vẻ oai nghi đường bệ của một phú hộ Đông phương để hồ hởi chạy ra với người con tựa như trẻ thơ mong mẹ về.


Nổi mừng vui cũng như hàng loạt mệnh lệnh dồn dập của người cha làm cho chúng ta có cảm nghĩ hẳn ông đang chuẩn bị tiếp đón một nhân vật quan trọng. Mà không quan trọng sao được khi ý nghĩa của những mệnh lệnh trên hàm chứa một tình yêu vô bờ bến ông dành cho người con "phá gia" trở về mà không một ngôn từ nào có thể diễn tả hết được. Chiếc áo mới nhất mà ông mặc cho người con hẳn phải là chiếc áo dành cho ngày Đại lễ. Bởi chỉ có ngày Đại lễ, dịp lễ hội, người ta mới mặc áo mới, mới có dịp để chưng diện mà thôi. Chưa dừng lại ở đó. Chúng ta biết rằng đối với người Dothái, chiếc nhẫn không chỉ là kỷ vật, là món đồ trang sức, không chỉ là biểu trưng cho tình yêu mà nó còn là cái ấn đóng dấu nhằm xác nhận tư cách của một người con và đồng thời cũng xác nhận tư cách của một người được thừa hưởng quyền kế thừa tài sản. Như thế, bằng việc xỏ nhẫn và xỏ dép vào tay chân của người con, người cha trong Tin mừng đã xác lập lại mối tương quan cha-con, đồng thời cũng xác lập lại quyền thừa kế và trả lại quyền tự do cho nó - điều mà người con thứ không hề nghĩ tới. Chưa hết, người cha còn ra lệnh giết bê đã vỗ béo để ăn mừng cho sự trở về này. Như thế đã rõ, bê chỉ vỗ béo để chờ dịp Đại lễ. Ngày người con trở về và người cha đã hạ bê béo để ăn mừng chẳng phải là dịp Đại lễ mà từ lâu ông hằng ôm ấp mong chờ để có được ngày hôm nay sao?


Nếu chúng ta vui mừng với sự kiện người con trở về và trân quý trước lòng bao dung và yêu thương vô bờ của người cha bao nhiêu, chúng ta lại càng thương cho người anh cả bấy nhiêu. Thật vậy, người anh cả, cách nào đó đã đại diện cho những người Pharisêu và Kinh sư mà Chúa Giêsu muốn nhắm tới. Người anh cả không biết rằng được ở với cha, được sống dưới tình yêu thương của cha là một hạnh phúc, trái lại anh đã xem đó là một gánh nặng, một sự cản trở và đè nén; cái đích của anh nhắm tới là phần thưởng, là tiền công, là "con dê con" để vui với chúng bạn chứ không phải là tình yêu và hạnh phúc được sống trong nhà cha. Tệ hơn nữa, anh đã lên án, chửi rủa và không thừa nhận đứa em ruột của mình mà lẽ ra anh phải có trách nhiệm với nó. Anh còn thua những người đầy tớ trong nhà - những người đã nhận và thông báo cho anh biết viêc người cha mở tiệc ăn mừng là do "em cậu đã trở về".


Giống như những thủ lãnh tôn giáo, người anh cả tự cho mình là người công chính và dĩ nhiên không cần hối cải ăn năn. Không những thế, anh còn khước từ sự trở về của người em, không chấp nhận lòng sám hối ăn năn của người lầm lỗi. Và, tệ hơn, chính anh là người không chấp nhận lòng bao dung và tha thứ của người cha, không chấp nhận tình yêu thương của Thiên Chúa.


Tin mừng không cho biết cuối cùng thì người anh cả có vào dự tiệc với cha hay không, nhưng như thế cũng đủ để chúng ta nhận ra rằng dù thế nào đi nữa thì người cần trở về, cần phải hoán cải không chỉ có người con thứ, không chỉ có kẻ lỗi lầm mà đó còn là người con cả, là thủ lãnh tôn giáo, là tất cả những ai tự cho mình là công chính, là kiểu mẫu sống đạo. Có thể người con cả hay những người Pharisêu và Kinh sư không bỏ nhà đi hoang, không ăn chơi trác táng như người con thứ hay người tội lỗi, nhưng hãy coi chừng, rất có thể những thái độ và cách hành xử của họ đối với người đồng loại cách nào đó biến họ trở thành những người "xác ở nhà mà hồn đang phiêu du nơi nào", trở thành những đồng bạc bị lạc mất ngay trong chính ngôi nhà mình.


Mùa Chay là thời gian thuận tiện để chúng ta nhận ra những lầm lỗi thiếu sót của mình và mau mắn trở về; đồng thời cũng là thời gian để chúng ta nhận ra lòng bao dung, sự tha thứ và tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa.

CÓ MỘT NGƯỜI CHA
Lc 15,1-3.11-32

Lm Phêrô Trần Thanh Sơn

Trong ngày 8/3, vừa qua, tôi đọc được một câu chuyện nói về tình mẹ rất hay. Đây là một câu chuyện của một người bạn trẻ ở Malaysia.

Suốt đời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ là bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.


Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế đối với tôi? Tôi lơ bà đi và ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên:


- Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!


Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó, đi học về tôi nói thẳng với bà:


- Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!


Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói xúc phạm đó, vì lúc ấy trong lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát khỏi nhà. Không còn liên hệ gì đến mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore. Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và co mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ thưở nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ tôi một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.


Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ, đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận, vừa lo vợ tôi biết chuyện nên hét lên:


- Sao bà dám đến đây làm cho con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay! Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời:


- Ồ tôi xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ! Và lặng lẽ quay đi.


Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ làm cho chúng bạn trên chọc tôi nhục nhã. Bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con sao? Một hôm, tôi nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà. Tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an ninh xã hội đã lo mai táng chu đáo. Tôi không nhỏ lấy được một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi, thư viết:


"Con yêu quý,


Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi viề việc đã dám qua Singapore bất ngờ là cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.


Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn làm hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con.


Con đã nhìn thấy cả thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ. Mẹ yêu con lắm.


Mẹ...".


Tôi không biết sau đó người con này đã làm gì, nhưng khi đọc qua câu chuyện này tôi cảm nhận được 2 điều: tình yêu của người mẹ này thật bao la. Và ngược lại là sự vô tâm, đến bội bạc của người con. Và câu chuyện này phần nào cho thấy được mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.


1. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA :


Bà mẹ này đã yêu con mình đến nỗi cho con cả con mắt và bán tất cả những gì mình có để chạy chữa cho con. Còn Thiên Chúa thì đã ban cho chúng ta Người Con Một duy nhất của Ngài, và chính Người Con Một đó cũng đã sẵn lòng chết trên thập giá để chuộc tội thay cho chúng ta như lời thánh Phaolô trong bài đọc hai: "Đức Kitô,... Đấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".


Mặc cho sự vô tâm và những lời nói xúc phạm của người con, thì người mẹ trong câu chuyện nói trên vẫn tiếp tục yêu con. Lời cuối cùng của bà trong bức thư để lại cho con là: "Mẹ yêu con lắm".


Còn tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thì còn lớn hơn nữa. Tình yêu ấy được Chúa Giêsu minh họa qua hình ảnh của người cha nhân hậu trong bài Tin mừng. Người cha ấy sẵn sàng chia cho người con thứ nửa gia tài của ông. Và người con ấy sau khi đã phung phí hết tài sản của ông, trở về nhà với "thân tàn ma dại" và mở lời xin ông chấp nhận anh ta như một người làm công, thì thái độ của người cha là gì?


Thưa: Ông chẳng nghe gì cả. Ông cũng chẳng nhớ gì cả. Ông chẳng nhớ đến số tài sản mà anh ta đã phung phí. Ông cũng chẳng nhớ gì đến sự ngạo mạn của anh ta khi ra đi khỏi nhà. Hình như tình yêu con đã làm cho ông trở nên "mù quáng". Trước mắt của người cha, chỉ là một người con đáng thương đã trở về. Và đối với ông thế là đủ. Ông không cần nghe lời phân trần của người con. Ông sai bảo đầy tớ lấy áo mới, giày mới và xỏ cả nhẫn vào tay của anh tay như một bảo chứng cho mọi người biết rằng: anh ta không phải là đầy tớ, nhưng là một người con trong gia đình. Ông còn bảo mọi người giết bê béo để ăn mừng ngày trở về của đứa con mà theo cách nhìn của chúng ta là "phá gia chi tử".


Đó là tình yêu của Thiên Chúa, còn thái độ của chúng ta là gì?


2. THÁI ĐỘ VÔ TÂM CỦA CON NGƯỜI :


Trở lại với câu chuyện ở đầu bài chia sẻ, có lẽ nhiều người trong chúng ta thầm trách người con khi anh ta xấu hổ vì người mẹ một mắt của mình. Chúng ta trách anh ta đã vô tâm trước những cảm xúc và tình yêu mà người mẹ đã dành cho anh. Một sự vô tâm đến mức bất nghĩa, bất hiếu đối với mẹ mình. Trách người con này, nhưng nếu nhìn lại mình, tôi và quý ÔBACE đã đối xử thế nào với tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta?


Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta và qua các bí tích trong Hội Thánh, Ngài vẫn tiếp tục chờ đợi để ban cho chúng ta hết ơn này đến ơn khác. Vậy mà thái độ của tôi và của quý OBACE là gì? Phải chăng, chỉ đơn giản là một sự vô tâm? Có lẽ còn hơn thế, đúng hơn là một sự bội bạc. Lắm khi chúng ta tự nghĩ theo đạo làm gì cho mất công, mệt mỏi: Ngày Chúa Nhật phải đi lễ, rồi còn phải sống công chính, không được ăn gian, nói dối, mất đi nhiều cơ hội để thăng tiến ngoài xã hội. Thậm chí, chúng ta còn xấu hổ không dám tuyên xưng rằng mình là một kitô hữu trước mặt người khác khi không dám làm dấu trước bữa ăn nơi công cộng, bỏ qua không khai phần tôn giáo trong các bản lý lịch.


Nếu chúng ta kết án người con đã bất hiếu khi buộc mẹ không được liên hệ với anh ta, thì chúng ta nghĩ gì khi bản thân chúng ta từ chối các giáo huấn của Tin mừng, của Mẹ Giáo Hội? Đó chẳng phải là chúng ta cũng đang cắt đứt mọi liên hệ với Thiên Chúa, với Mẹ Giáo Hội của chúng ta sao?


Vâng, thái độ vô tâm của chúng ta nếu kể ra chắc có lẽ không bao giờ cùng và cũng chẳng bao giờ hết. Do đó, điều mà tôi và quý OBACE cần làm là nghe theo lời của thánh Phaolô: "Chúng tôi van nài anh em hãy giao hòa với Thiên Chúa". Lời van nài này của thánh Phaolô được gởi đến cho từng người chúng ta, cho tôi, cho quý OBACE. Thánh nhân van nài chúng ta đến giao hòa với Thiên Chúa, cụ thể, chúng ta hãy đến với tòa cáo giải. Nơi đó, có một người Cha nhân hậu đang giang tay chờ đón từng người chúng ta đến để ôm ấp, để yêu thương.


Vậy còn chờ gì nữa, xin mời quý OBACE hãy đến để tận hưởng tình yêu đó. Và đó chính là niềm vui mà mẹ Giáo hội muốn nhắn gởi đến từng người chúng ta trong Chúa Nhật Hồng giữa mùa Tím này. Amen

MỞ TIỆC ĂN MỪNG
Lc 15,1-3.11-32
Sr Mai An Linh OP

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa hôm nay là lòng thương xót của Thiên Chúa. Người luôn vui mừng khi thấy con cái hạnh phúc. Dân Israel khi được vào Đất hứa, họ đã cử hành lễ Vượt Qua để nhớ đến lòng thương xót của Chúa, dù họ đã bất trung trong sa mạc nhưng Chúa vẫn thương đưa họ vào đất hứa (Gs 5, 9 - 12). Cũng vậy, khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã không vì thế mà xử phạt, nhưng đã sai Con mình là Đức Kitô đến để giao hòa với Thiên Chúa, Đấng đầy lòng thương xót (2Cr 5, 17 - 21). Điều này được minh họa qua dụ ngôn mà Chúa Giêsu nói với người Dothái (Lc 15, 1 - 3. 11 - 32). Người Do Thái vẫn nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ yêu người công chính và ghét người tội lỗi, trong khi Chúa Giêsu lại đồng bàn với những người tội lỗi nên Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn để biện minh cho cách hành xử của mình. Đồng thời Ngài cũng mặc khải cho họ nhận ra rằng Thiên Chúa yêu thương con người như thế nào, mặc dù họ tội lỗi nhưng khi họ ăn năn trở lại, Thiên Chúa vui mừng mở tiệc.

Bài Tin Mừng đặt chúng ta vào sự lựa chọn, sự phận định. Chúng ta là đứa con nào trong hai người con ? Người con thứ, tự do ra đi, người cha tôn trọng quyết định của anh, nhưng vẫn ngóng trông anh trở về và rồi anh đã tự do trở về. Trái tim người cha dường như vỡ ra, vòng tay người cha như rộng ra, không cần lời xin lỗi, chỉ cần "Con tôi đã chết nay sống lại". Thiên Chúa cũng như người cha ấy. Chúng ta phạm tội, Thiên Chúa vẫn yêu thươong và có lẽ còn yêu thương nhiều hơn, không đợi chúng ta trở nên hoàn thiện mới yêu thương, mà yêu thương khi chúng ta còn là tội nhân. Thiên Chúa chỉ cần chúng ta cảm nhận được lòng nhân từ thương xót của Người. Nếu chúng ta không bao giờ phạm tội, chúng ta sẽ không bao giờ cảm nhận được niềm vui khi được tha thứ.


Người con cả, một người con vâng phục cha, một người con mẫu mực nhưng lại là người con ở ngòai nhà cha. Anh thi hành mệnh lệnh như một người làm công với ông chủ, chứ không phải là một người con. Chính vì thế mà anh không chấp nhận người em của anh "đứa con của cha". Không chấp nhận cách hành xử của cha, nên cũng không chịu vào nhà. Người cha phải nài nỉ anh. Chúng ta thuộc lọai người con nào: Con cả hay con thứ ? Có lẽ những người Kitô hữu chúng ta đều hành xử như những người con cả. Chúng ta tự nhận mình là những người đạo hạnh, giữ luật nghiêm túc, để rồi không chấp nhận những anh chị em sa ngã. Như thế hóa ra chúng ta cũng chỉ là đứa con không chịu vào nhà với Cha. Và có lẽ bài Tin Mừng hôm nay chú ý đến người con này hơn ? Như thế chúng ta thuộc loại người con nào thì cũng cần phải sám hối. Sám hối để trở về và để trở vào, sám hối để hợp nhất với tình yêu, niềm vui và sự sống của cha.


Tuy nhiên để có thể trở về, trở vào, tham dự tiệc mừng tưởng không dễ. Người con cả cần bỏ đi những tự ái, những cái nhìn không đúng; và người con thứ cần khiêm tốn, cần can đảm. Tất cả hãy đứng lên bỏ đi những gì đang cản trở mình. Dĩ nhiên sự từ bỏ ấy gây nhiều đớn đau, nhưng sẽ hạnh phúc biết bao vì nhận ra mình đang có chỗ đứng trong trái tim cha và có anh em con cùng cha bên cạnh. Thật chẳng có gì khó khi trở về với những chiến công hiển hách, với những phúc lộc đầy dư, nhưng trở về với hai bàn tay trắng, với thân xác rã rời là một việc anh hùng đáng khen thưởng.


Người cha của hai người con sẽ vô cùng hạnh phúc khi thấy cả hai người con bên cạnh mình trong bữa tiệc mừng. Người con tội lỗi lúc này làm chứng về tình thương và lòng xót thương của cha. Còn người con công chính thì làm chứng về ân sủng và lòng trung thành của Thiên Chúa. Mỗi người con lúc này s ẽ nhận ra mình quá ư giàu có, có cha, có anh em, có cả gia tài khếch xù là Nước Trời.


Lạy Chúa, lòng nhân hậu của Chúa đã làm cho Chúa quên đi những xúc phạm của chúng con. Xin cho mỗi người chúng con là những kẻ nhận lãnh sự khoan hậu của Chúa, chúng con sẽ có một trái tim quảng đại biết chấp nhận yêu thương nhau. Sẵn sàng tha thứ cho những sai sót lỡ lầm của nhau, để đời sống huynh đệ của chúng con thực sự là sứ điệp bình trong thế giới hôm nay.

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY
Lc 15,1-3.11-32
Công Tạo

Cùng Đọc Với Dân Ítraen

Tv theo mẫu tự, mỗi câu mở đầu bằng một mẫu tự Do Thái. Tv nói về ai? Ai là người được mời chúc tụng Chúa? Những người nghèo, "xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên".Vâng, kẻ bần cùng, người khiêm cung, những tấm lòng tan vỡ được gọi là những người hạnh phúc, trong khi kẻ giàu sang phải bần cùng đói khổ.


Cùng Đọc với Đức Giêsu


Phúc cho kẻ nghèo vì Nước Trời là của họ. Qua những lời Tv như Tv này, chúng ta mới thấy rõ Đức Giêsu đã thấm nhuần lời kinh nguyện của dân tộc Ngài như thế nào... cũng như Mẹ Maria với lời kinh Magnificat. Chúc tụng là tâm hồn của Đức Giêsu. Mỗi một lời kinh nguyện của Ngài đều mang sắc thái của Tv này:
Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. (Lc 10,21).

Thánh sử Gioan đã trích dẫn Tv này khi muốn giải thích sự kiện Đức Giêsu bị đâm thủng cạnh sườn thay vì bị đánh bể ống chân: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh dập (Ga 29,36) để lời kinh thánh được ứng nghiệm. Đức Giêsu người nghèo nhất, mời ta lắng nghe lời tạ ơn của Ngài vì Chúa Cha gìn giữ xương cốt Ngài dầu một khúc cũng không dập gãy. Một lần nữa ta thấy Thánh Kinh mời ta đọc một cách sâu xa. Lời hứa hạnh phúc tràn đầy trong Tv không thể được hiểu như thực hiện ngay tức khắc, mang tính vật chất. Nên nghĩ đến Đức Giêsu khi ta nghe tác giả Tv nói: Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn dầu một khúc cũng không dập gãy. Chỉ sự phục sinh mới hoàn thành lời hứa này.


Cùng Đọc với người thời nay.


Người khốn khổ kêu cầu: Chúa đã nghe. Xã hội hiện nay quan tâm đến người nghèo. Con người muốn có sự bình đẳng trong các tầng lớp xã hội, người ta đề ra nhiều phương án để giúp đỡ những lớp người cùng khổ, các trẻ em không được đến lớp...Cho dù chưa có hiệu quả cao, nhưng cũng là một dấu chỉ của thời đại. Những ai không muốn lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, tự đặt mình bên ngoài chương trình của Thiên Chúa. Kẻ nghèo kêu lên và Chúa đã nhận lời. Nói lên câu này, lắm lúc ta lại bị tố cáo là "làm chính trị". Nghĩ thế là hoàn toàn không biết gì về mạc khải trong Thánh kinh. Kẻ không đứng về phía những người nghèo, chống lại những bất công, bất bình đẳng, không thể được gọi là người đạo đức. Một thế đứng trên thế giới làm cho người ta buộc theo một lựa chọn nhất định nào đó và tìm mọi phương cách thực hiện cho bằng được mục đích ấy. Đừng quên rằng những vấn đề xã hội nóng bỏng thuộc thế kỷ 20 không nằm bên trong những những hệ thống của các nước phương Tây, nhưng là nơi mọi xã hội kỹ nghệ hoá (đã chiến thắng nạn đói) và nơi những nước thuộc thế giới thứ ba (đang kêu cứu vì đói). Hãy đọc lai Tv 33 trong viễn cảnh ấy. Và bạn sẽ có được một sức mạnh lạ lùng để cầu nguyện giữa lòng thế giới.


Lời mời gọi hành động để giải phóng, để cứu thoát, để hủy diệt cái khổ. Làm thế nào khỏi phải giả hình khi ta đọc câu "xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên" nếu không phải là dấn thân với tất cả khả năng của mình để cho người nghèo được bớt nghèo hơn ?

Lời hứa hạnh phúc. Ai muốn hạnh phúc phải lánh xa sự dữ, làm lành, kính sợ Thiên Chúa, tìm kiếm Ngài. Quá ngây thơ, một số người nghĩ thế ! Nhưng sự thật lại đúng như thế ! Những người hạnh phúc thật chính là những người mà Tv nhắc đến. Ban hãy thử sống để cảm nghiệm

GẶP ĐƯỢC LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Lc 15,1-3.11-32
Lm Augustine SJ

Cướp Ngân Hàng
Ngày 25 tháng 2 năm 1954 xảy ra một vụ cướp ngân hàng tại thủ đô Paris của nước Pháp. Một chàng trai tên Phan Đăng Lê (Jacques Flesh) dùng súng trước hết bắn trọng thương một nhân viên ngân hàng, sau đó bắn chết một nhân viên cảnh sát, đồng thời làm một số người qua đường bị thương. May mà nhân viên công lực đã sớm tóm cổ được hắn.

Tại phiên toà, phạm nhân không hề hối hận về tội đã phạm mà còn ngạo nghễ muốn khiêu khích mọi người có mặt. Ban đầu đã có người nghi hắn mắc bệnh tâm thần. Nhưng trắc nghiệm tâm lý cho thấy tên Phan Đăng Lê này chỉ là một đứa con được cưng chiều quá hoá ra mất dạy, chỉ biết ăn chơi đàng điếm. Hắn trơ trẽn và bình thản chấp nhận án tử một cách vô liêm sỉ. Khi bị lên án tử hình, han lớn tiếng nói với mình rằng: "Cho mày đáng đời! Mày phải bước lên máy chém thì hãy tỏ ra là một con người can đảm!"


Quả thật Phan Đăng Lê là con một ông chủ ngân hàng giầu sụ nước Bỉ. Cho tới tuổi 24, cậu muốn gì được nấy, không hề thiếu thốn sự gì. Cậu đã phung phí tuổi xuân xanh trong ăn chơi, lười biếng và ương ngạnh. Học trường nào cũng chỉ được vài ngày hoặc một tuần là bị đuổi. Cậu con nhà giàu này quả thật đã trở nên kẻ vô dụng và cuối cùng trở nên kẻ sát nhân.


Đầu năm 1954 chàng nổi hứng đòi bố mẹ cho tiền để mua một chiếc thuyền buồm hiệu Phi-li-mốt-ka dài 10m, trị giá tới 2 triệu quan Pháp. Chính vì bị bố mẹ từ chối mà chàng đã vác súng đi cướp ngân hàng và bị sa lưới pháp luật.


Gặp Được Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa


Nhưng chuyện chàng thanh niên con nhà giàu Phan Đăng Lê được đề cập trong tờ chia sẻ tuần này không phải vì trở nên kẻ sát nhân cho bằng nhờ ơn Chúa đã trở nên hối nhân. Số là trong ba năm ngồi tù đợi ngày lên máy chém, anh đã say mê đọc Kinh Thánh và đã gặp được lòng thương xót của Thiên Chúa.


Trong mỗi lá thư Phan Đăng Lê viết về cho người vợ trẻ, người ta đều đọc được bề sâu của một tâm hồn đã được đổi mới nhờ gặp gỡ Thiên Chúa. Chàng ý thức rất rõ về tình trạng tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa và xã hội nên rất sung sướng đón nhận cuộc đổi mới đang diễn ra nơi con người chàng. Do đó ba năm chờ chết nơi nhà tù chính là ba năm tràn đầy niềm vui và ơn bình an đối với chàng.


Trong một lá thư viết cho người vợ trẻ, chàng tâm sự: "Em à, trước kia anh chỉ là một cái xác động đậy mà thôi, nay anh thâm tín rằng đây là lần đầu tiên trong đời, anh thực sự sống."


Ánh Sáng Trên Đoạn Đầu Đài


Các thư mà Phan Đăng Lê viết cho vợ được in thành sách dưới nhan đề: "Ánh Sáng Trên Đoạn Đầu Đài". Một ngày trước khi bước lên máy chém, Phan Đăng Lê viết trong thư vĩnh biệt vợ như sau: "Cuộc hành quyết sẽ xảy ra vào ngày mai, lúc 4 giờ sáng. Xin cho ý Chúa được trọn vẹn! Em yêu, trong 5 tiếng đồng hồ nữa anh sẽ được gặp gỡ Chúa Giêsu."


Ngày 2 tháng 10 năm 1957, sau khi chịu Mình Thánh Chúa từ tay linh mục tuyên úy nhà tù, Phan Đăng Lê đã hiên ngang bước đi trong hành lang đưa anh tới máy chém. Năm đó anh vừa tròn 27 tuổi. Bước đường nào đã đưa anh từ con người sát nhân ngang tàng nên hối nhân thánh thiện? Cuộc đời của anh nơi nhà tù đã làm chấn động giới luật sư, trí thức và tôn giáo. Theo nhật báo Rạng Đông của Paris, ngay đội lính canh trước đoạn đầu đài sáng thứ năm hôm đó cũng cho biết: họ chưa từng thấy một tội nhân nào bước lên máy chém với lòng dũng cảm can trường như Phan Đăng Lê.


Điều hết sức đặc biệt là chính Đức Hồng Y Lustiger, tổng giám mục Paris đã cho lập hồ sơ và ký đơn xin phong chân phước cho anh Phan Đăng Lê. Quả thật, nếu mọi sự xuôi chảy anh có thể trở nên "người trộm lành hiện đại" làm cho ý nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay trở nên sống động đối với người thời nay.


Nhưng bài Tin Mừng hôm nay vẫn còn đó như là một thách đố lớn cho mọi người thuộc mọi thời đại, bởi lẽ ai là người cũng cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa, không riêng gì những con người ngang tàng như anh Phan Đăng Lê.


Tình Thương Của Người Cha Đối Với Cả Hai Con


Các nhà bình giải Kinh Thánh đều cho thấy ý chính mà bài Tin Mừng hôm nay nhắm tới là tình thương của người cha đối với cả hai người con, tuy tình thương ấy nổi bật đối với người con thứ. Theo luật Do Thái (Đnl 21,17), gia tài của người bố chia làm ba thì con cả được hưởng hai phần, con thứ được hưởng một phần.


Bình thường gia tài chỉ được phân phát cho con cái sau khi người bố đã qua đời. Luật pháp còn dự trù hình phạt dành cho kẻ rút phần gia tài của mình ra trước thời gian qui định. Dù sao đứa con thứ trong dụ ngôn đã rút hết phần gia tài thuộc về nó. Điều đó cho thấy nó thực sự đã cắt đứt mọi ràng buộc với gia đình. Việc nó rút đi một phần ba gia sản tất nhiên ảnh hưởng tới toàn bộ lợi tức của gia đình và trực tiếp đụng chạm tới quyền lợi của người anh cả; ta có thể hiểu phần nào về lý do tại sao người anh cả không chịu làm hòa với em: đứa em này trở về nhà rồi, nhưng việc phá hoại của nó cứ còn tiếp tục khiến người anh cả bị thiệt thòi!


Dụ ngôn người cha nhân hậu đã trở nên câu chuyện quá quen thuộc với các Kitô hữu chúng ta nên ai cũng có thể sử dụng trí tưởng tượng để khai thác những điều mình lấy làm tâm đắc, nhất là về bước đường suy sụp của người con thứ. Cái cảnh phung phá tiền của, bất kể tới mồ hôi nước mắt của người bố và tiếng tốt của gia đình, điều đó chẳng ai mà chấp nhận. Nhưng với người Do Thái điều ghê tởm hơn cả là cái cảnh đứa con thứ phải đi chăn heo. Chỉ có "quân ngoại đạo" mới làm công việc đáng khinh bỉ đó. Hơn nữa, nó ước ao được ăn thứ đồ heo ăn mà cũng chẳng có mà ăn. Như vậy người con thứ không những bị suy sụp mà còn xuống cấp vì trở nên hèn hạ hơn loài heo là con vật mà ai là người Do Thái cũng ghê tởm!


Chính trong cảnh túng quẫn đó, người con thứ nhớ lại bầu khí êm ấm của gia đình mình. Nó ước ao trở về nhà như người làm công mà thôi. Nhưng cha nó đã đối xử một cách vượt ngoài điều nó có thể tưởng tượng. Chính cha nó đã chạy tới ôm hôn nó khi nó trở về. Người cha nào có để ý gì đến lời xưng thú của nó. Ông chỉ quan tâm tới việc hồi phục lại toàn bộ những đồ ông dành cho người con kể như đã mất mà nay tìm được, đã chết mà nay sống lại!


Muốn Cả Hai Con Được Hạnh Phúc


Câu chuyện như đã tới hồi kết thúc thì lại xảy ra vấn đề mới là người con cả giận dỗi không chịu tham gia bữa tiệc mừng em hoang đàng trở về. Người cha lại phải chạy ra năn nỉ để có sự hoà giải vì ông muốn cho cả hai người con đều được hạnh phúc. Điều làm người con cả bị vướng mắc là thái độ tự mãn mà anh khăng khăng duy trì. Người cha không tranh luận về mọi điều tốt mà người con cả lấy làm tự hào nhưng chỉ năn nỉ xin anh vào để "ăn mừng và hoan hỉ, vì em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất nay lại tìm thấy" (c.32)

HỌC ĐÒI YÊU THƯƠNG NHƯ CHA TRÊN TRỜI
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Phạm Văn Lợi
Tin Mừng chẳng phải là một cánh đồng bằng phẳng, nó có nhiều đỉnh nhô cao. Chúng ta đang đứng trước một trong những đỉnh cao nhất: Lc 15,11-32. Đại văn hào Charles Dickens người Anh gọi đây là câu chuyện hay nhất, hạt ngọc đẹp nhất của Tin Mừng. Người ta thường bảo đó là dụ ngôn đứa con hoang đàng (hay đứa con phung phá), nhưng Đức Giêsu muốn làm nổi lên cả 3 nhân vật: một ông cha già với hai đứa con trai. Mà đặc biệt là nhân vật người cha! Đối với cậu trẻ hơn, các cuộc phiêu lưu của nó không quan trọng, có biết bao cách để lãng phí món quà lớn là cuộc sống khi trẩy đi xa cha mình. Điều cần phải khám phá chính là ông cha, theo cách trình bày của Đức Giêsu. Mọi nhà chú giải đều nói tới điểm đó, các nhà tu đức cũng vậy. Đức Giêsu đã mạc khải Thiên Chúa Cha chính trong trang này, qua hình ảnh ông già này.

1. Tình yêu đón nhận


"Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy"
Người cha đã luôn rình chờ. Ông đã không tự hỏi mình sẽ làm hay sẽ nói gì, một chỉ nghĩ: "Ước gì nó xuất hiện!". Ngay khi nhìn thấy nó, ông đã chạnh lòng thương. Ông chạy ra (không một cụ già đông phương bệ vệ nào lại làm điều này!) và hôn lấy hôn để (ta có thể diễn tả rõ hơn lòng tha thứ nữa chăng?). Ông không nghe những lời xin lỗi (dù thật hay giả. Mà có lẽ là giả, vì câu nói lâm ly đó không lập tức trào ra tận đáy lòng khi tên vô lại gặp lại cha mình, song đã được nó chuẩn bị sẵn từ trước lúc còn ở giữa bầy heo!). Ông không cho nó nói hết câu nó định nói (xin đối chiếu Lc 15,18-19 với 15,21) Ông quá vội vã làm bùng vỡ niềm vui và lễ hội. Áo đẹp nhanh lên! Nhẫn quý nhanh lên! Bê béo nhanh lên! Con ta đã mất nay lại tìm thấy.

Nó đã đi hoang nhưng nay đã trở về! Động tác của người cha trước hết là yêu thương, chứ không phải là chất vấn về những thái độ trái hay phải. Sau đó, người ta sẽ thấy phải làm sao sống trong trật tự, nhưng việc cấp thiết nhất vẫn là yêu thương.
"Yêu thương để giúp bạn biến đổi là cho bạn phương tiện. Bắt bạn biến đổi mới yêu thương là cất hết phương tiện. Phương tiện độc nhất để biến đổi tâm hồn bạn mình là chấp nhận bạn như thuở ban đầu, vì được yêu là điều kiện cần thiết để biến đổi". Lời ĐHY Nguyễn Văn Thuận nhắn nhủ các đôi bạn trong Đường Hy Vọng (số 469-470) cũng đúng trong trường hợp này. Và đó chính là mạc khải lạ lùng mà Đức Giêsu muốn ban cho ta: chúng ta được yêu thương biết là chừng nào! Những ngu dại và thậm chí các tội ác của chúng ta có là gì trước nhiệt tình ấy: "Nó đã được tìm thấy lại". Loài người có thể đánh mất tư cách làm con, nhưng Thiên Chúa chẳng thôi làm cha bao giờ cả. Nếu chúng ta dám tin điều đó, quan hệ tình yêu giữa chúng ta với Chúa Cha sẽ thế nào! Nhưng tại sao ta khó thấy mình được Thiên Chúa yêu như vậy? Phải chăng chính vì khó khăn ấy mà Đức Giêsu đã dài dòng trình bày cho ta hình ảnh đứa con cả? Người hẳn đã tưởng tượng ra dụ ngôn này sau khi đã nghe các lời đả kích của những kẻ công chính trước thái độ Người: "Ông này tiếp đón phường tội lỗi và ăn uống với chúng!" . Đó chính là lời càu nhàu của đứa con cả! Thay vì vui mừng, anh ta lại phản đối, công phẫn. Kẻ khó chịu làm sao!

2. Tình yêu hoán cải


Than ôi, chúng ta biết bao lần cũng ngoan bướng, cũng khép kín, cũng công phẫn trước tình yêu như thế, nhất là tình yêu của Thiên Chúa đối với kẻ tội lỗi, với kẻ ăn năn trở lại trong giờ phút cuối cùng. Chúng ta phê phán thay vì mở rộng vòng tay. Chúng ta lý luận: nếu dung túng tất cả, thì luân lý đạo đức dùng để làm gì? Ra công trung tín với Thiên Chúa thì được lợi gì? Và Thiên Chúa là ai nếu Người chấp nhận tất cả?


Lý luận thế là vì chúng ta đã được huấn luyện cho biết ghê tởm tội lỗi, kết án vô trật tự, chúng ta không muốn trở nên những kẻ chiều ý cách đáng nghi ngờ! Chúng ta nghĩ rằng mình bảo vệ chính Thiên Chúa khi bảo vệ các lề luật Người và khi tỏ ra kiên quyết trong chuyện ấy! Nhưng như thế thì làm sao mở rộng vòng tay? Làm sao bắt chước người cha của dụ ngôn trong cách ông hoàn toàn điên rồ đón thằng con vô lại trở về chỉ vì đói? Là những người công chính, những người muốn nên công chính, chúng ta trước hết nghĩ tới việc phê phán, đưa ra những nhận xét cần thiết, khoanh vùng sự dữ, xem cái gì có thể chấp nhận nổi. Khi tất cả đã được sáng tỏ, sửa sai đầy đủ, ta mới có thể mến yêu.


Nhưng làm thế, chín trên mười lần đều hỏng cả. Đức Giêsu đã nhận xét như vậy khi quan sát các nỗ lực của những kẻ công chính thời Người, Biệt phái và kinh sư: khởi từ sự công chính, họ chẳng đi đến tình yêu. Họ từng cố gắng yêu mến, nhưng vẫn ở trong nhiều giới hạn chật hẹp và tất nhiên cũng nhốt Thiên Chúa trong những giới hạn như vậy:
"Dầu sao ông ta cũng không thể yêu mến các kẻ tội lỗi!" họ nghĩ thế. Phần chúng ta, vì Đức Giêsu đã nói, chúng ta chấp nhận chung chung là Thiên Chúa yêu thương các tội nhân, điều đó thậm chí tiện lợi cho chúng ta hay cho một ai đó khi cần. Nhưng không phải với "tên" này! Tên này, những tên này, Thiên Chúa không thể thương chúng được!

Thương chứ! Đức Giêsu bảo ta: chẳng ai bị loại trừ, và rằng Thiên Chúa đúng là ông cha trong dụ ngôn. Và chúng ta là con của Người khi chúng ta trước hết đặt mình trong lòng thương mến.


Chúng ta không được dung túng tất cả, chúng ta phải chiến đấu chống tội lỗi và cho công lý. Nhưng là trong tình yêu. Tất cả nằm ở đó. Chính bằng cách yêu thương ta mà Thiên Chúa kéo ta khỏi tội, chống lại tội lỗi trong ta, chứ không phải bằng cách nghiến nát hay loại trừ ta.


Xin Chúa giúp chúng ta thực hiện cuộc hoán cải này để thủ đắc được phản ứng tin mừng thuần túy duy nhất và số một: luôn đặt mình trong tình thương mến. Khi tự phán xét chính mình, hãy nghĩ rằng Chúa Cha yêu thương tôi. Khi phải phán xét những kẻ khác, trước hết nghĩ đến việc yêu thương họ như Thiên Chúa yêu thương họ. Vị Thiên Chúa đích thực được Đức Giêsu mạc khải là thế!


Trong ánh sáng tình yêu ấy, tất cả có thể trở về với sự sống.
"Con ta đây đã chết mà nay lại sống! Em con đây đã chết mà nay sống lại!" Người cha sống lại, thằng con thứ đi hoang sống lại. Chỉ duy người con cả rất gương mẫu vẫn ở trong nếp cũ: chết! vì đã khép lòng trước tình yêu!

NGƯỜI CHA NHÂN TỪ
Lc 15,1-3.11-32
Lm. Damien OFM

Người cha nhân từ.
Trong bài tin Mừng của Chúa nhật III Mùa chay vừa qua, Chúa Giêsu thúc dục chúng ta lo ăn năn thống hối. Tin Mừng Chúa nhật IV Mùa chay hôm nay nói đến lý do của lời thúc dục trên là vì Chúa là người cha nhân từ.

Lòng nhân từ của Chúa.

Khi đọc xong bài Tin Mừng nầy, có một người cha phản ứng ngay: "Sao kỳ vậy! Biết nó lấy của ra đi ăn chơi phung phí đến hư thân mà lại để cho nó ra đi, không ngăn cản, la rầy một lời nào cả?"

Lòng nhân từ của người cha được biểu lộ không những trong thái độ tha thứ, chờ đợi để tha thứ mà cả trong thái độ tôn trọng sự tự do của con cái.


Thật vậy, khi đứa con xin chia gia tài và ra đi, người cha dư biết nó sẽ hư; nhưng lạ lùng thay, người cha nầy lại không một lời la rầy trách mắng như các người cha khác thường làm, cũng không một lời can ngăn hay khuyên bảo. Lòng khoan dung của người cha được biểu lộ trước tiên qua sự tôn trọng tự do của con cái, không áp đặt, dù biết can ngăn hay la rầy lúc nầy là điều tốt cho con cái. Thiên Chúa đối với con người, như với những đứa con trưởng thành, và chỉ biết kiên nhẫn chờ đợi. Thái độ của Thiên Chúa có thể làm cho các bậc cha mẹ ngạc nhiên và khó chịu, và họ có thể cho đó là nuông chiều con cái. Con cưng là con hư mà !


Trong lúc đó, những người tội lỗi và thu thuế đang nghe Chuá nói chắc cảm động lắm. Họ dư biết Chúa Giêsu đang nói đến lòng khoan dung của Thiên Chúa đối với họ. Còn những người khác không nhận ra mình là người tội lỗi như Biệt phái và luật sĩ hôm qua và hôm nay, thì dụ ngôn kia chỉ là một câu chuyện nằm trong loạt các câu chuyện
người tốt việc tốt, một người cha đáng khen, chỉ thế thôi. Có chăng thì nó có thể là đầu đề của một bài thơ hay một bài nhạc, nhưng ít khi là đầu đề của cuộc sống.

"Anh em hãy sống nhân từ như Cha anh em ở trên trời là Đấng nhân từ".
Thường lòng nhân từ mới có sức hấp dẫn, và đổi mới được con người, chứ không phải là những lời chỉ trích phê bình hay lên án.

Có đạo mà không có đức.

Thái độ của người anh cả là thái độ tiêu biểu của biệt phái và luật sĩ hôm qua và hôm nay.

"Con không hề trái lệnh cha một điều nào":
Anh tự cho mình giữ đúng luật lệ của đạo hiếu và cũng vì thế mà tự cho mình có quyền giận dữ trước thái độ nhân từ của người cha và quyền lên án người em: "Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đĩ điếm..." Ngày nay cũng thế, có nhiều người đọc kính xem lễ đều đặn, giữ một số việc đạo đức hết chỗ chê, nhưng lại sống thiếu lòng khoan dung. Họ tự hào về đời sống của mình và tự cho mình quyền phê bình, lên án, hay khinh khi những ai không giữ luật bề ngoài được như họ. Một thái độ chẳng Phúc Âm chút nào. Người ta thường nói về họ cũng như về những biệt phái và luật sĩ xưa: đó là những người có đạo mà không có đức, vì thiếu lòng khoan dung. Và chính sự thiếu lòng khoan dung nầy nhiều khi là nguyên nhân chính của những cảnh cơm không lành canh không mặn trong các gia đình, các cộng đoàn, với hàng xóm cũng như trong Giáo Hội và xã hội.

Dụ ngôn người cha nhân từ vừa làm cho ta cảm động trước lòng khoan dung của Thiên Chúa, vừa thúc dục chúng sống khoan dung với kẻ khác, vừa là một bài học về cách huấn luyện cho các bậc làm cha làm mẹ và những người có trách nhiệm đào tạo giới trẻ hôm nay. Nhiều khi sự thinh lặng khoan dung có sức thuyết phục hơn muôn vàn lời nói. Lòng khoan dung đi đôi với lòng kính trọng con người, là đường lối huấn luyện của Chúa Giêsu đối với các Tông Đồ cũng như đối với những người yếu đuối và tội lỗi hôm qua và hôm nay, như bạn với tôi hôm nay vậy.


Bổn phận tôi là cho mượn.

Chuyện xảy ra ở một thôn bản người dân tộc thiểu số.
Có gia đình kia nghèo nhưng đạo đức. Hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn, nên trong nhà không thiếu ăn. Mấy người hàng xóm thiếu, cứ đến vay mượn hoài, và hứa sang mùa tới sẽ trả. Nhưng sự thật thì có một vài người hết mùa nầy sang mùa nọ, chẳng bao giờ trả được. Bà mẹ già trong gia đình không bằng lòng và trách con gái:
- Sao mầy ngu vậy? Bạ ai hỏi cũng cho mượn hết, người ta không trả cho mầy thì mầy lấy gì mà ăn ?
Chị mỉm cười và ôn tồn đáp lại:
- Mẹ nầy, không sao đâu! Mình nghe lời Chúa dạy : cho mượn là việc của mình phải làm, còn trả hay không là việc của người ta mà !...

Nguồn vietcatholic.org

4062    09-03-2013 10:32:38